Đáng nhẽ ra tôi quên mất câu chuyện này. Nhưng chíình vì bài báo này nên tôi thấy phải trải lòng mình lên đây. Duới đây là nội dung bài báo:
——————————————
Nhà văn Tô Hoài và những ký ức của Dế mèn
SGTT.VN – Bước qua tuổi chín mươi, với vẻ mặt nhẹ nhõm, thanh thoát, trông ông như một vị sư già ngồi nhìn dòng đời trôi bằng một tâm hồn thanh thản. Câu chuyện bắt đầu từ thời ông viết Dế mèn phiêu lưu ký cho đến tiểu thuyết Ba người khác chưa được xuất bản chính thức, và kết thúc là chuyện tình yêu.
Nhớ màu áo tím
|
Nhà văn Tô Hoài: “Tôi không phải là người yêu dữ dội, nồng nhiệt” Ảnh: Ngân Hà
|
Những năm tháng ở rừng, ông và Nam Cao cùng thương thầm cô gái Huế dịu dàng, xinh đẹp mang tên một loài hoa mà anh rất yêu: Phùng Thị Cúc, tên thật của nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị.
Không biết làm sao để “gây ấn tượng” với nàng, nhà văn đã viết một tác phẩm dành tặng riêng nàng. Trong đêm mưa tầm tã, anh đưa cho nàng và nói “Cúc đọc thử xem”. Đó là tập bản thảo hơn 200 trang có tên Mưa đêm. Sáng hôm sau, hành quân, anh không kịp hỏi nàng đã đọc chưa. Kể từ đó họ không gặp lại nhau, bản thảo ấy cũng đi cùng nàng, mà anh không biết số phận của nàng và cả của Mưa đêm thế nào. Đó cũng là tập bản thảo duy nhất ông chưa bao giờ đọc lại.
Mấy mươi năm sau, trong một buổi chiều mưa Hà Nội, nhà văn Nguyễn Tuân nhắn bạn: “Điềm Phùng Thị gửi lời hỏi thăm cậu, tớ hỏi sao em không gặp lại anh ấy mà hỏi thăm anh làm gì, cô ấy bảo: Anh ấy giờ đã đi theo K. rồi!, giọng vẫn còn hờn giận, đúng là con gái Huế, giận lâu thế!” Ông nghe mà tim bỗng nhói. Rồi ông nhớ lại tập bản thảo Mưa đêm của mình. Nó cũng không quay trở lại với ông nữa, như những cảm xúc ngày xưa, thơ mộng, bồng bột mà chỉ có vậy thôi.
Đôi mắt ông chợt nhắm lại một giây, rồi mở ra, ông lại nở nụ cười, như thể ký ức đang hồi tỉnh trong ông. Ông kể: “Cô nữ sinh trường áo tím ngày xưa vừa đi học, vừa bán sách, vừa tranh thủ ngồi bên máy khâu vá áo cho người thân. Trông nàng lung linh như một thiên thần nhỏ bé nhưng có thể làm đủ thứ việc trên đời bằng đôi tay thon thả và nụ cười luôn phảng phất trên gương mặt thánh thiện”. Ông lại tiếp tục câu chuyện thần tiên với những hồi ức về tháng ngày trẻ tuổi với những xúc cảm tinh khôi từ trái tim nhuốm màu áo tím.
Rồi mấy mươi năm lại qua đi, một buổi sáng, ông nhận được bức thư đề tên người nhận là “Nhà văn Tô Hoài – hội Nhà văn Việt Nam”. Thế thôi, mà nó cũng đến được với ông. Đọc xong bức thư, ông bần thần, xốn xang. Cho đến cách đây vài năm, khi người đàn bà trường áo tím năm xưa đã qua đời, ông mới viết tặng bà một truyện ngắn, như lời tạ từ đằm thắm.
Dế mèn đã sang trang
Ông tâm sự: “Bố vào Nam từ lúc tôi còn bé. Tôi là con trai độc nhất của mẹ tôi. Hai mẹ con vẫn thường tâm sự với nhau cho đến khi mẹ tôi mất cách đây gần chục năm. Không biết tôi có chịu ảnh hưởng mẹ hay không, nhưng bà là người giúp tôi yêu văn chương, thích đọc sách và mê học. Còn lại là tôi tự học”. Hỏi sao ông không viết tiếp chuyến phiêu lưu của dế mèn và tình yêu của cậu ấy, biết đâu có thêm những chuyện hay như Mưa đêm chẳng hạn, ông trả lời: “Không cần thêm nữa, nếu không sẽ rắc rối. Tôi không phải là người yêu dữ dội, nồng nhiệt. Ngay cả với tình yêu, cũng đúng tính cách bấy lâu của mình, chỉ nhẹ nhàng, thầm lặng thế thôi”. “Vậy, với kinh nghiệm của ông, cuộc đời một con người thực sự cần điều gì nhất ngoài tình yêu?” Ông nhấn mạnh, ngoài tình yêu, cần phải học sống, bắt đầu bằng cách học chữ nghĩa. Biết thật nhiều chữ nghĩa. Ngôn ngữ nuôi dưỡng tâm hồn. Không có cách giáo dục nào bằng cho con trẻ đi học hàng ngày, chỉ dẫn cho con trẻ đọc sách. Thế giới của ngôn ngữ mới thực sự là thế giới cần thiết nhất của con người. “Tôi vốn là người hay ghi chép. Bất cứ đi đến đâu, thấy điều gì tôi cũng quan sát thật kỹ và tỏ rõ mọi chuyện rồi ghi chép cẩn thận, kể cả những từ địa phương, tiếng nói vùng miền… Truyện Tây Bắc tôi viết trong rất nhiều năm và cũng có mười năm ở trên vùng đó. Chỉ cần 100 từ địa phương mà tôi thuộc làu, tôi có thể giao tiếp và viết tương đối chính xác thứ ngôn ngữ người dân tộc H’Mông dùng, khi nào ngờ ngợ thì phải hỏi cho kỹ, tra từ điển, không áng chừng được. Cũng nhờ có ngôn ngữ mà tôi sống cùng họ như người thân. Khi trở về, chia tay tôi là mấy chục đứa con nuôi bé xíu đứng vẫy tay tạm biệt. Những bàn tay nhỏ xíu ấy cũng là một thứ ngôn ngữ của biểu cảm. Con người ta muốn hiểu nhau, yêu thương nhau, hoà hợp với nhau, chẳng lẽ chỉ mãi nhìn nhau như anh câm và điếc? Cuối cùng thì cũng là ngôn ngữ thôi”.
Giờ ông không viết được nhiều do sức khoẻ, nhưng ông vẫn đọc. “Dạo này tôi thích đọc Nguyễn Ngọc Tư cũng như ngày xưa tôi thích đọc sách cụ Hồ Biểu Chánh. Cụ Chánh viết bằng giọng văn thôn dã đọc mà mê dù chỉ là trong tưởng tượng, dù sau này tôi biết cụ ảnh hưởng văn chương Tây nhiều. Cách cụ dùng thứ ngôn ngữ rất quê mùa của miền Nam cũng đủ làm mê hoặc những tâm hồn du mục như tôi. Năm 1942, tôi làm chuyến phiêu lưu vào Nam sau khi viết Dế mèn phiêu lưu ký. Người đầu tiên tôi tìm đến gặp là cụ Hồ Biểu Chánh, lúc đó làm chủ bút tờ Tân Dân. Trông cụ hiền từ, áo bà ba trắng, người thanh lịch, nói chuyện êm ái, dịu dàng. Có lẽ tôi cũng ảnh hưởng một phần tính cách của cụ từ cái nhìn đầu tiên ấn tượng ấy”.
Thắc mắc của độc giả là tại sao không có Dế mèn phiêu lưu ký tập hai, tập ba… phải chăng chàng dế mèn đã thôi phiêu lưu từ độ ấy? Ông trả lời: “Dế mèn đã phiêu lưu và quay trở lại, rồi kết chuyện là những chuyến phiêu lưu mới. Và cuộc đời chẳng như những trang sách mới hay sao!”
bài và ảnh: Ngân Hà
———————————————
Tý nữa tôi quên mất bài viết này. Vì nó thuộc về quá khứ xa xôi rồi. Ngày ấy tôi mới hơn 20 tuổi. Vì ham mê chuyện dế mèn phiêu lưu ký của chú Tô Hoài, tôi đã vẽ lại toàn bộ câu truyên này bằng tranh. Nếu tôi nhớ không nhầm thì năm đó là năm 1970. Những hình tượng đầu tiên sáng tạo chú dế mèn của tôi, sau này cũng thấy xuất hiện trong các phim hoạt họa nước ngoài khi nhân cách hóa côn trùng: Chân tay gập về phía sau như người, chứ không gập về phía trước. Tôi vẽ làm hai tập. Ngày ấy, tôi vẽ truyện tranh theo lối cổ điển. Tức là tranh phía trên và phần lời kể chuyện, thuyết minh phía dưới. Hay nói một cách khác: Tôi chưa chuyển thể hoàn toàn chuyện Dế Mèn phiêu lưu ký của chú Tô Hoài ra chuyện tranh. Lúc ấy tôi nghèo lắm, nên rất hý hửng bộ chuyện này sẽ được in và tôi có tiền nhuận bút. Tôi đến nhà chú Tô Hoài ở gần hồ Hoa Le – theo cách gọi thời bấy giờ – bây giờ là hồ Thiều Quang. Tôi thích gọi là Thiều Quang vì gọi là Thiền Quang chẳng có nghĩa gì cả. Mục đích là xin phép tác giả cho in bộ chuyện tranh này. Tôi còn nhớ chú Tô Hoài lúc ấy tỏ ra rất hồ hởi khi xem bộ chuyện tranh của tôi. Chú nói: “Đã chuyển thể thì không phải xin phép tác giả. Nếu được in thì để tôi viết lời cho bộ chuyện này”. Tôi đồng ý và đến nhà xuất bản Kim Đồng xin được in bộ truyện tranh này. Ngày ấy, tư nhân không tự in và phát hành sách như bây giờ. Tất cả do Nxb chịu trách nhiệm. Chờ lâu lắm. Cuối cùng tôi được Nxb Kim Đồng trả lời như sau: “Nxb Kim Đồng có mục đích phục vụ thiếu nhi, nên giá bán không được quá ba hào một cuốn. Nếu in bộ truyên tranh của tôi – dù san thành hai tập – giá thành cũng bốn hào một cuốn”, nên họ không in. Phải chi ngày ấy, bộ truyện tranh của tôi được in thì tôi là người đầu tiên chuyển thể truyện Dế Mèn phiêu lưu ký của chú Tô Hoài ra truyện tranh, chứ không phải họa sĩ Ngô Mạnh Lân.
Gần ba mươi năm sau, cuộc đời phiêu bạt đẩy tôi vào miền nam…Rồi những thất bại liên tiếp lại xô tôi lên Sài Gòn kiếm sống với đàn con thơ và người vợ cùng tôi chia sẻ những cay đắng của cuộc đời. Nghỉ làm việc ở một Cty Quảng cáo. Tôi thất nhiệp và nghĩ đến một viễn cánh đen tối cho tương lai cái gia đình bé nhỏ của tôi. Tôi ngồi vẽ lại bộ truyện tranh “Dế mèn phiêu lưu ký”. Tôi vẽ ngày vẽ đêm với hy vọng kiếm đồng tiền còm nuôi sống gia đình. Lần này, tôi viết lại kịch bản chuyện tranh theo lối commic Nhật Bản. Tức là thể loại truyện tranh hiện đại nhất hiện nay. Gần 30 năm thăng trầm của cuộc đời, tôi không cầm bút vẽ, nên tay vẽ rất dở. Nhưng hình tượng các con vật thì không thay đổi nhiếu so với ba mươi năm trước. Tôi bán được cả bản thảo cho một nhà sách Hoa Mai – nếu tôi nhớ không nhầm – và sống qua ngày.
Có thể nói, vào thời điểm này, tôi là người đầu tiên ở Việt Nam viết kịch bản truyện tranh theo lối commic Nhật Bản. Sách bán khá chạy, nhưng người đọc chê vẽ xấu quá. Vì đã bao năm bỏ nghề và thể nghiệm cách vẽ truyện tranh hiện đại, tôi chưa quen. Hứng khởi, tôi vẽ tiếp bộ chuyện “Dế mèn phiêu lưu sao Hỏa”, cũng bán hết. Nhưng tranh vẽ xấu quá, so với yêu cầu của truyện tranh commic Nhật.
Một người bạn có phần hùn ở Cty Quảng cáo thấy tôi có khả năng vẽ, bèn rủ tôi làm ăn. Anh ấy bỏ vốn ra, tôi chỉ đạo kịch bản và vẽ tranh. Lúc ấy, tôi chủ trương thể hiện lại toàn bộ kho tàng cổ tích Việt Nam ra truyện tranh để nhằm giữ gìn truyền thống và những giá trị văn hóa Việt trong tâm thức thiếu nhi Việt Nam. Khi mà lúc ấy, những chuyện tranh Nhật Bản tràn ngập. Trẻ em Việt ngày càng xa lạ với kho tàng văn hóa truyền thống Việt. Nhà đầu tư – Anh Đầy – đồng ý. Thế là Tủ sách “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và thế giới” ra đời và được chú ý của dư luận. Một trong những chuyện tranh của chúng tôi được báo Thanh Niên đánh giá là truyện tranh Việt Nam hay nhất năm 1997. Đó là truyện “Viên Ngọc tỵ thủy”, lấy cốt truyện từ “Sự tích con dã tràng”. Nhà xuất bản Kim Đồng chú ý đến tôi và đã đặt vấn đề công tác. Ông Nguyễn Thắng Vu đã gặp tôi đưa ra đề nghị này cùng với ông Bùi Ngọc Liễn là trưởng đại diện Nxb Kim Đồng ở Sài Gòn hồi đó. Họ đã đề nghị mua kịch bản “Dế mèn phiêu lưu ký” của tôi và thể hiện lại bằng kỹ thuật vi tính. Nhưng sau đó, họ cho biết là chú Tô Hoài không đồng ý cho xuất bản truyện tranh này. Thật là một điều buồn và làm tôi ngạc nhiên. Vì ngày xưa, chú Tô Hoài đã nói: “Với tác phẩm đã chuyển thể thì không cần xin giấy phép xuất bản” . Ngày ấy, chú đã đồng ý cho tôi in mà? Hay là tại tôi vẽ dở quá, nên chú ấy không bằng lòng?
Tôi đã kỳ công vẽ lại toàn bộ truyện này. Lần này, do quen tay, tôi vẽ đẹp hơn rất nhiều và hy vọng chú ấy sẽ cho phép tôi in bộ truyện này. Ngày ấy, mẹ tôi còn sống. Mẹ tôi bảo: “Để tao dẫn mày đến gặp chú ấy, tao xin cho”. Mẹ con tôi lóc cóc đến chú Tô Hoài mấy lần. Nhưng lần nào cũng không gặp, mặc dù đã hẹn. Nhưng hình như chú ấy bận lắm. Lần cuối cùng tôi đến một mình theo lời hẹn của chú ấy. Cũng lại không gặp. Nhưng chú ấy để lại cho tôi một bức thư. Trong ấy nội dung thư có đoạn nói rằng:
“Vì nể mẹ anh, nên anh muốn vẽ thì vẽ, muốn in thì in. Tôi sẽ không làm phiền gì anh cả. Nhưng tôi không đồng ý…”
Tôi thật là buồn. Cả một hình tượng mà tôi yêu mến là chú “Dế mèn phiêu lưu ký” mà tôi mơ ước thể hiện và phổ biến dưới một hình thức khác để lưu truyền trong thiếu nhi Việt Nam đã sụp đổ. Mơ ước ấy có từ thời tôi còn trẻ và cho đến tận bây giờ – tuổi đời đã 60 năm. Mỗi lần lục ngăn kéo tủ, thấy bộ chuyện tranh tôi kỳ công viết và vẽ lại từ hơn 12 năm trước theo tôi lang thang qua những bước thăng trầm của cuộc đời. Tôi không khỏi ngậm ngùi cho một ước mơ không thành tựu. Đây là bộ truyện tranh thứ ba tôi vẽ về “Dế mèn phiêu lưu ký” trong cuộc đời của tôi. Phải chăng, chính vì đam mê con Dế Mèn phiêu lưu ấy, nên cuộc đời tôi cũng thăng trầm như con Dế phiếu lưu.
Hay là hãy quên đi những kỷ niệm và đam mê cho cuộc đời thanh thản hơn.

Users Today : 10
Users Yesterday : 16
Users Last 7 days : 188
Users Last 30 days : 643
Views Today : 10
Views Yesterday : 20
Views Last 7 days : 198
Views Last 30 days : 825
Views This Month : 30
Views This Year : 831
Total views : 20556
Who's Online : 0
Your IP Address : 216.73.216.180