ĐỊA LÝ LẠC VIỆT & SỤP ĐỔ CỦA NHỮNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

TRỤ SỞ TỔNG CTY SÔNG ĐÀ.

 

 

 

 

TRỤ SỞ TCTY EVERGANDE

 

 

T

 

 

 

 

 

TÒA NHÀ GRAN PLAZA HANOI.

 

 

 

 

 

 

https://vneconomy.vn/gioi-dau-tu-toat-mo-hoi-vi-nguy-co-vo-no-cua-evergrande-trung-quoc-bom-gap-14-ty-usd.htm

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

TỪ 2018 – KHI THẾ GIỚI CÒN NHIỀU ẢO TƯỞNG.

Thiên Sứ Gàn đã viết về “Chiến Tranh kinh tế Mỹ Trung” và những gì xảy ra cho hôm nay. Thiên Sứ Gàn nhiều lần cũng xác định rằng:
“Cuộc chiến tranh kinh tế Mỹ Trung, là cuộc chiến tranh nhân đạo nhất trong lịch sử văn minh nhân loại, để giành ngôi vị bá chủ thế giới”. Và rằng: “Nếu ngôi vị bá chủ thế giới không thể kết thúc vì ‘Chiến tranh thương mại” thì nó sẽ được thay bằng “Chiến tranh”‘ với đúng nghĩa đen của nó.
Bây giờ đọc lại bài này của chính Thiên Sứ Gàn viết, mới thấy sự ứng nghiệm cho những gì đã phân tích từ 400 năm trước, cho những kẻ ngộ độc xì dầu vẫn còn chưa tỉnh lại.

Bài chép lại trên Fb của lão Gàn.
21 tháng 9, 2018 

Đã chia sẻ với Công khai
Công khai
CHIẾN TRANH “KINH THẾ” MỸ TRUNG – I.
Thưa quý vị và các bạn.
Có lẽ tôi là người bình luận sớm nhất về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ – Trung Quốc và vấn đề Biển Đông. Tiểu luận đầu tiên – từ 2008 – phân tích về vấn đề này, chính là topic “Việt sử 5000 năm văn hiến và vấn đề Biển Đông”, trên dd lyhocdongphuong.org.vn. Những gì đã thể hiện trong tiểu luận này, đều diễn biến chính xác đến tận ngày hôm nay.
Cũng từ rất lâu, tôi cũng xác định rằng: Cuộc chiến thương mại,hoặc chiến tranh Nóng hay Lạnh giữa Mỹ Trung, sẽ là diễn biến của “Canh bạc cuối cùng”, nhằm quyết định ngôi vị “BÁ CHỦ THẾ GIỚI” trong cuộc “Hội nhập toàn cầu”. Đó chính là một chặng đường kết thúc lịch sử tiến hóa quan trọng của toàn bộ lịch sử nền văn minh nhân loại, để nó tiếp tục phát triển sang một giai đoạn mới hoàn toàn về bản thế cấu trúc nền văn minh nhân loại.
Trong cuộc “Hội nhập toàn cầu” này sẽ không có “Đa cực”. Nếu còn khái niệm “Đa cực” thì không thể có vấn đề “hội nhập toàn cầu” – với tư cách là một quy luật tiến hóa của vũ trụ, không thể đảo ngược. Lý thuyết về “Hội nhập toàn cầu” – nhân danh nền văn hiến Việt – là lý thuyết chủ đạo để tôi căn cứ vào đó, xác định tất cả mọi diễn biến các vấn đề thời sự quốc tế, trong đó có cuộc chiến kinh tế Mỹ Trung.
Tất cả mọi hiện tượng phát triển, từ mạng internet, Al,..vv,,,cho đến các lý thuyết khoa học mũi nhọn…vv…đều thể hiện cho quy luật thống nhất toàn thể xã hội loài người của nền văn minh này.
Nói theo ngôn ngữ Toán học của “Nghịch Lý Cantor” – thì lý thuyết “Hội nhập toàn cầu” – nhân danh nền văn hiến Việt -là tập hợp lớn nhất có tính quyết định tất cả mọi sự kiện diễn biến của các sự kiện trong tập hợp của nó.
Bởi vậy, cuộc chiến kinh tế Mỹ Trung phải kết thúc, với “Bên thắng cuộc” và không có đầu hàng cho bên thua cuộc. Bởi nếu, chấp nhận đầu hàng – dưới hình thức một cuộc đàm phán thương lượng nào đó, thì sẽ còn tồn tại “Đa cực”. Cho nên cuối cùng nó cũng phải bị xóa bỏ khi thế giới hội nhập hoàn toàn. Do đó, vấn đề thương lượng – đầu hàng – cũng chỉ là cục bướu của lịch sử và cuối cùng cũng phải cắt bỏ.
21 tháng 9, 2018 

Đã chia sẻ với Công khai
Công khai
CHIẾN TRANH “KINH THẾ” MỸ TRUNG – II
Tiếp theo.
Ngài Đặng Tiểu Bình, khi sinh thời phát biểu:
“Tất cả những nước làm ăn với Mỹ đều giàu!”.
Xét về phượng diện kinh tế thì hoàn toàn chính xác. Nhưng nếu xét một cách toàn diện, bao gồm cả yếu tố cấu trúc xã hội của các nước làm ăn với Hoa Kỳ thì không phải hoàn toàn như vậy. Và ngay cả xét trên phương diện kinh tế làm ăn với Hoa Kỳ, nó còn tùy thuộc vào thứ tự ưu tiên của chính nước Mỹ. Do đó, chỉ có thể nói rằng: Những nước làm ăn với Hoa Kỳ đều có sẵn một yếu tổ cần để phát triển thì chính xác hơn. Bắt đầu từ kế hoạch phục hưng châu Âu (European Recovery Program – ERP) của Hoa Kỳ. Kế hoạch này đã sản xuất ra hàng loạt các siêu cường, phục hồi và phát triển sau thế chiến thứ II. Mà trước đó, họ tan nát như cái mền rách vì chiến tranh. Ngay sau đó là sự “Phát triển thần kỳ của Nhật Bản”, vốn được ca ngợi như một nỗ lực vượt trội của nước Nhật. Nhưng tất cả các nhà phân tích đều quên, hoặc cố tình quên một siêu cường đứng đằng sau: chính là Hoa Kỳ. Các hiện tương thần kỳ về kinh tế, thành Rồng, thành Hổ như Singapore, Nam Hàn…đều tương tự như vậy. Thậm chí, trong chiến tranh Lanh, cả nước Hy Lạp được bơm tiền và tạo điều kiện để làm hàng mẫu cho sự thịnh vượng chung của nền kinh tế tự do là Hy Lạp. Nước này cũng rất phát triển. Tất nhiên, sau chiến tranh Lạnh kết thúc. Nước Hy Lạp trở về với thực trạng của nó và cũng đang khủng khoảng.
Sự khủng khoảng của Hy Lạp là một ví dụ cho luận điểm của tôi, về việc làm ăn với Huê Kỳ chỉ là một yếu tố cần, và không phải duy nhất cho sự phát triển kinh tế.
Sự phát triển kỳ diệu của Trung Quốc lục địa cũng không nằm ngoài yếu tố này. Hàng xuất khẩu của Tàu ồ ạt tuồn sang Hoa Kỳ và là thu nhập kinh tế quan trọng – với thăng dự giá trị thương mại hàng trăm tỷ Dollar – để đất nước này phát triển. Trong đó có cả hàng ..”giả” (Vừa rồi trên Fb, có một vị nào đó nói, bên Hoa Kỳ không có hàng giả. Vớ vẩn! Bạn nào muốn mua hàng tiêu dùng giả của bất cứ hãng nào, lão đây mua cho, kể cả bằng lái xe. Lão bán giá inbox + ship. Hì).
Tất nhiên, nó không phải là yếu tố duy nhất, như tôi trình bày ở trên. Mà nó còn do quyết tâm của các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh với tài năng của họ.
Nhưng tôi vẫn cần xác định rằng: Làm ăn với Hoa Kỳ – và tùy thuộc vào thứ tự ưu tiên của họ – là một yếu tố CẦN. Còn nếu quốc gia nào, tuy làm ăn tích cực với Hoa Kỳ, nhưng không phải là đối tác ưu tiên và với một xã hội quản trị, tổ chức lòng lẻo thì wên nhanh nhé!
Tuy nhiên, ngay cả những xã hội có tổ chức và quản lý xã hội tuyệt hảo thì khi làm ăn với Hoa Kỳ – trong tư thế ưu đãi Tối huệ quốc – họ có thể đưa đất nước của họ phát triển thành Rồng, thành Hồ – như đã nêu trên – thì một yếu tố cực quan trọng tạo ra một mối tương tác quyết định, lại chính là sự phụ thuộc vào nền kinh tế của Hoa Kỳ.
Những chính trị gia ở những quốc gia này, thường phát biểu một câu an ủi và sặc mùi chính trị cho sự bình yên nơi trần thế, là “Những nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau”. Nếu nói “toạc móng lợn” thì không hề có “những nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau”. Mà là nó lệ thuộc vào nền kinh tế Hoa Kỳ. Ngoại trừ tất cả thế giới này: “Một! Hai! Ba”. Nghỉ chơi với Hoa Kỳ ra! Nhưng điều này không bao giờ xảy ra, cho dù Đức Giáo Hoàng nhân danh Chúa kêu gọi cả thế giới tẩy chay Hoa Kỳ. Nó giống như việc tìm kiếm người “Ngoài Trái đất” vậy.
Cần xác định ngay rằng: Sự phát triển thành siêu cường thứ II trên thế giới của Trung Quốc lục địa, gần như gắn chặt với giao dịch thương mại với Hoa Kỳ – một đất nước chiếm 50 % tổng sản phẩm thế giới. Đó là bản chất của vấn đề. Nhưng có vẻ như Bắc Kinh không nhận ra điều này. Hoặc hiểu sai vấn đề.
Phân tích về việc này, tôi đã nói từ 2008 – trong topic “Việt sử 5000 năm văn hiến và vấn đề Biển Đông”. Và việc làm ăn Tối huệ quốc với Hoa Kỳ, đó là phần tiền công mà Bắc Kinh được hưởng, vì đã ủng hộ Hoa Kỳ trong việc gây sức ép khiến Liên Xô sụp đổ. Nhưng điều đó không có nghĩa là Hoa Kỳ “chai hia” cho Bắc Kinh cái thế giới này.
Ngài Đặng Tiểu Bình đã phát biểu: “Không bao giờ có ý định làm bá chủ thế giới” (Xem hình minh họa kèm theo – Nguồn Fb Nhà báo Nguyễn Huy Cường). Và ngay cả các phát biểu của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh gần đây, cũng lặp lại tương tự. Nhưng đấy là chuyện “nói chơi cho vui”. Và bản thân ngài Đặng cũng vẫn nhắc nhở các thế hệ kế tiệp sự nghiệp của ngài về việc “Giấu mình chờ thời”. Điều này, có nghĩa là: “Khi gặp thời” thì hãy alaxo, xung phong lên, mần cái bá chửi thế giới!
Về lý thuyết, Bắc Kinh vẫn ra rả :”Phát triển trong hòa bình”. Trước hết lão Gàn xin: “Cảm ơn tư tưởng tốt!”. Nhưng với các chính khứa quốc tế, đầu có những cục sạn to đùng, với thói quen nghề nghiệp, họ thừa biết bản chất của chính trị nó chân thật đến mức nào. Nên họ ko thể tin được cái “Trỗi dậy trong hòa bình” của Tàu. Vào năm 1999 – một quả rocket bắn nhầm vào Đại sứ quán Bắc Kinh ở Kosovo, như một lời quảng cáo. Nhưng lúc đó, có vẻ Hoa Kỳ và Đồng minh không nghĩ rằng tình hình lại tồi tệ đến mức như vậy.
Tuy nhiên, mọi chuyện khác hẳn với những diễn biến sau đó.
Còn tiếp.

21 tháng 9, 2018 

Đã chia sẻ với Công khai
Công khai
CHIẾN TRANH “KINH THẾ” MỸ TRUNG – III
Tiếp theo.
Thưa quý vị và các bạn.
Phần trước tôi đã trình bày về bản chất của việc trao đổi thương mại với Hoa Kỳ – một nước chiếm đến 50% sản lượng kinh tế toàn cầu – luôn luôn là có lợi trong việc phát triển vì một thị trường quá lớn. Với một nước kém phát triển, thì chỉ cần những hiệp định thương mai song phương với Hoa Kỳ đủ làm giàu. Quan điểm của tôi, chưa cần đến WTO, hoặc TTP đối những nước kém phát triển. Với những nước phát triển, sản lượng sản phẩm dư thừa lớn, mới cần đến thị trường rộng hơn. Do đó họ mới cần đến các Hiệp định đa phương trong các tổ chức như WTO, hoặc TTP.
Trung Quốc lục địa, một đất nước đông dân, tổng sản lượng sản phẩm rất lớn – Mặc dù chia theo đầu người có thể rất nhỏ. Do đó, việc thương mại song phương với Hoa Kỳ và Đồng Minh sẽ thu lợi – ít nhất cho sự phát triển bình thường. Chưa nói đến thặng dư giá trị lên đến hàng trăm tỷ Dollar. Và chưa nói đến các dòng đầu tư từ Hoa Kỳ và Đồng minh. Với tổng sản lượng quốc gia lớn như vậy, họ cần đến các hiệp định đa phương về thương mại.
Sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc trong nhiều năm qua, tôi có thể dự đoán – bởi tính quy luật tất yếu – rằng: Nó chỉ có thể phát triển ở những thành phố trọng điểm và những ngành khoa học mũi nhọn, hoặc cần thiết , như Quốc phòng… Nhưng chưa thể là một sự phát triển toàn diện.
Do đó, lúc ấy, sự phân biệt giàu nghèo sẽ tăng lên, mâu thuẫn xã hội sẽ xuất hiện sâu sắc hơn nhiều so với việc cả nước đều nghèo như nhau. Chưa nói đến các mâu thuẫn xã hội sẽ phát triển vì những chuẩn mực xã hội cũ bị phá vỡ, chuẩn mực xã hội mới chưa kịp hình thành, bởi những nhà hoạch định ở cấp thượng tầng. Và đây là một điều rất khó khăn. Nó chỉ dành cho những người lãnh đạo có chỉ số IQ cao và phải đặc biệt am hiểu các quy luật tương tác xã hội, cuộc sống và con người – theo kiểu “Thuận Thiên thừa vận…”.
Một trong những khủng khoảng chuẩn mực xã hội, chính là nạn tham nhũng khủng khiếp đã xảy ra ở Trung Quốc, mà mọi người đọc được qua các phương tiện thông tin đại chúng đều biết rõ.
Đã không dưới một lần, trên ddlyhocdongphuong.org.vn, tôi đã xác định rằng: ngài Tập có thể bắt hết những kẻ tham nhũng, nhưng không thể tận diệt tham nhũng. Bởi chính căn nguyên của nó là sự khủng khoảng chuẩn mực xã hôi.
Đáng nhẽ ra, Bắc Kinh phải tiếp tục ổn định và cân bằng xã hội của họ và tiếp tục “Ẩn minh chờ thời” theo lời khuyên của ngài Đặng Tiểu Bình.
Nhưng tiếc thay! Bắc Kinh đã thể hiện tham vọng của họ quá sớm.
Từ 10 năm trước, một vị Đô Đốc Hải quân của Tàu, đã công khai đề nghị Tư lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, là: “Hãy để Trung Quốc bảo vệ hòa bình thế giới vùng Tây Thái Bình Dương, thay thế cho Hoa Kỳ!”. Tất nhiên câu trả lời không khó đoán là “No! Không bao wờ”. Hì.
Cả một hệ thống chính trị Hoa Kỳ bắt đầu phải báo động vì tham vọng quá rõ của Bắc Kinh. Họ phải quay trở lại Tây Thái Bình Dương với “quyền lợi căn bản”, để đối phó với quyền lợi cốt lõi” của Bắc Kinh ở đây. Nhiều chính trị gia Hoa Kỳ và trên thế giới, cho rằng chính quyền ngài Barak Obama nhu nhược, không quyết đoán. Với cái nhìn của tôi thì hoàn toàn không phải như vậy. Mà thời gian ngài Obama cầm quyền, chỉ là thời gian đệm cho những quyết định cứng rắn của ngài Donnal Trump ngày nay. Nước Mỹ không thể xuất chiêu mà không có sự chuẩn bị. Khi ngài Donal Trump lên cầm quyền, thời gian chuẩn bị đã hoàn tất của chính phủ nhiệm kỳ trước – kể cả việc kiểm tra sẵn sàng của những hệ thống tên lửa chiến lược mang vũ khí hạt nhân, vốn ngủ quên đã hơn 20 năm, kể từ khi chiến tranh Lạnh chấm dứt.
Đến khi ngài Trump lên nắm quyền, thì ngoài việc ổn đinh nền kinh tế Hoa Kỳ thì điều kiện đã đầy đủ để tiến hành bản nhạc giao hưởng bi tráng, mang tên “Canh Bạc cuối cùng”. Nhưng với hơn 200 tỷ Dollar áp thuế lên hàng xuất khẩu, mới chỉ là khúc dạo đầu của bản giao hưởng bi tráng.
Còn tiếp.
21 tháng 9, 2018 

Đã chia sẻ với Công khai
Công khai
CHIẾN TRANH “KINH THẾ” MỸ TRUNG – IV
Tiếp theo.
Thưa quý vị và các bạn.
Lịch sử nền văn minh nhân loại đã cho thấy những cấu trúc xã hội loài người nhỏ lẻ, lần lượt bị thâu tóm trong những tập hợp lớn hơn. Cuối cùng trở thành những quốc gia và những liên bang. Tiếp theo là những bá chủ khu vực – như hai cuộc Đại chiến thế giới I & II. Đến nay là cuộc hội nhập toàn cầu. Tóm lại, sự phát triển của nền văn minh theo đúng quy luật của “Nghịch lý toán học Cantor” với sự phát triển hình tháp. Và nó cũng được phản ánh theo đúng mô hình tập hợp này của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt.
Nhưng, như tôi đã trình bày ở bài trước, Bắc Kinh đã thể hiện tham vọng của mình quá sớm, khiến Hoa Kỳ và Đồng Minh phải giật mình tỉnh ngủ. Và cuộc chiến tranh kinh tế này, chỉ mới là khúc nhạc dạo đầu của bản giao hưởng mang tên “Canh bạc cuối cùng”.
Mục đích cuối cùng của Hoa Kỳ là cấm vận hoàn toàn Bắc Kinh. Hàng Trung Quốc nhập vào Hoa Kỳ, sẽ may lắm là hàng xách tay qua con đường tiểu ngạch. Lúc ấy, mọi người có thể phóng to những xe tải dưa hấu của Việt Nam xuất sang Trung Quốc bị cấm nhập, và những nhà nông và nhà buôn Việt khốn khổ như thế nào, để tưởng tượng một đất nước Trung Hoa với hàng núi hàng hóa không thể xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Trung Quốc có thể nghĩ rằng họ xuất sang những nước láng giềng và vài nước mà họ ảnh hưởng. Điều này, cũng giống như nhà buôn, hoặc nhà nông Việt bán đổ bán tháo dưa hấu vậy.
Những nhà phân tích lạc quan của cả Trung Quốc và nước ngoài cho rằng: Trung Quốc sẽ không thể sụp đổ, dù thua trong cuộc chiến tranh kinh tế này. Bởi tối thiểu họ cũng trở thành một xã hội khép kín và tự phát triển với một dân số bằng 1/ 5 thế giới.
Nhưng đấy chỉ là một thứ phân tích với logic hình thức. Đất nước Trung Quốc không thể tự phát triển với tài nguyên chỉ lấy ở trong nước. Cho nên, khi đã bị khống chế và phong tỏa thì việc mất cân đối và khủng hoảng kinh tế chắc chắn sẽ xảy ra. Một mình Hoa Kỳ chiếm đến 50% sản lượng kinh tế thế giới. Và các siêu cường Đồng minh khiêm tốn là 20 % còn lại. Điều này có nghĩa họ phải chi phối hơn 70 % tài nguyên toàn cầu để phát triển. Đương nhiên, Trung Quốc chỉ có thể tồn tại khép kín, với điều kiện sản xuất trở về thới kỳ 50 năm trước và sự mất cân đối nghiêm trọng về lao động và tài nguyên.
Thật là buồn cười, khi những nhà chiến lược Trung Quốc lục địa ảo tưởng rằng, có thể liên minh với EU và một số Đồng minh của Hoa Kỳ, như Úc để chống lại Hoa Kỳ. Trên thực tế, điều này đã bị từ chối thẳng thừng. Những nhà chiến lược sừng sỏ của những nước này, biết rất rõ mối quan hệ của họ với Hoa Kỳ chặt chẽ, có tính sống còn như thế nào.
Nhưng, dù bị thất bại trong cuộc chiến kinh tế này, và Trung Quốc phải quay về thời kỳ của 50 năm trước với một sự khủng hoảng xã hội trầm trong và những mâu thuẫn xã hôi đạt đỉnh, thì không có nghĩa đế chế Trung Hoa bị sụp đổ ngay.
Vấn đề sẽ không hề đơn giản như vậy.

21 tháng 9, 2018 

Đã chia sẻ với Công khai
Công khai
CHIẾN TRANH “KINH THẾ” MỸ TRUNG – V
Tiếp theo và hết.
Thưa quý vị và các bạn.
Có thể có người cho rằng: Quan hệ Mỹ Trung sẽ không đến nỗi “cạn tàu ráo máng”, đến mức cấm vận hoàn toàn một siêu cường như Trung Hoa; hoặc Hoa Kỳ không có khả năng này. Vâng! Cũng có thể. Nhưng tôi muốn dùng một hình tượng nhằm xác định một cuộc chiến không khoan nhượng. Tức là cuối cùng, mục đích của cuộc chiến kinh tế do Hoa Kỳ phát động, phải dẫn đến một cuộc khủng khoảng xã hội và đẩy những mâu thuẫn xã hội Trung Quốc lên đến đỉnh điểm. Nhiều người lập luận rằng: Hoa Kỳ thiếu tự tin, hoặc sợ Trung Quốc, nên phải ra tay trước. Nhưng vấn đề chính trị quốc tế, không thể mô tả bằng quan hệ tâm lý xã hội ở làng Vũ Đại. Họ quên mất rằng: Hoa Kỳ đã chuẩn bị cho cuộc chiến này lâu rồi. Và Hoa Kỳ là nước mạnh nhất trên thực tế toàn cầu hiện nay. Cho nên, họ không thể lịch sự chào buổi sáng và rất lấy làm cảm ơn, nếu Bắc Kinh tự thỏa thuận giảm kim ngạch xuất khẩu với Hoa Kỳ. “Tiên hạ thủ vi cường”, đây là câu ngạn ngữ của chính người Trung Quốc.
Một sự phân tích sai, do mục đích quảng cáo (Tôi tránh dùng từ tuyên truyền); hoặc hiểu sai do sự hạn chế về tính tổng hợp của tư duy, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng và có thể đẩy cả một quốc gia đến chỗ sụp đổ. Ngay cả thời gian rất gần đây, hẳn một giáo sư kinh tế tên tuổi của chính Trung Quốc, còn tự tin phát biểu rằng – đại ý: Hoa Kỳ không dám gây chiến trannh kinh tế với Trung Quốc và rằng Hoa Kỳ sẽ thất bại. Lập luận của vị này đã đưa lên Fb của tôi. Nhưng rõ ràng những diễn biến dồn dập của sự áp thuế gần đây của ngài Donald Trump, đã cho thấy sai lầm cực kỳ nghiêm trọng khả năng tư duy của vị GS này. Tất nhiên, với những luận điểm sai lầm của một nhà kinh tế nổi tiếng Trung Quốc, đã góp phần rất quan trọng, khiến Bắc Kinh quá tự tin vào sức mạnh kinh tế của mình, nên sẵn sàng phản kích mạnh mẽ với cuộc chiến kinh tế này. Những sự ca ngợi sức mạnh kinh tế của Bắc Kinh và sự dự báo cho những thất bại của Hoa Kỳ, đã kéo Bắc Kinh vào một cuộc chơi, mà tính chính danh thuộc về kẻ mạnh. Hoa Kỳ từ một người chủ động trong cuộc chiến kinh tế, trở thành một nạn nhận buộc phải phản ứng để bảo vệ quyền lợi của mình. Đúng là “Ngu xuẩn công nhiệt tình, trở thành phá hoại”.
Trung Quốc sau khi lôi kéo Đồng minh của Hoa Kỳ hợp tác chống Mỹ thất bại, quay sang kiện Hoa Kỳ lên WTO?! Hơ! Buồn cười thật! Trong khi chính Hoa Kỳ cũng đang muốn rút khỏi WTO. Và ngày xưa, trong men chiến thắng khi Liên Xô sụp đổ, Hoa Kỳ còn muốn giải tán cả Liên Hợp Quốc. Với những hành xử hiện nay, tôi có lẽ không sai lầm khi xác định rằng: Bắc Kinh ko những sai lầm nghiêm trong về chiến lược, mà còn cả sự ngây thơ về các mối quan hệ quốc tế. Bởi vậy, cuộc chiến kinh tế phát triển rất nhanh và không còn thời gian cho hai bên kịp dừng lại. Nó mới bắt đầu vài chục tỷ Dollar, rất nhanh chóng lên hơn 200 tỷ. Và một tương lai gần hơn, sắp lên tới toàn bộ hàng xuất khẩu của Trung Quốc lên Hoa Kỳ. Nếu đến lúc đó, mà những giáo sư, viện sĩ kinh tế hàng đầu của Bắc Kinh, vẫn tự tin về một chiến thắng cuối cùng và được các dư luận viên nhiệt liệt ùng hộ, thì lúc đó sẽ là một cuộc cấm vận hoàn toàn.
Bắc Kinh sẽ không thể sụp đổ, cho dù hàng triệu người xuống đường vì khủng khoảng và mâu thuẫn xã hội. Nhưng đó sẽ là những nguyên nhân, để dẫn đến những lý do khởi đầu một cuộc chiến tranh thật sự, hiểu theo nghĩa cổ điển về khái niệm “Chiến tranh”.
Chẳng ai muốn chiến tranh cả! Từ những chính khách đứng đầu của những siêu cường, cho đến kẻ ăn mày thành Bát Da, nếu được hỏi thì tất cả thống nhất về tính yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nhưng thế giới này, vẫn còn sự đe dọa bởi những cuốc chiến cho dù ngoài ý muốn của con người.
Xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị và các bạn.
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

CHUẨN MỰC XÃ HỘI VÀ KHOA HỌC.

Bài này tôi viết đã lâu, nhưng xem lại nó mới có phần tư liệu và chưa có một hệ thống luận cứ của tôi bàn về vấn đề này. Hôm nay, tôi chỉ thêm mấy dòng này và cái tựa. Phần dưới đây chỉ là tư liệu.
*
Trí tuệ có thể sản sinh những sản phẩm khoa học “cao siêu” nhưng không có nghĩa là nó đủ cao siêu để kiểm soát được những gì mình tạo ra. Điều lo ngại nhất là, nếu thiếu khả năng kiểm soát khoa học cũng gây ra những hệ lụy khó lường về tinh thần xã hội. Việc cấy ghép não trên đầu người, mà Tech Insider nêu trong tương lai, thực ra đã được cân nhắc từ thế kỉ trước, song chưa diễn ra vì còn những lo ngại về đạo đức. Cuối thế kỉ 20, sau khi Robert White, nhà nghiên cứu não người Mỹ cắt ghép đầu khỉ, ông đã ấp ủ giấc mơ ghép đầu hoặc não người. Tuy nhiên, ông đã phải đối mặt với một phạm trù thiêng liêng – linh hồn người. “Không ai lại có ý định đi tìm linh hồn trong lá gan hoặc trong cánh tay. Linh hồn chỉ nằm duy nhất trong cái đầu”, White nói. Cái đầu của người này được lắp vào thân của người kia, vậy cơ thể mới thuộc về ai và linh hồn là của người nào? Con người mới được hiến tặng cơ thể sẽ thuộc về gia đình nào? Đây quả là những câu hỏi khó đối với bác sĩ, luật sư và các nhà triết học. Một ví dụ khác, việc ươm bộ phận thay thế, cho thấy khoa học không tồn tại độc lập mà mỗi bước chân của nó có thể in vết lõm trên tinh thần con người. Năm 2004, để cứu một cậu bé người Anh, Joshua Fletscher, thoát khỏi một căn bệnh máu quái ác, các nhà khoa học cần một tế bào gốc phù hợp với cậu. Do đó, một đứa em tương lai của Joshua đã được tạo ra trong ống nghiệm, được cấy vào bụng mẹ để có thể hiến tặng tế bào cho cậu. Điều này làm một số nhà triết học băn khoăn rằng người em của Joshua sẽ phản ứng như thế nào khi biết mục đích mình được ra đời là trở thành phương tiện cứu anh trai.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

VẮN TẮT LẠI ĐỀ XUẤT CHỐNG ĐẠI DỊCH.


LỜI PHI LỘ.
Có bạn đọc chê bài viết “Chính thức đề xuất chống đại dịch” của tôi viết quá dài. Những người bận rộn sẽ không có thời gian đọc. Với tinh thần “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Đó là nguyên nhân để tôi tóm tắt lại bài viết dài về chống Đại Dịch đã đăng.
PHÂN LOẠI CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG ĐẠI DỊCH.
Tôi nhận thấy các biện pháp chống Đại Dịch ở Việt Nam và trên thế giới có nhiều bất cập, mang tính đối phó nhiều hơn một biện pháp nhất quán và xuyên suốt để hoàn chỉnh một đối sách chuẩn theo quy luật tự nhiên. Trên cơ sở xem xét mục đích cuối cùng là tiêu diệt virus Đại Dịch, tôi phân loại các biện pháp thành hai loại:
1/ Công cụ hành chính:
Bao gồm tất cả các biện pháp được chính quyền công bố về những quy định từ biện pháp tổng thể dãn cách xã hội, chốt kiểm soát…đến hành vi đeo khẩu trang…Tóm lại tất cả những quy định mang tính quyền lực hành chính và người dân phải tuân thủ.
Tôi coi đây là biện pháp mang tính “công cụ hỗ trợ”, nhằm hạn chế lây lan của Đại Dịch. Không phải biện pháp diệt virus.
2/ Phương pháp diệt virus Đại Dịch.
Hiện nay trên toàn thế giới dùng vacxin là phương pháp chủ yếu, ngoài  ra kết hợp thêm với vài loại thuốc Tây để hỗ trợ cho những người bị cách ly tại nhà, hoặc những nơi cách ly tập trung. Và phương pháp này là phương pháp chủ đạo gần như duy nhất trên thế giới và VN.
Xem xét cả hai dạng phân loại này, tôi nhận thấy những bất cập hiện nay như sau:

I/ CÔNG CỤ HÀNH CHÍNH:
Tính bất cập của các công cụ hành chính hiện nay là phải lựa chọn giữa hai mục đích và thiếu một giải pháp dung hòa giữa dãn cách xã hội, để bảo đảm dịch bệnh không lây lan (Mục đích 1) và duy trì sự hoạt động kinh tế (Mục đích 2).
Ở mục đích 1 bảo đảm dịch bệnh không lây lan – nếu triệt để sẽ hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, nhưng nền kinh tế không thể phát triển được.

Tính bất cập của công cụ hành chính là chưa tìm được giải pháp dung hòa khi phải lựa chọn bảo đảm dịch bệnh không lây lan (Mục đích 1) và duy trì sự hoạt động kinh tế (Mục đích 2).
Vấn đề này tôi sẽ trình bày ở phần sau về giải pháp của tôi.

Và – theo sự phân loại của tôi – dù một biện pháp hành chính hoàn hảo đến đâu, cũng không phải là công cụ diệt virus. Mà chỉ là “Công cụ hỗ trợ” và bị lệ thuộc vào “biện pháp diệt vi rus”. Tức nó không triệt để tiêu diệt đại dịch. Những con virus này không chết bằng mệnh lệnh hành chính của các người đứng đầu quốc gia trên thế giới. Kể cả những siêu cường. Do đó, yếu tố phương pháp diệt virus, mục đích chính của việc chống Đại Dịch này – được trình bày tiếp theo đây.

II/ PHƯƠNG PHÁP DIỆT VIRUS ĐẠI DỊCH.
Với phương pháp diệt vi rus tôi lại tiếp tục phân loại chi tiết hơn như sau:

II. I/ PHƯƠNG PHÁP DIỆT VIRUS CỤC BỘ.
Bao gồm tất cả các phương pháp chữa bệnh cho các bệnh nhân phải nằm viện, trong đó lại phân loại phương pháp hỗ trợ như:
a/ Oxy, máy thở, các phương tiện kỹ thuật trong bệnh viện và cả tài năng của các bác sĩ, có mục đích cứu từng cá thể bệnh nhân khỏi bệnh.

b/ Thuốc chữa bệnh cho các bệnh nhân này.
II. II/ PHƯƠNG PHÁP DIỆT VIRUS TỔNG THỂ.

Phương pháp phổ biến hiện nay là dùng vacxin và một số loại thuốc Tây, nhằm đạt “miễn dịch cộng đồng”. Mặc dù trên truyền thông, cũng có nhiều quốc gia đạt miễn dịch công đồng và họ cho rằng đó là do tiêm chủng đại trà thành công. Nhưng một thực tế khác cũng cho thấy ở những siêu cường với nền kinh tế hùng mạnh, đã xác định các loại vacxin đều tỏ ra không có hiệu quả đạt “miễn dịch cộng đồng”.
Phương pháp này qua hai năm đại dịch lan tràn, cả thế giới đã tỏ ra lúng túng và có phần bất lực, khi loại virus này biến thể liên tục và hiện tượng những người đã tiêm vacxin vẫn bị nghiễm trở lại.
Điều này cho thấy tiêm chủng đại trà vacxin không phải là yếu tố duy nhất đúng để diệt virus nhằm đạt miễn dịch công đồng.
Bởi vậy, tôi nghĩ cần phải có đề xuất cho hai sự kiện đã phân loại ở trên, để đạt đến một sự hoàn hảo tối ưu của 1/ “Công cụ hành chính” . Nhằm dung hòa được việc tránh virus lây làm và phát triển, hoặc duy trì nền kinh tế và “phương pháp diệt virus đại dịch” với các biện pháp tối ưu.
Những vấn đề nay được tiếp tục trình bày sau đây:
I/ CÔNG CỤ HÀNH CHÍNH & KHẢ NĂNG DUNG HÒA GIỮA DÃN CÁCH VÀ PHÁT TRIỂN.
Sự lúng túng trong thời gian qua của cả thế giới và Việt Nam, là không chọn được mục tiêu cụ thể giữa “Dãn cách tuyệt đối” để phong dịch lây lan và duy trì hoạt động, hoặc phát triển kinh tế. Hay nói đúng hơn cho bản chất của vấn đề:

Đó là:

Pphải có một biện pháp hoàn hảo để dung hòa giữa hai mục đích, theo đúng chuẩn mực của tiêu chí khoa học: mang tính nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống hợp lý từ tổng thể đến cục bộ và đặc biệt là “có khả năng tiên tri”.
Khả năng tiên tri ở đây, là khả năng lường trước được sự việc và sự kiện sẽ xảy ra bởi các quyết định hành chính và có đối sách thích hợp. Vì những biện pháp hành chính về bản chất chỉ là công cụ hỗ trợ trong mục đích cuối cùng là diệt toàn bộ virus, hoặc vô hiệu hóa. Nên nó còn chịu sự ảnh hưởng của các phương pháp diệt virus hiệu quả đến đâu. Trên cơ sở thực tế hiện nay về các biện pháp diệt virus ở VN và trên thế giới – đã trình bày ở trên – tôi có đề nghị một phương án như sau:

I.I/ BIỆN PHÁP CÔNG CỤ HÀNH CHÍNH TỔNG QUÁT.
1/ Ưu tiên tiêm chủng cho tất cả các shiper và các lái xe vận chuyển hàng hóa, từ các shiper trên Honda và trên các chuyến xe tải đường dài. Mục đích này là để hàng hóa tiếp tục lưu thông thuận lợi, cung cấp cho họ tất cả các loại thuốc Tây ngoài tiêm chủng trên đường vận chuyển, nhất là các lái xe đường dài…
Trên thực tế với tốc độ tiêm chủng vacxin hiện này, việc ưu tiên riêng cho các shiper sẽ thuận lợi hơn. Về chi tiết phương pháp tiêm như thế nào, đến từng dấu “phẩy” trong bản văn hành chính, nếu được đề nghị, tôi sẽ trình bày sau.
2/ Mở lại tất cả các dịch vụ chuyển phát của nhà nước và tư nhân.

3/ Cho phép tất cả các cửa hàng kinh doanh được đăng ký shiper là nhân viên và những người này cũng thực hiện giải pháp y tế như trên.
4/ Tất cả các hãng sản xuất từ tư nhân nhỏ lẻ, đến các công xưởng lớn được kinh doanh trở lại với các công nhân đã thực hiện các biện pháp y tế. Các biện pháp y tế thực hiện đến đâu, quy mô sản xuất được mở rộng đến đấy. Các doanh nghiệp có thể bỏ tiền túi để tiêm cho CB CNV của mình. Tiền của ai, không quan trọng. Nó chỉ là tiểu tiết. Vấn đề là mục đích hạn chế lây lan của virus,
5/ Tất cả các cửa hàng ăn uống và các địa điểm kinh doanh buôn bán từ nhỏ lẻ đến các siêu thị, đều được mở lại với điệu kiện giao hàng qua shiper. Không có vấn đề bán mang về.
6/ Tiếp tục cấm hoạt động có tụ điểm đông người, như nhà hàng, quán nhậu, KaraOke, nhạc kịch, rạp chiếu phim…

Tóm lại – trong điều kiện biện pháp diệt virus như hiện nay – chỉ mở rộng dãn cách trong những điều kiện có thể kiểm soát được bằng các công cụ hành chính. Và vẫn tiếp tục thực hiện dãn cách với những hoạt động không thể kiểm soát được với các biện pháp hành chính Nhưng – do tính quy luật của các vấn đề xã hội – Nên khi biện pháp hành chính tổng quát được công bố (Dù là tối ưu, hay sai và chưa hoàn chỉnh), bao giờ cũng sẽ xuất hiện những vấn đề cục bộ thuộc các phần tử liên quan đến nó. Cho nên nó cần khả năng tiên tri của một biện pháp phù hợp với tiêu chí khoa học.
Đó là những vấn đề nẩy sinh, sẽ được trình bày tiếp theo đây.
I. II/ CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH HẠN CHẾ TIÊU CỰC PHÁT SINH TỪ BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH TỔNG QUÁT & SỰ HOÀN CHỈNH MANG TÍNH TỔNG THỂ CỦA CÔNG CỤ HÀNH CHÍNH.

1/ Giá shiper – chưa nói đến đúng giá hay do tăng giá vô tội vạ – sẽ làm các mặt hàng bị tăng giá. do kèm phí shipe. Người tiêu dùng sẽ bị thiệt thòi, khi phải phụ thêm giá shiper khi mua hàng. Đến đây, cần có các biện pháp bổ sung như sau:
a/ Có những quy định cho việc giá cước vận chuyển hàng hóa, ở mức độ chấp nhận được cho các lao động shipe và lái xe trong hoàn cảnh hiện nay. Không thể chuyển một tô phở là 50. oooVND thì 10 tô là 500. 000 VND được khi cùng một chuyến đi. Và người tiêu dùng phải chấp nhận tăng giá sản phẩm do phí ship. Vì chỉ có thể như vậy, mới dung hòa được dãn cách xã hội và lưu thông kinh tế, trong hoàn cảnh hiện nay. Tính giải tỏa và thông thoáng, sẽ tùy theo những biện pháp y tế được triển khai đến đâu. Bởi vì không thể dùng biện pháp mua mang về, trong trường hợp người ta xếp hàng rồng rắn, hoặc tụ tập đông người ở các siêu thị và các của hàng ăn ngon và không kiểm soát được.
b/ Khi cho vận chuyển hàng đại trà cho các shiper thì tự nó trong nguyên tắc kinh tế, giá ship sẽ phải tự động giảm đến mức bình hòa.
2/ Các quy định khi ra đường.
a/ Giảm thiểu tối đa cơ chế xin giấy đi đường. Có thể chỉ cần giấy chứng nhận đã tiêm vacxin và CMT, hộ chiếu, mà không cần một giấy tờ gì khác.
b/ Các biện pháp phòng ngừa lây lan, như mang khẩu trang, rửa tay…vẫn tiếp tục thực hiện.
c/ Tiếp tục khuyến cáo mọi người không ra đường nếu không cần thiết.
e/ Giấy đi đường được cấp do thủ trưởng cơ quan, các Cty không phải là biện pháp ngăn chặn virus phát triển. Nên có giải pháp tối ưu cho các nv có thể làm việc ở nhà.

Để tối ưu đơn giản hóa, những giấy này sẽ trực tiếp dán trên xe hơi, xe honda hoặc trên áo. Mẫu giấy sẽ thay đổi tùy theo phương tiện được dán. Những mẫu giấy này có thể kèm mã vạch, để khi cần thiết kiểm tra sẽ biết được cơ quan và người cấp giấy.

Ngay cả việc cấp giấy khai sinh, khai tử, khai thuế…mang tính thủ tục hành chính giữa người dân với các cấp chính quyên sẽ thông tin qua các mạng xã hội và được chuyển đến tận nhà qua ship, sau khi có khai báo hợp pháp. Tôi nghĩ ngay cả khi bãi bỏ dãn cách, nếu có một chính phủ điện tử hoàn hảo, thì các biện pháp mang tính hành chính có thể lập trình và mọi quan hệ có thể thông qua phần mềm. Thí dụ: Một người dân cần giấy khai sinh. Chỉ cần thông báo cho chính quyền. Mẫu giấy sẽ tự động chuyển đến nhà. Người dân chỉ việc điền theo mẫu và gửi lại cho chính quyền. Phần mềm tự động kiểm soát thấy hợp lệ thì tự động đóng dấu và nv sẽ trình ký.

Tóm lại, còn rất nhiều những hiện tượng cục bộ sẽ này sinh từ biện pháp hành chính tổng quát. Và đây là quy luật tất yếu của cuộc sống xã hội, ngay cả khi không có dịch. Thí dụ như khi chưa có Tivi, thì không thể có quan hệ giữa nhà sx, người tiêu dùng, Đài Truyền hình và cả thợ sửa tivi. Huống chi từ một biện pháp tổng quát đến các hiện tượng muôn mặt của cuộc sống, trong điều kiện Đại Dịch. Nhưng nguyên lý tổng quát đúng, sẽ dẫn tới những giải pháp đúng mang tính hệ thống, nhất quán trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh, theo tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định.

Tiêu chí khoa học này phát biểu như sau:
“Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nếu nó giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, tính hoàn chính, nhất quán, có tính khách quan, tính quy luật với khả năng tiên tri”.
Mở rộng tiêu chí này thì có thể ứng dụng cho tất cả mọi vấn đề xã hội, từ hiến pháp, luật pháp, các quy định dưới luật, các thủ tục hành chính…kể các các biện pháp hành chính là công cụ hỗ trợ diệt virus trong đại dịch này.

3/ Nhưng, như tôi đã trình bày: Tất cả các biện pháp hành chính chỉ là công cụ diệt virus. Do đó, nó còn cần phải phụ thuộc vào các biện pháp diệt vi rút. Phương pháp diệt virus hiện nay trên thế giới và VN, về tổng quát, gần như chỉ duy nhất dùng vacxin và một số thuốc Tây. Nó không hể có dấu hiệu chắc chắn diệt được virus, qua thực tế bùng phát trở lại của virus từ nhiều nước trên thế giới, hầu hết là những siêu cường. Do đó, với phương pháp diệt virus này thì dãn cách xã hội là công cụ có hiệu quả. Ít nhất tránh lây lan rộng (Vấn đề còn lại là phương pháp dãn cách như thế nào). Dãn cách xã hội là công cụ tổng quát, vấn đề còn lại là phương pháp cụ thể dãn cách như thế nào? Trên cơ sở này, tôi đề nghị:

a/ Bỏ ngay sự dãn cách và cách ly tập trung. Tất cả đều tự cách ly tại nhà. Chỉ trở bệnh mới đưa đi cấp cứu.

b/ Trong hoàn cảnh thực tế hiện nay với những khu dãn cách tập trung. Nên xét nghiệm, nếu ai chưa Dương tính sẽ cho về nhà. Còn lại đưa vào bệnh viện.

Vì tất cả các biện pháp hành chính chỉ là công cụ diệt virus. Do đó, nó còn cần phải phụ thuộc vào các biện pháp diệt vi rút. Cho nên, vấn đề trình bày tiếp theo đây là :

II/ PHƯƠNG PHÁP DIỆT VIRUS TỪ TỔNG THỂ ĐẾN CỤC BỘ.

Phương pháp diệt virus hiện nay trên thế giới và VN, gần như chỉ duy nhất dùng vacxin và một số thuốc Tây. Nó không hể có dấu hiệu chắc chắn diệt được virus, qua thực tế của nhiều nước trên thế giới, hầu hết là những siêu cường. Không ai có thể bảo đảm được một người đã chưa khỏi virus Dịch, sẽ không bị nhiễm trở lại, nếu tiếp tục sống trong môi trường lây nhiễm.

Do đó, với phương pháp này thì dãn cách xã hội là công cụ có hiệu quả. It nhất tránh lây lan rộng (Vấn đề là “phương pháp dãn cách”, đã trình bày ở phần trên). Bây giờ xét đến phương pháp diệt virus tổng thể.

II. I/ PHƯƠNG PHÁP DIỆT VIRUS TỔNG THỂ

Cá nhân tôi, không thể hiểu nổi, vì sao chỉ có biện pháp diệt virus duy nhất được tuyên truyền và phổ biển từ VN đến khắp thế giới chỉ là vacxin, trong khi đó, nền văn minh Đông phương có cả một nền y học truyền thống vô cùng đồ sộ, phong phú từ hơn 5000 năm trước với dấu ấn của cuốn Hoàng Đế Nội kinh tố vấn. So với nền Y học Tây phương thì cũng chỉ mới phát triển khoảng ngót 200 năm nay và vacxin là sản phẩm cũng mới chỉ ngót 100 năm nay?
Bởi vậy, ngoài thuốc Tây, tôi đề nghị phát huy tất cả mọi khả năng diệt virus đại Dịch- là mục đích cuối cùng của nhân loại – với tất cả mọi khả năng hiện có của Đông Y và các phương pháp truyền thống của Việt Nam.

Biện pháp tổng thể của tôi đề nghị là:

Yêu cầu tất cả các phương tiện truyền thông đăng tải các bài thuốc dân gian để phố biến rộng trong xã hội. Vấn đề này sinh với khả năng tiên tri, là: Có thu phí quảng cáo hay không?
Câu trả lời của tôi là:
1/ Chỉ thu phí quảng cáo với giá rẻ, nếu là quảng cáo sản phẩm và sản phẩm đó đã được phép lưu hành. Thí dụ như thuốc Nhất Nhất để thông não, trong một bản văn của Bộ Y Tế có liên quan đến Đông Y.
2/ Với loại thuốc truyền thống đã chứng nghiệm trên thực tế (Thậm chí có nhiều loại có cả những văn bản cổ xác định) và không cần phải thực nghiệm và thẩm định “cơ sở khoa học” và người đăng bài chịu trách nhiệm của mình.
Việc thẩm định theo các phương pháp hiện đại, cho các loại thuốc  Tây Y là cần thiết, chính vì tính sơ khai của nền Y học hiện đại, khi phải quyết định một loại thuốc mang tính ứng dụng phổ biến, sẽ ảnh hưởng như thế nào với sức khỏe cộng đồng. Nhưng với nền Y học cổ truyền Đông phương, nó đã ứng dụng phổ biến từ hàng hơn 5000 năm. Không thể vì tính thất truyền của một hệ thống lý luận của Đông Y để phủ nhận nó.
Trên đây là ý kiến tổng quát của tôi về phương pháp diệt virus, mà các phương pháp theo Tây Y chưa đủ hoàn chỉnh và tôi luôn ủng hộ những quyết định sử dụng thuốc Tây Y trong việc diệt virus Đại Dịch này. Vì đây là việc mang tính quốc gia và liên quan đến toàn thể nhân loại. Tức là toàn thể nền văn minh. Vì tính trách nhiệm – “Thất phu hữu trách” – nên tôi chấp nhận tranh luận với nội dung bài viết này, ở những cấp có tính quyết định chân lý.
Xin cảm ơn quý vị và các bạn đã quan tâm.

 

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

DI VẬT KHẢO CỔ VÀ NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH
Lịch sử có nhiều góc khuất, những bí ẩn và những khoảng trống  của những thời kỳ lịch sử. Phương pháp nghiên cứu lịch sử cổ điển nhất là tra cứu, đối chiếu và so sánh các bản văn cổ liên quan, còn sót lại liên quan đến thời kỳ lịch sử đó.
Nhưng cấn xác định rằng: Nếu những bản văn cổ đó rõ ràng và có thể tin cậy được, không có mâu thuẫn với các bản văn cổ khác liên quan, thì lịch sử ở giai đoạn liên quan đó, không còn gì là bí ẩn. Và ngay với phương pháp nghiên cứu thuộc loại cổ điển đó, người ta cũng phải  so sánh, đối chiếu những bản văn đó, đề có một nhận định về thời kỳ lịch sử  liên quan. Để từ đó đưa ra những lập luận, mang tính lý thuyết sơ khai về giai đoạn lịch sử đó. Hay nói rõ hơn: với phương pháp nghiên cứu lịch sử cổ điển, bằng cách so sánh, đối chiếu văn bản, thì kết luận cuối cùng cũng phải hình thành một hệ thống luận cứ, để chứng minh cho một luận điểm về một thời kỳ lich sử có tính lý thuyết, trên cơ sở tổng hợp những văn bản cổ và các di sản khảo cổ liên quan. Lý thuyết, và luận điểm lịch sử đó, mới chính là kệt luận cuối cùng của một công trình nghiên cứu lịch sử theo phương pháp này.
Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã đề xuất những di sản khảo cổ là một phương tiện khách quan và là điều kiện để minh chứng cho những giai đoạn lịch sử bị khuất lấp. Một trào lưu nhân danh khoa học trở thành phổ biến, là người ta căn cứ vào di vật khảo cổ với niện đại được thẩm định bằng các phương tiện khoa học – như cacbon phóng xạ C14 – để bảo chứng cho sự tồn tại của thời kỳ lịch sử bị khuất lấp, liên quan đến các di vật khảo cổ đó.
Có một thời, những nhà nghiên cứu lịch sử rất cực đoan, trong việc họ coi di vật khảo cổ là bằng chứng xác thực như một yếu tố cần và gần như duy nhất, để minh định cho lịch sử. Như vấn đề về sự sai lầm của thứ tư duy cực đoan này lại là: có hay không tìm được di vật khảo cổ liên quan. Trong trường hợp nghiên cứu lịch sử, khái niệm “không có di vật lịch sử, cũng đồng nghĩa với “chưa tìm thấy”.
Nhưng ngay cả khí tìm thấy những di vật lịch sử và được minh định bằng các phương tiện khoa học hiện đại, xác định liên quan đến thời kỳ lich sử là đối tượng nghiên cứu, thì nó vẫn cần phải có sự liên hệ hữu cơ với một hệ thống lý thuyết, với những luận cứ thuyết phục chứng minh cho thời kỳ lịch sử đó. Bởi vì tự thân di vật đó không nói lên điều gì, ngoài hiện tượng tương đồng bởi thời gian qua kiểm định cacbon phóng xạ – một phương pháp vẫn còn có những sai số.
Do đó, ngoài vấn đề “tìm thấy”, hay “không tìm thấy” di vật khảo cổ, của thời kỳ  lịch sử liên quan, cuối cùng thì vẫn cần một hệ thống luận cứ có tính thuyết phục, mang tính lý thuyết về sự minh định của một thời kỳ lịch sử. Mà trong đó, các bản văn cổ, di sản khảo cổ, chỉ là những thực tế khách quan hỗ trợ để hệ thống luận cứ, mô tả thời ký lịch sử đó thuyết phục hơn mà thôi.
Do đó, đối với tôi, di vật khảo cổ không phải là bằng chứng duy nhất và đủ để chứng minh cho một sự kiện lịch sử. Mà để xác định một sự kiện, hoặc một thời kỳ lịch sử, cần phải có một hệ thống lý thuyết với những luận cứ chặt chẽ, phù hợp với những chuẩn mực thẩm định chân lý qua những tiêu chí khoa học. Những văn bản lịch sử và di vật khảo cổ chỉ là những bằng chứng khách quan làm sáng tỏ thêm, hoặc mang tính phản biện cho hệ thống luận cứ khoa học liên quan đến nó. Hoặc sự xuất hiện những di vật khảo cổ, gợi ý cho một sự kiện, hoặc một thời kỳ lịch sử bị khuất lấp, để từ đó xuất hiện những giả thuyết về thời kỳ, hoặc sự kiện lịch sử liên quan đến nó, qua những hệ thống luận cứ thuyết phục.
Tất nhiên, những bản văn cổ, nhưng di vật khảo cổ liên quan, phải được tích hợp một cách hợp lý và phải là một thành tố liên kết một cách hữu cơ với hệ thống lý thuyết mô tả về thời kỳ lịch sử đó, phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng.
Trong bài này, những di vật khảo cổ đáng tin cậy, đã hỗ trợ cho hệ thống luận cứ của tôi, chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử. Nhưng ngay cả khi chưa có, hoặc hoàn toàn không có những di vật khảo cổ này, thì điều đó cũng không làm lu mờ được chân lý.
Chia sẻ với quý vị và các bạn.
Vào cuối năm 2019, TTNC Lý họcĐông phương, kết hợp với TT Minh Triết Việt đã tổ chức một cuộc Hội Thảo Khoa Học “Tìm về cội nguồn Việt Sử” tại Hanoi.  Trong buổi Hội Thảo Khoa học “Tìm về Cội nguồn Việt sử”, có đầy đủ những di vật khảo cổ làm sáng tỏ sự huey6n2 vĩ của thời đại Hùng Vương, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tửvà có thể nói: Hầu hết những đại biểu tham gia có tham luận, đều thống nhất cao về cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử.
Chính sử của các triều đại phong kiến Việt Nam đã xác định:
Nước Văn Lang lập quốc vào năm Nhâm Tuất thứ 8 vận VII Hội Ngọ. Phía Bắc giáp Động Đình Hồ, phía Nam giáp Hồ Tôn, phía Tây giáo Ba Thục và phía Đông giáp Đông Hải. Tương ứng với lịch Tây phương là năm 2879 Trc CN.
Đây là chính văn của chính sử, không phải là một truyền thuyết và huyền thoại.
Quý vị và các bạn có thể tìm hiểu diễn biến tóm lược của Hội Thảo khoa học “Tìm về cội nguồn Việt sử” được mô tả dưới đây:
Ông Nguyễn Khắc Mai – Giám đốc Trung Tâm Minh Triết Việt đọc lời khai mạc Hội Thảo khoa học “Tìm về cội nguồn sử Việt”

Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung Tân Nghiên Cứu Lý Học Đông phương phát biểu đề dẫn và mục đích của Hội Thảo.
Mở đầu cho cuộc Hội Thảo khoa học về Cội nguôn Việt sử, là chương trính tham quan của các Đại Biểu về các di sản khảo cổ bằng Đá ở Lương Chử phái nam sông Dương Tử, do một nhà sưu tầm đồ cổ nổi tiếng Hanoi, đống ý đem những cổ vật mà ông sưu tầm được, trưng bày ở đây.
Ảnh: Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh và nhà sưu tầm cổ vật Lão Gàn và nhà sưu tầm đồ cổ với các cổ vật đá của ông.
Ông có nhã ý mời mọi người ghé bảo tàng tư nhân của ông ở số 9A Đào Duy Anh.
Bạn hãy tưởng tượng một khối đá granit cứng dài 25 cm. được người Việt cổ khoan xuyên từ đầu này sang đầu kia tròn vành vạnh. Đủ hiểu kỹ thuật khoan khắc đá đạt đến đỉnh như thế nào.

 

 

 

Cốc ngọc đựng rượu tìm được ở Lương Chử, phía Nam sông Dương tử..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ấn triện “Long đồ quy thư”, có niên đại từ hơn 5000 năm trước.
Chưa cần biết ấn triện này của chức vụ nào. Nhưng sự hiện diện của nó trên thế gian này, đã xác định từ hơn 5000 năm trước, đã tồn tại một xã hội có tổ chức và quyền lực xã hội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mặt ấn triện Long Đồ quy thư.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuông đá.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vị đại biểu đâu tiên phát biểu tại Hội Thảo là nhà sưu tầm cổ vật trình bày về hành trình tìm cổ vật liên quan đến cội nguồn Việt sử ở Lương Chử. Ông nói rõ:
Ông đã sang tận Nhật Bản để nhờ các nhà khoa học Nhật thẩm đinh Cabon phong xạ về niên đại các cổ vật của ông. Và chính các nhà khoa học Nhật chứng nhận niên đại các cổ vật của ông có trên 5000 năm.

 

 

 

 

 

Thích di vật khảo cổ, đây có di vật khảo cổ. Nhưng với lão Gàn thì di vật khảo cổ và các bản văn cổ liên quan, chỉ là những hiện tượng khách quan minh họa cho một lý thuyết, hoặc giả thuyết khoa học mô tả sự kiện hoặc một thời kỳ lịch sử. Nhưng nó phải được tích hợp như một mắt xích hợp lý trong toàn bộ hệ thống lý thuyết đó. Nếu không, nó sẻ là một thành tố tự phản biện.
Lão Gàn thì không cần đến vật chứng trực quan này, vẫn xác định Việt sử gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam Dương tử, bởi một hệ thống luận cứ chặt chẽ, được thẩm định bằng những tiêu chí khoa học xác định một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Tất nhiện hệ thống luận cứ đó, cũng phải xuất phát từ sự tổng hợp tất cả các sự kiện và hiện tượng liên quan đến nó.

GS Trần Đại Sĩ.
Ông nói về những chứng tích của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở bờ Nam Dương Tử.

GS Trần Đại Sỹ tặng quà cụ Nguyễn Khắc Mai.

 

 

Ngài cựu Chủ Tích Quốc Hội Nguyễn Văn An, cũng quan tâm, nên đã có mặt trong cuộc gặp này. Bức ảnh kỷ niệm chụp chung với cụ Nguyễn Văn An.

TS Trần Thanh Bình bày tỏ quan điểm về cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử.

 

 

 

 

Tiến Sĩ Trần Thanh Bình phat biểu bổ sung tại chỗ, những luận cứ xác định cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến.

 

 

 

 

 

 

 

Nhà nghiên cứu cổ văn hóa sử Việt – từ Sài Gòn tham gia cuộc gặp mặt. Ông đưa những luận cứ chứng minh cội nguồn truyền thống sử Việt

 

 

 

Nhà báo độc lập, đau đáu về cội nguồn Việt sử. Anh phát biểu tại chỗ về những quan điểm của anh về cội nguồn Việt sử với những luận cứ xác đáng về lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thơi huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử.

 

 

 

Nhà nghiên cứu ngôn ngữ cổ Việt – bác Lãn Miên – trình bày về sự minh triết của ngôn ngữ Việt và xác định: Ngôn ngữ Việt mới chính là cội nguồn của ngôn ngữ Hán.

 

 

BẰNG CHỨNG ĐÂY –  Chữ Việt Nho trên hình chiếc ấn của người Việt cổ có từ 5000 năm trước. Xin xem lại hình này:
Nhưng chưa. Tôi còn một cuốn sách của chính Trung Quốc xuất bản, nói về nguồn gốc chữ Hán, để xác định nguồn gốc ấy thuộc về người Việt cổ.
Gs Phạm Công Thiện đã nhận thấy được sự huyền vĩ cao siêu của ngôn ngữ Việt. Nhưng ông lấy làm tiếc vì nhận ra điều này quá muộn, nên không có thời gian để chứng minh.
Theo tôi: Tiếng Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong lịch sử văn minh nhân loại. Cho nên nó không thể có “nguồn gốc” từ các ngôn ngữ của các dân tộc gần gũi. Mà nó từ văn minh Atlantis.
Nếu tôi có thời gian, tôi sẽ chứng minh tính cao cấp của ngôn ngữ Việt và nguồn gốc Atlantis của ngôn ngữ này.

rao đổi với TS Trần Thanh Bình.
Tham luận của các đại biểu đều hướng tới xác định cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến.

.
Cụ Nguyễn Khắc Mai kết thúc buổi gặp bàn về Cội nguồn Việt sử.
Lão chưa vừa ý với sự hoàn hảo của buổi gặp mặt này.
Nhưng, điều quan trọng đối với lão là tính sáng tỏ chân lý. Chặng đường chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến, đã đặt được một viên gạch đầu tiên sau 30 năm tính từ 1992, cho nền tảng của nó.
Nền văn minh nhân loại sẽ không thể bỏ qua được một hệ thống LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT mà chính họ đang mơ ước. Ngoại trừ những người có trách nhiệm cho cả thế giới này, không muốn tiếp tục phát triển.

Thưa quý vị và các bạn.
Nếu có ai đó chứng minh Urugoay có lịch sử 5000 năm và là một dân tộc rất văn minh, thì có lẽ bạn chỉ coi đó là một thông tin cập nhật và biết thế.
Nếu như một người ở Uruguay, cũng nhậnđược thông tin Việt sử 5000 năm và là một nền văn minh rực rỡ và dừng ở đó, thì có thể họ cũng chỉ coi đólà một thông tin cập nhật.
Nhưng điều khác biệt ở đây là: Nền văn hiến Việt có một món quà vô giá. Đó chính là một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại và chính là Lý Thuyết thống nhất vũ trụ mà những trí thức tinh hoa của nhân loại đang mơ ước.

TT Minh Triết Việt tặng lão Gàn một kỷ niệm.

Ẩn bớt
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi