Bản thể phạm trù vật chất

CHƯƠNG V
THUỘC TÍNH VÀ BẢN THỂ CỦA VẬT CHẤT.

Khi lên mạng tìm hiểu về những thuộc tính của vật chất, chúng ta có ngay một loạt sự mô tả liên quan, từ nhận thức mới nhất có tính nền tảng của hệ thống tri thức của nền văn minh hiện nay, cho đến những mô tả cổ điển nhất về thuộc tính của vật chất.
Phần dưới đây, được trích dẫn từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

  • V.I. Sự phát triển của nhận thức những thuộc tình của vật chất:Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

  • 1/ Vật chất cùng với không gian và thời gian là những vấn đề cơ bản mà tôn giáo, triết học và vật lý học nghiên cứu. Vật lý học và các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu cấu tạo cũng như những thuộc tính cụ thể của các dạng thực thể vật chất khác nhau trong thế giới tự nhiên. Các thực thể vật chất có thể ở dạng trường (cấu tạo bởi các hạt trường, thường không có khối lượng nghỉ, nhưng vẫn có khối lượng toàn phần), hoặc dạng chất (cấu tạo bởi các hạt chất, thường có khối lượng nghỉ) và chúng đều chiếm không gian. Với định nghĩa trên, các thực thể vật chất được hiểu khá rộng rãi, như một vật vĩ mô mà cũng có thể như bức xạ hoặc những hạt cơ bảncụ thể và ngay cả sự tác động qua lại của chúng. Đôi khi người ta nói đến thuật ngữ phản vật chất trong vật lý. Đó thực ra vẫn là những dạng thức vật chất theo định nghĩa trên, nhưng là một dạng vật chất đặc biệt ít gặp trong tự nhiên. Mọi thực thể vật chất đều tương tác lẫn nhau và những tương tác này cũng lại thông qua những dạng vật chất (cụ thể là những hạt tương tác trong các trường lực, ví dụ hạt photon trong trường điện từ).

  • Các tính chất cơ bản của vật chấtKhối lượng

  • Khối lượng là một thuộc tính cơ bản của các thực thể vật chất trong tự nhiên.

  • Quán tính

  • Theo lý thuyết của Isaac Newton mọi vật có khối lượng đều có quán tính (định luật 1 và 2 của Newton, xem thêm trang cơ học cổ điển), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có quán tính.

  • Năng lượng

  • Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên.

  • Theo lý thuyết của Albert Einstein mọi vật có khối lượng đều có năng lượng (công thức E=mc², xem thêm trang lý thuyết tương đối), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có năng lượng.

  • Công thức ΔE=Δmc² không nói rằng khối lượng và năng lượng chuyển hóa lẫn nhau. Năng lượng và khối lượng đều là những thuộc tính của các thực thể vật chất trong tự nhiên. Không có năng lượng chuyển hóa thành khối lượng hay ngược lại. Công thức Einstein chỉ cho thấy rằng nếu một vật có khối lượng là m thì nó có năng lượng tương ứng là E=mc². Trong phản ứng hạt nhân, nếu khối lượng thay đổi một lượng là Δm thì năng lượng cũng thay đổi một lượng tương ứng là ΔE. Phần năng lượng thay đổi ΔE có thể là tỏa ra hay thu vào. Nếu là tỏa ra thì tồn tại dưới dạng năng lượng nhiệt và bức xạ ra các hạt cơ bản.

  • Lưỡng tính sóng – hạtLưỡng tính sóng hạt là một đặc tính cơ bản của vật chất, thể hiện ở điểm mọi vật chất di chuyển trong không gian đều có tính chất như là sự lan truyền của sóng tương ứng với vật chất đó, đồng thời cũng có tính chất của các hạt chuyển động.Cụ thể, nếu một vật chất chuyển động giống như một hạt với động lượng p thì sự di chuyển của nó cũng giống như sự lan truyền của một sóng với bước sóng λ là:

  • λ = h/p – với: h là hằng số Planck.

  • Các hạt có động lượng càng nhỏ thì tính sóng thể hiện càng mạnh. Ví dụ electron luôn thể hiện tính chất sóng khi nằm trong nguyên tử, và cũng bộc lộ tính chất di chuyển định hướng như các hạt khi nhận năng lượng cao trong máy gia tốc. Ánh sáng có động lượng nhỏ và thể hiện rõ tính sóng như nhiều bức xạ điện từ trong nhiều thí nghiệm, nhưng đôi lúc cũng thể hiện tính chất hạt như trong hiệu ứng quang điện.

  • Tác động lên không thời gianVật chất, theo thuyết tương đối rộng, có quan hệ hữu cơ – biện chứng với không-thời gian. Cụ thể sự có mặt của vật chất gây ra độ cong của không thời gian và độ cong của không thời gian ảnh hưởng đến chuyển động tự docủa vật chất. Không thời gian cong có những tính chất hình học đặc biệt được nghiên cứu trong hình học phi Euclide. Trong lý thuyết tương đối rộng, lực hấp dẫn được thay bằng hình dáng của không thời gian. Các hiện tượng mà cơ học cổ điển mô tả là tác động của lực hấp dẫn (như chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời) thì lại được xem xét như là chuyển động theo quán tính trong không thời gian cong.

  • Một Luận thuyết cho rằng Vật chất là do các nguyên tử chịu tác động của sự rung động (vibrations), hay chuyển động (motions), ở tần số hay vận tốc cao sinh từ trường (electro-magnetism) gây kết dính mà thành. Tất cả các dạng chất rắn, chất lỏng, chất khí; hay các dạng năng lượng như âm thanh, ánh sáng; cũng đều được tạo ra bằng các sóng rung động như thế. Albert Einstein đã phát biểu rằng: “Everything in life is vibration” (mọi thứ trên đời đều là rung động).

  • Vật chất tối

  • Hình dung về tỷ lệ thành phần vũ trụ: năng lượng tối 73%, vật chất tối 23%, khí Hidro, Heli tự do, các sao, neutrino, thành phần chất rắn và các phần còn lại 4%

  • Vật chất tối là phần vật chất mà con người chưa thể quan sát, cân đo được mà chỉ biết đến nó thông qua tác động tới những vật thể khác.

  • Có những tính toán cho thấy vật chất tối chiếm phần lớn khối lượng của các thực thể vật chất trong vũ trụ.

  • Phản vật chất

  • Phản vật chất cũng là vật chất, nhưng cấu thành bởi các phản hạt… Năm 1928, trong khi nghên cứu kết hợp thuyết lượng tử vào trong thuyết tương đối rộng của Albert Einstein, Paul Dirac đã phát hiện ra rằng các tính toán không phản đối chuyện tồn tại các hạt cơ bản đặc biệt, có hầu hết mọi đặc tính cơ bản như các hạt cơ bản thông thường, nhưng mang điện tích trái dấu. Từ đó hình thành nên giả thiết tồn tại các hạt phản vật chất. Theo tính toán, nếu một hạt phản vật chất gặp (tương tác) hạt vật chất tương ứng, chúng sẽ nổ tung và tỏa ra 1 năng lượng rất lớn, theo phương trình Einstein.

  • Một trích dẫn khác mô tả các công trình nghiên cứu hiện đại của Vật lý học, cho thấy những thuộc tình mới nhất của vật chất. Đoạn trích dẫn dưới đây trên web https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/sieu_hinh_vat_ly_tinh_than_vat_chat.html

  • 2. Trường vật chất, Trường Thông tin

  • Trong những cuộc bàn thảo “Vũ trụ là gì?”, nhà Vật lý lớn người Mỹ Heinz Pagels, đã nói: Cũng như phần đông các nhà Vật lý, Tôi cho rằng Vũ trụ là một thông điệp được soạn thảo bằng một mật mã – mã Vũ trụ – mà nhiệm vụ của các nhà Khoa học là giải thứ mã ấy.

  • Quá trình tìm kiếm chiếc chìa để mở khóa thứ mã ấy, được triển khai với 3 giai đoạn: Vật chất, Năng lượng và cuối cùng là Thông tin.

  • Làm rõ các giai đoạn đó, ta có thể hiểu như sau: bởi vì một hạt không phải tồn tại tự bản thân nó, mà chỉ là qua những hiệu ứng tương tác do nó đẻ ra. Tập hợp những hiệu ứng ấy được gọi là một “Trường”. Như vậy, những vật thể xung quanh ta chỉ là những tập hợp Trường: Trường điện từ, Trường hấp dẫn, Trường Proton, Trường électron, các Trường bức xạ v. .v.. Nghĩa là, hiện thực chủ yếu là một tập hợp của các Trường tác động lẫn nhau thường xuyên. Chúng dao động, và các hạt cơ bản với bản chất khác nhau được gắn vào. Đó là biểu hiện “chất” của Trường. Dao động làm cho chúng di chuyển trong không gian và đi vào sự tương tác lẫn nhau. Nhưng Trường bao giờ cũng gắn với Sóng.

  • Vật chất, đó cũng là các Sóng ? – Đúng thể, Nhà Vật lý lý thuyết rất nổi tiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tự nó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng, do chúng giao thoa với năng lượng. Mà Sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin.

  • Đến đây, có vẻ như có một sự mâu thuẫn giữa vật lý cổ điển và vật lý hiện đại, về vấn đề liên quan đến thuộc tính của vật chất. Vật lý cổ điển cho rằng:

  • Năng lượng

  • Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên.

  • Nguồn: Thư viện mở Wikipedia.Nhưng Vật lý hiện đại thì có vẻ như năng lượng tách rời thuộc tính của vật chất.

  • Nhà Vật lý lý thuyết rất nổi tiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tự nó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng, do chúng giao thoa với năng lượng. Mà sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin.

  • Nguồn: chungta.com

  • Đến đây, người viết cần xác định rằng: Năng lượng chính là một thuộc tính căn bản của vật chất. Những định luật của vật lý cổ điển, đến hiện đại đều xác định thuộc tính hàm chứa năng lượng của vật chất. Công thức nổi tiếng của thuyết Tương Đối rộng: E = m.c2 đã xác định điều này.
    Qua những trích dẫn trên, người viết xác định rằng:
  • Trong quá trình phát triển của nhận thức về vật chất trong lịch sử văn minh nhân loại, con người ngày càng hiểu biết hơn về những thuộc tình của vật chất quan sát được. Do đó, chúng ta thấy rõ khái niệm ‘vật chất’ là một phạm trù mô tả những thuộc tính của nó, mà con người nhận thức được trong quá trình phát triển của nền văn minh. Bởi vậy, nội hàm khái niệm vật chất, cũng thay đổi qua các thời kỳ phát triển. Phần tiếp theo đây, chứng tỏ điều này.
  • V.II. Những định nghĩa về phạm trù vật chất trong lịch sử nền văn minh.
    Ở đoạn trên, người viết đã chứng tỏ với bạn đọc về sự phát triển nhận thức về những thuộc tính của vật chất trong lịch sử văn minh nhân loại nhận thức được. Do đó, nội hàm khái niệm vật chất cũng thay đổi theo những nhận thức về thuộc tính của nó.
    Đoạn trích dẫn sau đây, xác định điều này:
  • Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm một thực thể ban đầu nào đó và coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện tượng khác nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan biến trong đó. Tức là họ muốn tìm một thực thể chung, là cơ sở bất biến của toàn bộ tồn tại, là cái được bảo toàn trong sự vật dù trạng thái và thuộc tính của sự vật có biến đổi và được gọi là vật chất (tiếng Latin là materia). Trong lịch sử triết học cổ đại, các nhà triết học duy vật cũng quan niệm vật chất rất khác nhau. Ví dụ Thales (624-547 trước Công nguyên) coi vật chất là nước, Anaximenes (585-524 trước Công nguyên) coi vật chất là không khí, Heraclitus (540-480 trước Công nguyên) coi vật chất là lửa, Democritus (460-370 trước Công nguyên) coi vật chất là các nguyên tử,…

  • Nói chung các nhà triết học cổ đại quan niệm vật chất dưới dạng cảm tính và quy vật chất thành một thực thể cụ thể, cố định. Mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử, song những quan niệm trên lại có ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm thời bấy giờ.

  • Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiện ra sự tồn tại của nguyên tử, cho nên quan niệm của thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất ngày càng được khẳng định. Quan niệm này tồn tại và được các nhà triết học duy vật cũng như các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng sử dụng cho đến tận cuối thế kỷ 19.

  • Trong giai đoạn thế kỷ 17 – thế kỷ 18, mặc dù đã có những bước phát triển, đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về vật chất, song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc với khối lượng. Quan niệm này chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi cơ học cổ điển của Newton, một lĩnh vực của vật lý được coi là phát triển hoàn thiện nhất thời bấy giờ.

  • Cơ học cổ điển coi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất; thế giới bao gồm những vật thể lớn nhỏ khác nhau, cái nhỏ nhất không thể phân chia nhỏ hơn là các nguyên tử; đặc trưng cơ bản của mọi vật thể là khối lượng; tính tất yếu khách quan trong hiện thực là tính tất yếu khách quan được thể hiện qua các định luật cơ học của Newton; vật chất, vận động, không gian và thời gian là những thực thể khác nhau cùng tồn tại chứ không có quan hệ ràng buộc nội tại với nhau.Nguồn Wikipedia.

  • Định nghĩa cuối cùng và phổ biến nhất về vật chất, do V.I Lenin mô tả như sau:

  • “vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
  • Định nghĩa này của V.I. Lenin xuất hiện vào đầu thế kỷ XX. Sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật trong hơn 100 năm qua, đã bổ xung thêm những thuộc tính của vật chất, mà người viết đã trình bày ở trên. Những thuộc tính mới của vật chất đã vượt ra ngoài sự thực chứng của cảm giác. Một số nhà bác học đã phải thốt lên: “Phải chăng ‘vật chất’ đã biến mất?!”
  • Do đó, một nhu cầu mới xuất hiện và đặt ra vấn đề cần phải định nghĩa lại bản thể của vật chất.
    V.III. Bản thể và nội hàm khái niệm vật chất.
  • Sự phát triển của những tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại, cũng đã xác định rằng:
  • “Tương tác là nguyên nhân hình thành tất cả mọi sự vật, sự việc. Bản chất của tương tác như thế nào thì sẽ hình thành sự vật, sự việc như thế đó”.
  • Như vậy, một trong những thuộc tính quan trọng nữa của vật chất, cũng chính là sự tương tác giữa các thực thể vật chất.
  • Trên cơ sở tất cả những vấn đề đã trình bày, người viết tổng hợp và mô tả một định nghĩa về ‘vật chất’, như sau:
    Khái niệm ‘vật chất’ là sản phẩm của tư duy trừu tượng tổng hợp, mà nội hàm của nó mô tả một phạm trù hàm chứa mọi sự tồn tại có chứa ‘năng lượng’ và ‘tương tác’ thì gọi là ‘vật chất’.
  • Như phần trên, người viết đã trình bày: Nếu như định nghĩa mới nhất về phạm trù ‘vật chất’ của người viết, chưa được sự công nhận rộng rãi của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học, thì người viết sẽ coi như là một như một ‘tiền đề’, để tiếp tục chứng minh cho chủ đề được đặt ra cho bộ sách này, là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ. Và nếu như những tiền đề được đặt ra từ bộ sách này, tích hợp một cách hợp lý trong hệ thống luận cứ của nó, một cách nhất quán, hoàn chỉnh để xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, thì tiền đề đó được coi là đúng.
    Trên cơ sở tiền đề về phạm trù ‘vật chất’ đã được xác định, như một tiền đề, người viết tiếp tục mô tả về bản thế khái niệm ‘Không gian’.
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

LỜI DẪN NHẬP

LỜI DẪN NHẬP
Các bạn đọc thân mến

Để thuận lợi hơn trong việc cảm nhận và chia sẻ được nội dung của quyển sách, người viết xin được trình bày về cấu trúc phương pháp luận và hình thức trình bày của bộ sách như sau:

  1. Hệ thống phương pháp luận của bsách:

I.I. Thiết lập những tiên đề.
Nhà vật lý thiên văn Stephen Hawking, cho rằng:
Để xác lập Lý thuyết thống nhất chúng ta phải thiết lập những tiền đề.

Lược Sử thời gian. SW Hawking.
Người viết coi đây như một tiêu chí cần thiết và hợp lý, để chứng minh cho một hệ thống lý thuyết thống nhất.
Bởi vì, nền văn minh hiện nay, chưa đạt được những nền tảng kiến thức, để mô tả một lý thuyết thống nhất. Cho nên nhất thiết nó phải được xác lập những tiền đề có tính bổ túc cho những khoảng trống tri thức của một nền văn minh, từ đó tổng hợp với những nền tảng tri thức hiện có, để dẫn đến một cấu trúc của lý thuyết thống nhất.
Và chính những tiền đề đó, khi trở thành những phần tử trong một cấu trúc hợp lý của hệ thống lý thuyết – thì chính sự tồn tại trong một cấu trúc hợp lý của hệ thống lý thuyết đó sẽ chứng minh ngược lại những tiền đề đó, được coi là đúng, hoặc sai.

I.II. Chỉ ra những nhận thức sai lầm về một số khái niệm có tính nền tảng của tri thức khoa học hiện đại.
Người viết sẽ chỉ ra những cái sai, cái bất hợp lý được định hình trong tư duy khoa hoc hiện đại, qua cách hiểu phổ biến một số khái niệm trong cấu trúc nền tảng của tri thức khoa học hiện đại.Từ đó sẽ trình bày những cái đúng và chứng minh trong hệ thống luận điểm của người viết. Trên cơ sở này thiết lập những tiền đề đã trình bày ở trên.

I.III. Sử dụng tiêu chí khoa học làm chuẩn mực, để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Nội dung của bộ sách này, nhằm thẩm đinh và chứng minh một hệ thống lý thuyết cổ xưa – cụ thể là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch – chính là hệ thống lý thuyết thống nhất, mà những tri thức tinhn hoa của nhân loại đang mơ ước.
Mô tả một cách rõ hơn, là:
Về bản chất: thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán, đã tồn tại trên thực tế trong lịch sử cổ xưa của văn minh nhân loại. Dấu ấn của nó còn thể hiện trong hệ thống phương pháp luận qua những di sản chuyên ngành ứng dụng, như: Các phương pháp dự báo có tính tiên tri, như: Tử Vi, Bốc Dịch, Lạc Việt độn toán, Thái Ất….Trong Y thuật Đông phương (Đông y); trong kiến trúc xây dựng (Địa lý phong thủy)…Và trong cả việc phân tích những quy luật điều hành xã hội, cho đến những hành vi của con người có tính quy luật có thể tiên tri. Nhưng hệ thống lý thuyết này đã thất truyền. Chỉ còn lại những mảnh vụn trong những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, lưu truyền trong văn hóa truyền thống của các dân tộc thuộc nền văn minh Đông phương – đặc biệt trong văn hóa truyền thống Việt, chủ nhân đích thực của nền văn minh này.
Do đó, việc phục hồi một hệ thống lý thuyết cổ xưa, là một việc chưa hề có tiền lệ trong lịch sử của nền văn minh hiện đại, vốn hình thành trên cơ sở thực chứng, thực nghiệm với những phương tiện kỹ thuật.
Do tính chất đặc thù của việc chứng minh và phục hồi một hệ thống lý thuyết đã tồn tại trên thực tế, thông qua hệ thống phương pháp luận trong các ngành ứng dụng của nó, như Đông y, Địạ lý phong thủy…vv…Tức là một sự chứng minh ngược so với phương pháp phổ biến từ thực chứng chứng, thực nghiệm ứng dụng dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết, như sự phát triển của nền văn minh hiện đại.  Cho nên tất cả những phương pháp nghiên cứu mang tính thực chứng, thông qua những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất thuộc về nền văn minh hiện nay, đều không phải là phương pháp để kiểm chứng một lý thuyết đã tồn tại trên thực tế.
Do vậy, trên cơ sở đặc thù và chưa có tiền lệ của việc chứng minh cho một hệ thống lý thuyết đã tồn tại,  người viết sử dụng tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một hệ thống lý thuyết khoa học, như là một phương pháp luận để chứng minh thuyết Âm Dương ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, là mục đích của bộ sách này.
Tuy nhiên, người viết cũng thừa nhận tính thuyết phục được thực chứng của những thí nghiệm thực tế. Và người viết cũng xác định rằng: Những thực chứng đó, có thể bác bỏ một hệ thống lý thuyết, nếu lý thuyết đó không tích hợp được một cách hợp lý của một thực chứng liên quan đến nó.
Nhưng người viết cũng cần xác định về có tính phương pháp luận, rằng:
Ngay cả khi thí nghiệm đúng qua thực chứng, bởi những phương tiện kỹ thuật hiện đại, phù hợp với tính tiên tri của một lý thuyết, thì điều đó không có nghĩa lý thuyết đó là một lý thuyết hoàn chỉnh. Bởi vì người ta vẫn có thể có một lý thuyết khác, bao trùm lên và giải thích một cách hợp lý những thực chứng bằng những phương tiện  khoa học hiện đại, bằng một hệ thống luận cứ khác.
Tóm lại có ba vấn đề xác lập mang tính phương pháp luận của người viết, cho mục đích chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành là Lý thuyết thống nhất, trong bộ sách này, là:

1.Chứng minh cái sai từ những khái niệm căn bản trong khoa họcđể chỉ là một cái coi là đúng hơn

2.Thiết lập những tiền đề bổ sung cho những khoảng trống tri thức trong nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại, làm cơ sở chứng minh cho một lý thuyết thống nhất. Sự tích hợp một cách hợp lý những tiền đề trong hệ thống cấu trúc của một Lý thuyết thống nhất sẽ chứng minh sự tồn tại những tiền đề này là đúng.

  1. Lấy tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để chứng minh một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Chúng tôi sẽ chia bộ sách này thành 3 tập

Tập 1 có tựa là: Những vấn nạn của lý thuyết khoa học hiện đại.

Trong tập một sẽ chia nhiều phần và mỗi phần chia nhiều chương, mỗi chương có nhiều mục chuyên đề để mô tả nội dung.Trong tập này, chúng tôi sẽ chỉ ra những sai lầm trong nội hàm trong khái niệm về các vấn đề đang  được quan tâm, như:  Không gian Ba chiều hay nhiều chiều;, phân biệt khái niệm mô tả tư duy trừu tượng và nhận thức thực tại .
Trên cơ sở hiệu chỉnh và định nghĩa lại những khái niệm căn bản trong nền tảng tri thức khoa học hiện đại, người viết chứng minh các sai lầm của các lý thuyết khoa học hiện đại trong các phần tiếp theo. Trên cơ sở này, đề cập đến những tiền đề được xác lập.
Mục đích của tập này là chứng minh những sai lầm của khoa học hiện đại, liên quan đến nhận thức và khái niệm; đặt ra những tiền đề để chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất

Tập 2 có tựa là: Cội nguồn và lich sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch.
Trong tập hai sẽ chia nhiều phần và mỗi phần chia nhiều chương, mỗi chương có nhiều mục chuyên đề để mô tả nội dung.
Nội dung chủ yếu của tập này, là:
Chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, là ba bộ phận của một học thuyết thống nhất, hoàn chỉnh, nhất quán. Nó không thuộc về nền văn minh Hán, mà thuộc nền văn hiến Việt huyền vĩ với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương.

Tập 3 có tựa là:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành – lý thuyết thống nhất vũ trụ.
Trong tập ba sẽ chia nhiều phần và mỗi phần chia nhiều chương, mỗi chương có nhiều mục chuyên đề để mô tả nội dung.
Nội dung chủ yếu của tập này, là:
Chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là Lý thuyết thống nhất mà những tri thức tinh hoa của nhân loại đang mơ ước. Đồng thời cũng chứng minh về sự tồn tại của một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ, đã có trước lịch sử nền văn minh của chúng ta. Nền văn minh đó, chính là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Trong bộ sách này tất cả phần chính văn của người viết sẽ thể hiện kiểu chữ Time new romance .size 12. Những phần trích dẫn sẽ thể hiện kiểu chữ Arial 10.
Trong sách có thể hiện những thuật ngữ mới, danh từ mới thì chúng tôi sẽ có định nghĩa ở cuối sách, hoặc ngay cuối mỗi chương về nội hàm khái niệm đó, hoặc sẽ mô tả những danh từ chỉ có trong ngôn ngữ tiếng Việt, mà không thể dịch ra bất cứ ngôn ngữ nào.
Cùng bạn đọc thân mến.
Đây là một đề tài cực khó khăn, khi cả một nền văn minh nhân loại mới chỉ đặt một vấn đề về lý thuyết thống nhất và còn hoài nghi nó có tồn tại thật hay không?!
Người viết đã không tự lượng sức mình, khi đặt một vấn đề rất khó khăn này. Nhưng người viết cũng hy vọng với nhiệt tình, cùng sự chân thành đi tìm và chia sẻ một chân lý, thì sẽ được sự cảm thông của bạn đọc; nếu như có gì còn sai sót và khi vấn đề được mô tả trong bộ sách này, chưa thật sự hoàn hảo.
Xin chân thành cảm ơn sự chia sẻ và quan tâm của bạn đọc.
Sài Gòn . Ngày mùng 1 Tết Kỷ Hợi Việt lịch.
Nhằm ngày mùng 5. 2. 2019.
Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

SAI LẦM CỦA MỘT NỀN VĂN MINH.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

Thưa quý vị và các bạn.

Ngày hôm qua, trong khi soạn những tư liệu để chuẩn bị quay video clip, làm lại bài thứ VIII, trong loạt 8 bài giảng của tôi về “Khái niệm cơ bản về Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt”, có chủ đề: “Thuyết Âm Dương ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ”, tôi đã xác định một cách chắc chắn hơn, rằng: Những tri thức tinh hoa của nền văn minh chúng ta, như: SW Hawking, Eistein,,,và những quan niệm về vũ trụ trong Lý thuyết Dây, thuyết Bất Định hoàn toàn sai.
Sai lầm này bắt đầu từ những khái niệm tiền đề của nó. Đó la2 những kiến thức nền của nền văn minh hiện nay. Họ đã hiểu sai bản chất khái niệm. Tất nhiên, tôi sẽ chứng minh rất kỹ điều này trong video đang thực hiện. Nhưng tạm thời tôi tóm tắt ở đây để qúy vị và các bạn tham khảo.
1/ NHỮNG SAI LẦM VỀ NỘI HÀM KHÁI NIỆM.
A/Nội hàm khái niệm “Không gian ba chiều”.
Trong cuốn sách nổi tiếng của ngài SW Hawking, đã thể hiện sai lầm khi nói đến giới hạn của một vũ trụ với “Không gian ba chiều”. Ngài Hawking cho rằng: Chính giới hạn này, khiến cho sự phát triển của Lý thuyết Dây trở nên khập khiễng. Ngài cho rằng: Lý thuyết Dây cần tối thiểu 26 chiều không gian.
Sai lầm này, bắt nguồn từ sai lầm về cách hiểu nội hàm khái niệm “Không gian ba chiều”. Thực ra, “Không gian ba chiều” chỉ là khái niệm quy ước. Mục đích của nó nhằm mô tả những động tử chuyển động theo “vô cực chiều” trong không gian. Thực  tếvũ trụ là “không gian vô cực chiều”. Hay mô tả cách khác: Không có giới hạn cho các chiều không gian.
B/ Nội hàm khái niệm “Chiều Không gian”.
Quan niệm về “chiều không gian” chính là tiền đề cho “không gian ba chiều”, hoặc “đa chiều”. Bản chất khái niệm này cũng mang tính quy ước về một quỹ đạo bất kỳ của một chuyển động trong không gian, và được mô tả trong một không gian quy ước gồm “Ba chiều”. Nếu một “Động tử” quan sát, được mô tả bằng “một điểm” và tạo ra một quỹ đạo trong không gian, thì đó chính là “chiều” của động tử đó trong không gian. “Đường” mô tả chiều không gian của động tử đó, được vẽ bằng những “Điểm” quy ước liên tiếp.
Như vậy, bản thân khái niệm “chiều không gian” chuyển động của một “điểm” qua một đường, được mô tả trong không gian ba chiều, cũng chỉ mang tính quy ước. Và nó không có thật trên thực tế.
c/ Nội hàm khái niệm “Điểm” trong toán học.
Đây cũng là một khái niệm hoàn toàn mang tính quy ước – hệ quả của tư duy trừu tượng của con người quan sát vũ trụ và mô tả nó bằng những khái niệm. “Điểm” là một khái niệm không có thật. Mặc dù nó là tiên đề của toàn bộ tri thức Toán học của nền văn minh.
Khái niệm “Điểm” không có định lượng.
BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

VÌ SAO “CÓ THỜ CÓ THIÊNG, CÓ KIÊNG CÓ LÀNH”.

Nguyễn Vũ Diệu PHẦN III.
Tiếp theo
VÌ SAO “CÓ THỜ CÓ THIÊNG, CÓ KIÊNG CÓ LÀNH”.
Các vấn đề kiêng cữ của người Việt kể cả hiện tượng khách quan và những nghi lễ liên quan tôi đã trình bày ở hai phần trước. Nhưng vấn đề vì sao lại “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”? Bài viết này được bổ sung bởi anh Nguyễn Đắc Đại hỏi tôi về vấn đề này.
Vấn đề “có kiêng, có lành” thì tôi đã xác định rằng: Nó không phải là sự kiêng cữ vu vơ. Mà là có nguyên nhân khách quan của những nhận thức đã bị thất truyền, do một nền văn minh bị sụp đổ. Hay nói một cách khác: Có một chân lý được nhận thức, đằng sau những tục kiêng cữ này.
Nhưng vấn đề còn lại: Tại sao “có thờ có thiêng”? Và bàn thờ bao giờ cũng được chọn vị trí trang trọng nhất với những nghi lễ long trọng nhất – dù bạn theo tôn giáo, hoặc tín ngưỡng nào.
Tôi có thể khẳng định rằng: nếu cách đây 50 năm, nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay sẽ không thể lý giải được điều này. Tất nhiên, điều đó cũng trở nên huyền bí trong suy nghĩ của nhiều người. Và những người tự cho mình có tri thức khoa học và chỉ tin theo những nhận thức gọi là “được khoa học công nhận”, sẽ luôn coi việc thờ cúng là “mê tín dị đoan”. Vậy nó thiêng ở chỗ nào?
Thờ Chúa; thờ Phật, thờ Đức Ala; thờ Ông Địa….thờ ai thì “thiêng” hơn? Hay cứ “có thờ, có thiêng”? Vì sao lại thiêng? Nó do con người tin vào sự thiêng liêng, hay thiêng thật?
Ở đây tôi chỉ đưa ra một cách giải thích và mọi người có quyền đưa ra một cách giải thích khác. Tôi không tranh luận.
Trước hết, tôi xin lưu ý quý vị và các bạn một sự kiện thực nghiệm của Vật Lý Lượng tử. Đó là các nhà khoa học đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng: “Ý thức tương tác với cấu trúc vật chất vi mô”. Cụ thể nó tương tác với các hạt cơ bản. So sánh với những tri kiến của Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – thì phát hiện của Vật Lý Lượng Tử mới chỉ là kiến thức sơ khai về bản chất của hiện tượng được thực nghiệm. Nền tảng tri thức khoa học hiện nay – cụ thể là Vật Lý lương tử – mới chỉ nhận thức qua thực nghiệm hiện tượng. Nhưng nền văn minh hiện nay vẫn chưa thể hiểu được bản chất cơ chế tương tác của ý thức với các hạt cơ bản. Bởi vậy, để giải thích được “có thờ, có thiêng” vẫn chưa thể rốt ráó, chính vì nên tảng tri thức của cả nền văn minh hiện nay, chưa đủ để hiểu biết tường tận những bí ẩn của thiên nhiên và vũ trụ.
Nhưng sự kiện thực chứng của Vật Lý Lượng tử – xác định một thực tế khách quan , là “ý thức tương tác với vật chất vi mô”, lại là nền tảng để có thể mô tả và giải thích vì sao “có thờ, có thiêng”.
Nếu cách đây trên 50 năm về trước, sẽ không thể giải thích điều này, vì thiếu những nền tảng tri thức khoa học thực nghiệm căn bản, nhằm xác định một thực tại khách quan. Và đến nay, chính những thực nghiệm này của ngành Vật lý Lương tử, xác định một sự liên hệ giữa hai phạm trù của cả triết học và khoa học là “Vật chất” và “Ý thức” – một các gọi khác của ý thức là “tinh thần”. Mặc dù từ rất lâu, trong lĩnh vực của triết học, người ta đã thừa nhận sự tương tác của ý thức lên vật chất. Sự khác nhau của “Duy tâm” hay “Duy vật”, chỉ là cái gì có trước và cái gì là bản thể quyết định của cái kia mà thôi.
Tóm lại, tôi muốn xác định với quý vị và các bạn rằng: Dù trong lĩnh vực triết học, hay khoa học thì đến ngày hôm nay, ở nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh, con người vẫn thừa nhận tính tương tác của ý thức với vật chất. Và điều này đã được các thực nghiệm của Vật Lý Lượng tử chứng minh.
Thưa quý vị và các bạn.
Như tôi đã trình bày:
Nền tảng tri thức khoa học hiện nay – cụ thể là Vật Lý lương tử – mới chỉ nhận thức qua thực nghiệm hiện tượng. Nhưng nền văn minh hiện nay, vẫn chưa thể hiểu được bản chất cơ chế tương tác của ý thức với các hạt cơ bản.
Đương nhiên, khi nền tảng tri thức của cả một nền văn minh hiện đại, vẫn chưa thể hiểu được “bản chất cơ chế tương tác của ý thức lên vật chất vi mô”, của Vật Lý Lượng tử – thì – sự giải thích không thể coi là dễ hiểu.
Do đó, tôi cần xác định một số tiên đề để làm cơ sở cho việc giải thích: Vì sao “có thờ có thiêng”.
Tiền đề thứ nhất.
Định nghĩa về vật chất của tôi là:
[“Tất cả mọi dạng tồn tại có năng lượng và tương tác, đều là vật chất”].
Đây là một nền tảng tri thức rất căn bản, mà tôi đã giảng trong khóa học 8 buổi về “Những kiến thức căn bản về Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt”. Trên cơ sở này, các học viên của lớp Địa Lý Lạc Việt, mới có thể hiểu rõ những tri kiến trong chuyên ngành ứng dụng Địa Lý Lạc Việt, Và họ sẽ hiểu rõ ngành Địa Lý Lạc Việt, hoàn toàn rất khoa học. Mọi mô hình biểu kiến của DLLV đều có chân lý khách quan, đằng sau những mô hình biểu kiến và phương pháp ứng dụng của nó.
Tiền đề thứ hai.
Định nghĩa về khái niệm “Khí” trong Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt, là:
[“Khí là một dạng tồn tại của vật chất phi khối lượng, phi hình thể. Được hình thành bởi vật chất và tương tác trở lại với vật chất.
Khí chính là trường tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất và với chính nó”]
Trên cơ sở của sự xác định qua thực nghiệm trong ngành Vật Lý Lượng tử và những tiền đề đã trình bày, tôi xác định rằng:
Việc thờ cúng – “có thờ có thiêng” – chính là sự tập trung ý thức của một cá nhân, một gia đình, một cộng đồng làng xã, một dân tộc cho một địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Dù họ thờ cái gì?
Sự giải thích này, trên cơ sở thực chứng của ngành Vật Lý Lượng tử và sự tương tác với năng lượng của một dạng vật chất quen gọi là “ý thức”.
Vậy thì tại sao nó lại thiêng? Và nó hình như cũng thiêng thật với hàng loạt hiện tượng, mà người ta có thể kể ra về sự linh thiêng của những nơi thờ tự (?!).
Sự tương tác của ý thức (Một dạng tồn tại của vật chất) với địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo ra một dạng “khí” và thông qua – trường khí tồn tại khách quan và độc lập – với hai đối tượng (Ý thức và địa điểm tín ngưỡng), tổng hợp thành một tập hợp những tương tác, tác động trở lại với môi trường, khiến nó trở nên “linh thiêng”.
Thưa quý vị và các bạn.
Cụm từ mà tôi trình bày ở trên – [“trường khí tồn tại khách quan và độc lập”] – chính là điều kiện địa lý của môi trường có địa điểm tín ngưỡng, là chùa, miếu, đình, đền, nhà thờ….Và điều này giải thích vì sao các Địa Lý phong thủy gia – từ cổ chí kim – có thể dùng tri thức Địa Lý phong thủy để tác động đến sự linh thiêng của địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo.
Thưa quý vị và các bạn.
Tôi đã giải thích xong vấn đề “Có thờ có thiêng”, nhưng tôi cũng xin nhắc lại, rằng: Đấy chỉ là một sự giải thích. Bất cứ ai cũng có quyền giải thích khác tôi theo cách hiểu của họ. Tôi không tranh luận.
Tuy nhiên, tôi cũng cần xác định rằng: Việc gọi là “đuổi mưa” thực chất chỉ là sự tương tác của ý thức với vật chất. Có điều quan niệm về vật chất của Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – và quan niệm về vật chất của nền văn minh hiện đại khác nhau khá xa. Chưa nói đến bản chất cơ chế tương tác, cái mà tôi cần xác định rằng: Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay chưa biết gì về nó.
Ngài SW Hawking cho rằng: 50 năm trước khi Lý thuyết Tương đối của Eistein được công nhận, nền tảng tri thức của nền văn minh chưa đủ để đặt vấn đề về Lý Thuyết thống nhất. Tôi xin bổ sung thêm rằng: 100 năm nữa, nếu không thừa nhận Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử, và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương, thì nền văn minh hiện này cũng còn tiếp tục đặt vấn đề có hay không một Lý thuyết thống nhất.
Cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ của quý vị và các bạn.
PS: Thưa quý vị và các bạn.
Với định nghĩa về vật chất của tôi thì Thượng Đế và các thánh thần nếu còn tương tác với trần gian, thì các Ngài cũng phải có năng lượng – tức là một dạng tồn tại của vật chất. Có điều dạng tồn tại nào thì còn là sự tiếp tục khám phá. Những ai có tín ngưỡng vẫn cứ tiếp tục giữ niềm tin của các vị. Định nghĩa lại về vật chất, xóa bỏ ranh giới giữa ý thức và các khái niệm vật chất cổ kim, không có nghĩa Thượng đế và các thánh thần không tồn tại. Nhưng điều chắc chắn rằng: Định nghĩa lại về vật chất, sẽ làm thay đổi và mở rộng đối tượng nghiên cứu khoa học.
Đức Phật đã chứng minh một cách hoàn hảo trong bộ kinh nổi tiếng “Thần Chú Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm” rằng:
Không thể có hai cái “Tính thấy” nhìn thấy nhau.
Bởi vậy, cái nền khoa học thực chứng, thực nghiệm hiện đại, cần phải có những lý thuyết khoa học hoàn hảo để tiếp tục phát triển. Do những cái nó không thể nhìn thấy.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

SUY TƯỞNG VÀ CHIA SẺ

BẠN ĐANG NGHĨ GÌ?
Fb thường có câu hỏi như vậy!
TÔI ĐANG SUY TƯỞNG VÀ CHIA SẺ NHỮNG DÒNG SUY TƯỞNG NÀY ĐẾN NHỮNG AI QUAN TÂM.
Thế gian thường tình, luôn có hai cách giải thích mọi hiện tượng. Một cách giải thích phổ biến nhất, từ những bậc hiền triết cho đến kẻ nghèo mạt vận trên thế gian, là giải thích trực quan “Trời sinh ra thế!”. Tất nhiên trong đó có cả tôi, khi đang viết những dòng này. Một điều rất,  rất cố hữu là tất cả đều tin vào những nhận thức trực quan đó, coi như chân lý tuyệt đối. “Chính mắt tao nhìn thấy!” – “Thực mục sở thị” – thế là xong!
Một tai nạn giao thổng xảy ra. Cảnh sát đến lập biên bản. Những người làm chứng xác định tai nạn gây ra bởi một đối tượng vượt đèn đỏ. Phạt. Hoàn toàn chính xác! Rất nhiều người nhìn thấy và làm chứng. Ngay cả một phương tiện kỹ thuật hiện đại thời @, là những chiếc camera cũng ghi nhận đúng như vậy. Hoàn toàn khách quan.
Đấy là cách giải thích trực quan. Gần như cả  thế giới, trong suốt chiều dài của lịch sử văn minh nhân loại đang có những giải thích như vậy.
Một câu chuyện, chứa đấy tính “minh triết đảo” (Khái niệm “minh triết đảo” tôi sẽ định nghĩa sau) – chính là câu chuyện dân gian Việt nổi tiếng dưới đây:
TRỜI SINH RA THẾ
Xưa có một ông nhà giàu, sinh được hai cô con gái, cô chị gả cho người làm ruộng, cô em gả cho người học trò.
Một hôm thong thả, bố vợ cùng hai con rể đưa nhau đi chơi. Bố nghe tiếng con ngỗng kêu lên mới hỏi:
-Làm sao tiếng nó to thế nhỉ?
Người học trò nói chữ:
-Trường cảnh tắc đại thanh.
Người làm ruộng nói:
-Trời sinh ra thế !
Đi được một quãng, lại thấy con vịt đang bơi dưới ao, bố lại hỏi:
-Tại sao nó nổi?
Người học trò lại nói chữ:
-Đa mao, thiểu nhục tắc phù.
Người làm ruộng lại nói:
-Trời sinh ra thế !
Đi một quãng nữa, thấy hòn đá nức đôi, bố lại hỏi:
-Sao nó lại nứt ra thế này?
Người học trò vội trả lời:
-Phi nhân đả, tắc thiên đả.
Người làm ruộng vẫn nói:
-Trời sinh ra thế !
Đến lúc về nhà, ba bố con ngồi uống rượu, bố khen con rể học trò hay chữ, chê con rể làm ruộng dốt. Người con rể làm ruộng tức mình mới hỏi lại người học trò:
-Tôi thì dốt thật, nhưng mà chú nói: “Trường cảnh tắc đại thanh” là nghĩa làm sao?
Người học trò đáp:
-Nghĩa là cổ dài to tiếng.
Người làm ruộng mới bẻ:
-Thế con ểnh ương cổ đâu mà tiếng cũng to?
Rồi lại hỏi:
-Chú nói: ” Đa mao, thiểu nhục tắc phù” là nghĩa làm sao?
Người học trò đáp:
-Nghĩa là: ” Nhiều lông, ít thịt thì nổi ”
Người làm ruộng lại bẻ:
-Thế thì cái thuyền, lông đâu, thịt đâu mà cũng nổi?
Rồi lại hỏi:
-Còn chú nói: “Phi nhân đả, tắc thiên đả” là nghĩa làm sao?
Người học trò trả lời:
-Nghĩa là: “Nếu không phải người đánh thì trời đánh ”
Người làm ruộng tức mình liền bẻ luôn:
-Thế cái L… mẹ chú thì ai đánh mà cũng nứt đôi ra? Chẳng cũng là trời sinh thế cả hay sao?
Lúc đó ông bố vợ mới gật gù nói:
-Ừ, dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng !!!
Hàm ý sâu xa – với tính “minh triết đảo” của câu chuyện này, chính là kết luận của ông bố vợ. Ông thừa nhận tính trực quan của nhận thức và phủ nhận tính lý thuyết của sự tổng hợp nhận thức. Tất nhiên, tính lý thuyết của sự tổng hợp nhận thức chỉ đúng, khi nó là một hệ thống lý thuyết hoàn hảo. Lý thuyết thống nhất (Grand Unification Theory).  Nó sẽ sai, như câu chuyện dân gian Việt. Vì nó chỉ phản ánh một cách, cục bộ, riêng phần cho những hiện tượng liên quan đến nó.
Trở lại với câu chuyện đụng xe. Nền văn hiến Việt kỳ vĩ, một thời huy hoảng ở miền Nam sông Dương – chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch – đã giải thích một cách xuất sắc theo một phương pháp thực hiện qua mô hình biểu kiến tập hợp những yếu tố tương tác của vũ trụ. Đó chính là khoa Tử Vi Đông phương; hoặc các phương pháp dự báo khác. Với phương pháp dự báo của Tử Vi, nó không cần biết đến đèn đỏ, hay xe không phanh thắng, chạy quá tốc độ…Mà chỉ căn cứ vào những dữ liệu được lập thành trên lá s, để xác định rằng: Ngày đó, tháng đó, năm đó và vào giờ đó, đối tượng sẽ gây tai nạn giao thông. tất nhiên phải là thấy giỏi. Đấy là cách giải thích trên cơ sở một hệ thống lý thuyết hoàn hảo và chi tiết cho đến từng hành vi của con người.
Còn tiếp

Chú thích: Định nghĩa về “Minh triết đảo”: Một ý tưởng mô tả bản chất của sự kiện và vấn đề, nhưng về hình thức thể hiện ngược lại với điều muốn nói. Đây là hiện tượng hiếm xày ra. Thường chỉ dùng trong mô tả những ẩn ý. Thí dụ: Trong bộ phim hoạt hình “Cướp Biển”, trong đó, con khỉ cướp biển (Rất giống ngài Obama)  phát biểu với con voi (Rất giống ngài Tập Cận Bình), rằng: “Biển rất chật, không đủ chỗ cho hai chúng ta”.
Đạo diễn đã không để cho phe con Voi nói câu này, mà cho con Khỉ tướng cướp. Vì muốn che giấu một ẩn ý. Tôi đã đưa nội dung này lên dd Lý học của TTNC LHDP, topic: Chiến lược và sự kiến Châu á Thái Bình Dương. Phim sx năm 2012.
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi