NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA MỘT HỆ THỐNG LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT.

Thưa quý vị và các bạn.
Vấn đề về một Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ (Unified field theory), đã được các khoa học gia tinh hoa của nhân loại, đặt ra từ nửa đầu thế kỷ XX. Nhưng đến nay mô hình về lý thuyết Thống Nhất vẫn rất mơ hồ.
Quý vị và các bạn cũng biết rõ ràng:
Tôi đã chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành & Kinh Dịch, chính là Lý Thuyết Thống Nhất ,mà nhân loại đang mơ ước. Và tôi cũng chứng minh rằng: Thuyết ADNh & Kinh Dịch không có xuất xứ trong lịch sử nhận thức được của nền văn minh hiện đại. Nó thuộc về một nền văn minh tồn tại trước lịch sử của nền văn minh của chúng ta. Tôi định danh là nền văn minh Atlantic. Nền văn minh này đã sụp đổ bới một thiên tai mang tính toàn cầu. Và Việt tộc chính là hậu duê còn sống sót của nền văn minh này. Đối với tôi> Đây là phương tiện hữu hiệu nhất, để chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử, chủ nhân đích thực kế thừa những tri thức của nền văn minh Atlantic. Tôi đã chứng minh hai tiền đề cho hệ thống lý thuyết ADNh & Kinh Dịch, trong hai cuốn sách đã xuất bản, là “Tìm về cội nguồn kinh Dịch’ và “Minh triết Việt trong văn minh Đông phương” (Nxb HD 2019 & 2020).
Nội dung chính của bài viết này, tôi đã đề cập đến trong bài Quốc tế các nhà giáo 20/ 11, trên Fb của tôi. Nhưng tôi nghĩ đây là một đề tài nghiêm túc, nên viết riêng để quý vị và các bạn, cùng anh chị em các lớp Lạc Việt tham khảo.
SW Hawking nói:
“Để thành lập một hệ thống Lý thuyết thống nhất, trong điều kiện nền tảng tri thức hiện nay của nền văn minh, chúng ta phải thành lập những hệ tiền đề”.
Và sau những hệ tiên đề đó, cần phải xác định các nội dung sau đây:
1/ Phải xác định vũ trụ ở giây ‘0’ là trạng thái Tuyệt đối. Nếu thế giới này không công nhận điều đó, thì coi như một tiền đề, từ đó xác định một mô hình vũ trụ trước Bic Bang.
2/ Xác định một “Không Gian đa chiều”. Về vấn đề này, tôi đã chứng minh trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” nói trên. Trong cuốn sách này, tôi đã chứng minh rằng:
Quan niệm “không gian ba chiều” là một suy nghĩ lối mòn, vì chúng ta tiếp thu từ bé. Thực chất ý niệm về ‘Không gian ba chiều”, chỉ là một mô hình biểu kiến, dùng để mô tả các chuyển động của mọi trạng thái vật chất trong vũ trụ. Bản thể của Không Gian là “n” chiều.
Không xác định “Không Gian ‘N’ chiều” sẽ không thể lập thành một Lý Thuyết thống nhất.
3/ Nhà bác học Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã nói:
“Để giải thích một hiện tượng dù rất nhỏ, cũng phải viện dẫn đến toàn thể lịch sử hình thành vũ trụ”>
Hoàn toàn chính xác! Nhưng nhận xét này của GS Trịnh Xuân Thuận, phải được chứng minh bằng một “Trường tương tác” bao trùm khắp vũ trụ trong Không gian và Thời gian lịch sử của nó. Tức là phải có một “Trường Tương Tác” này, mới chứng minh được nhận xét của Gs Trịnh Xuân Thuận. Đó chính là khái niệm “KHÍ”, trong Lý Học Đông phương> Một danh từ không có trong Tự điển của khoa học hiện đại.
Trên cơ sở định nghĩa về “Khí” của tôi > đã mô tả trong sách nói trên, áp dụng vào vũ trụ trước Trần Thời Gian > sẽ giải thích toàn bộ các mối liên hệ của các hiện tượng trong lịch sử vũ trụ, liên quan đến sự xuất hiện của một hiện tượng nhò nhất, mà Gs Trịnh Xuân Thuận đã nói ở trên.
Khí> Trường tương tác > phải được mô tả với tư cách là một thực tế tồn tại của vật chất trong vũ trụ phía trước “Trần Thời gian” và sự bùng nổ của vũ trụ.
Nó không thể là hệ quả của tư duy tổng hợp giải thích về nó> Lý thuyết Dây > Sai ngay từ cách đặt vấn đề của hệ thống Lý thuyết này. Định nghĩa về Khí của tôi là:
“Khí là một trạng thái tồn tại của vật chất, được hình thành sự tương tác của Vật chất và tương tác trở lại với vật chất hình thành nên nó”.
Với định nghĩa này> Thì Khí chính là trạng thái thứ ba sau giây “0′ trong lịch sử vũ trụ. và đó chính là Trường tương tác kết nối toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ này.
4/ Mô hình Bát quái và hệ thống 64 quẻ, chính là mô hình Toán học theo hệ Nhị phân, mô tả nội dung của thuyết ADNh. Phù hợp với tiêu chí khoa học xác định:
“Một lý thuyết được coi là khoa học, thì phải có một mô thức Toán học mô tả được nó”.
Vì sao phải dùng Hệ Toán học Nhị phân, để mô tả sự vận đông, tương tác trong toàn thể vũ trụ?
Bởi vì theo sự tìm hiểu của tôi> Hệ Toán học Nhị Phân có khả năng tính chính xác bất kỳ con số nào sau dấu phẩy của số ‘Pi’. Mà với kiến thức phổ thông, thì số Pi, chính là con số vô tỷ để tính toán các trị số liên quan đến các vòng tròn. Trong khi đó, tất cả sự vận động của vũ trụ, ngay sau giây “0” , là chuyển động cong theo Tỷ Lệ vàng. Do tính chất đó của Hệ Toán Học Nhị phân. có thể tính toán chính xác sự vận động của toàn thể lịch sử vận động và tương tác trong không gian vũ trụ.
5/ Định nghĩa lại tất cả các khái niệm mơ hồ trong các di sản còn lại của nền văn hiến Việt, thể hiện dưới các bản văn chữ Hán.
Một trong ba yếu tố cần thiết cho sự phát triển của nền văn minh, chính là hệ thống ngôn ngữ, đủ để diễn đạt các khái niệm liên quan. Tôi đã chứng minh rằng:
Ngôn ngữ Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong toàn bộ hệ thống ngôn ngữ hiện nay. Nó có thể dịch toàn bộ các hệ thống ngôn ngữ phi Việt ra ngôn ngữ Việt và không có chiều ngược lại.
Do đó, để phục hồi các khí niệm mơ hồ trong các di sản Việt bị Hán hóa. Chỉ có hệ thống Việt Nho, mới diễn đạt và phục hồi những khái niệm mơ hồ qua những di sản Việt bị Hán hóa.
Theo sự tìm hiểu của tôi, thì ông cha ta gọi hệ thống chữ Hán đang dùng trong các cổ thư, là chữ Nho. chứ không phải là chữ Hán Việt.
“Ông Đồ Nho” chứ không có ông Đồ Hán Việt> Một bằng chứng sinh động, ai cũng biết> Ngay nửa đầu thế kỷ XX, cụ Tú Xương viết:
‘Thôi có làm chi cái chữ “NHO”
Ông nghè, ông cống cũng nằm co.”.
Chỉ đến khi ông Đào Duy Anh, viết cuốn từ điển Hán Việt, thì mới hình thành ý tưởng chữ Hán Việt. Nếu chấp vào đấy, sẽ không thể phục hồi được bản chất các khái niệm được mô tả trong các di sản Việt bị Hán hóa. Thí dụ: “Thái Cực” > Hiểu theo nghĩa Việt Nho là Trạng thái vượt qua mọi giới hạn. Hiểu theo Chu Đôn Di là “vô cực”?!?
Với tôi> Không có khái niệm từ Hán Việt.
6/ Xác định nguyên lý căn để của thuyết ADNh & Kinh Dịch, chính là ‘Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”. Đây chính là nguyên lý căn để và cơ sở để phục hồi tất cả những giá trị đích thực của thuyết ADNh & Kinh Dịch. và xác định chủ thể nền tảng tri thức của văn minh Cổ Đông phương, nhân danh nền văn hiến Việt.
Nhân đây, tôi cũng cần xác định rằng:
Bất cứ một học viên các khóa Lạc Việt, không ứng dụng nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” trong các ứng dụng của văn minh Cổ Đông phương, đều không phải ý thức truyền đạt của tôi. Họ có quyền tự do ứng dụng và các học viên cũng đủ thành phần. Tôi chịu trách nhiệm về nội dung những bài giảng của tôi> Nhưng không chịu trách nhiệm về ứng dụng của họ. Đã có học viên theo tôi lâu năm. Nhưng vẫn ứng dụng theo sách cổ chữ Hán> Không đổi chỗ Đoài Ly, khiến cho một doanh nghiệp tý nữa phá sản, nếu tôi không kịp thời sửa chữa.
SW Hawking viết;
“Nếu quả thật có một Lý thuyết thống nhất, thì chính nó quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?”
Đây là một sự xác định của một thiên tài.
Cho nên, với những kẻ phản đối chỉ đơn giản là Thượng Đế chưa khai mở cho họ> vì cấu trúc não chưa hoàn chỉnh, vẫn còn đang trong quá trình tiến hóa..
7/ Định nghĩa lại nội hàm khái niệm phạm trù vật chất:
Khái niệm ‘vật chất’ là một phạm trù mang tính triết học, hệ quả của tư duy tổng hợp trừu tượng> Do đó, hiểu về bản thể nội hàm này, sẽ tùy thuộc vào sự nhận thức thực tế khách quan được tổng hợp của một nền văn minh. Lịch sử nhân loại đã bốn lần định nghĩa lại về vật chất. Định nghĩa về vật chất của tôi, là:
“Tất cả mọi trạng thái tồn tại có năng lượng và tương tác đều là Vật chất”.
Với định nghĩa này, Thượng Đế cũng là một dạng tồn tại của vật chất> nếu quả thực Ngài đang chi phối vũ trụ này. Đây cũng chính là sự xác định tính Tuyệt Đối ở giấy “0′, trong lịch sử hình thành vũ trụ.
Ngài Albert Einstein đã viết:
“Tương lai của khoa học sẽ không có Thượng Đế của những cá nhân”.
Với tôi> Đây là yếu tố quyết định, khiến nền văn minh này phải công nhận Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử và là chủ nhân đích thực của nền văn minh Cổ Đông phương.
“Cứu cánh của nhân loại đến từ phương Đông”.
Một nữ Chiêm tính gia nổi tiếng của Hoa Kỳ > Jeane Dixon > đã xác định điều này. Bà ấy nói đúng đấy> Với lý thuyết Thống Nhất thì bói toán rất có ‘cơ sở khoa học”. Hi.
Quý vị, các bạn và anh chị em tham khảo đường link dưới đây, mô tả về một lý thuyết thống nhất.

https://vusta.vn/vai-net-ve-ly-thuyet-thong-nhat-trong…

NGÀI ARISTOLES . đã hoàn toàn đúng khi mô tả về nền văn minh huyền vĩ Atlantic> có trước nền văn minh của chúng ta.
Nhưng sai lầm của ngài lại chính là quan niệm cho rằng Atlantic chỉ là nền văn minh của một vùng lãnh thổ. Sai!.
THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Bài viết dưới đây của Tiến sĩ Vật Lý Lý thuyết >Thai Thuong Triet. Khi comment vào bài viết của tôi “NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA MỘT HỆ THỐNG LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT” được chia sẻ trên Fb của Xuân Hậu. Người này đã bị tôi chặn nick từ lâu trên Fb của tôi.
Sự phản biện ngạo mạn của người này, tôi chia sẻ ngay lên đây bằng coppi bài viết. Điều này cho thấy rằng: Tôi không coi trình độ của người này, đủ tầm để phản biện tôi, Nên tôi công khai bài viết của người này để quý vị và các bạn tham khảo.
*
Toàn văn bài viết của Thái Thường Triết:
[“VẬT LÝ HIỆN ĐẠI CHỈ NHƯ ÁNH ĐOM ĐÓM LẬP LOÈ DƯỚI ÁNH SÁNG BAN NGÀY CỦA THUYẾT TỔNG QUÁT VŨ TRỤ, NẾU KHÔNG CHỊU ĐỌC THUYẾT NÀY ĐỂ HIỀU VŨ TRỤ, THÌ ĐỪNG TỰ XƯNG LÀ NHÀ KHOA HỌC CHÂN CHÍNH NỮA, MÀ HÃY NGẬM MỒM VÀO!
Thế giới vật chất chỉ tồn tại trong thực tế, còn quá khứ và tương lai của thế giới vật chất chỉ tồn tại trong tư duy trí tuệ con người mà thôi. Vậy nên khi nghiên cứu sự vận động của thế giới vật chất trong thực tế, thì thời gian chỉ được đề cập trong khái niệm vận tốc tức thời tại thời điểm quan sát.
Thuyết Tương Đối không cho phép chúng ta có quan niệm về thời gian và không gian tuyệt đối do đó cũng không có khái niệm đồng thời và khái niệm vecto trong không gian cong đa chiều. Các giáo trình vật lý lý thuyết hiện nay chấp nhận thuyết này vậy mà vẫn mặc nhiên coi đồng thời là đương nhiên, cố tình phớt lờ sự vô lý đến mức hài hước này, rồi áp dụng Giải Tích Vecto trong toán học để nguỵ biện, biến vật lý lý thuyết thành một mớ hỗn độn như ngày nay.
Hãy kích vào bất cứ chổ nào trong file PDF sau để đọc toàn bộ thuyết Spin!
Hết trích.
Thưa quý vị và các bạn.
Một lý thuyết khoa học phải thỏa mãn những tiêu chí khoa học> làm chuẩn mực để thẩm định tính khoa học của nó. Một Lý thuyết thống nhất còn cần nhiều tiêu chí đặc thù hơn nữa, vì nó mô tả chân lý cuối cùng của vũ trụ. Thuyết Spin của người này, không thỏa mãn tiêu chí nào> Thí dụ: Thượng Đế nằm ở vị trí nào trong thuyết spin của người này> với tiêu chí: Một Lý thuyết Thống nhất phải giải thích được các vấn đề tôn giáo và tâm linh!
Thuyết ADNh & Kinh Dịch – phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt > có thể giải thích luôn ý nghĩa của biểu tượng quả táo cắn dở của bà Eva.

Xin cảm ơn quý vị và các bạn quan tâm.

THẬT TỘI NGHIỆP CHO VỊ TIẾN SĨ NÀY> Phải giới thiệu lý thuyết của họ trên một Fb có số người quan tâm giới hạn. nên tôi đưa vào fb của tôi với gần 9000 người theo dõi. Cái ngạo mạn của người này thể hiện ở đoạn trích dẫn sau đây:
Trích:
[“Thế giới vật chất chỉ tồn tại trong thực tế, còn quá khứ và tương lai của thế giới vật chất chỉ tồn tại trong tư duy trí tuệ con người mà thôi”].
Vậy cái vật chất chỉ tồn tại trên thực tế ấy, tính bằng đơn vị thời gian nào? > Một giây; hay 1/ 1000 giây? Quá khứ và tương lai của thực taki5 vật chất đó tính bằng đơn vị thời gian nào?

Bởi vâỵ> sự nhầm lẫn khái niệm đã dẫn người này có thể “Tẩu Hỏa nhập ma”.

HƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Trong chủ đề này, tôi đã dẫn lời SW Hawking như sau:
]”Nếu quả thật có một Lý thuyết thống nhất, thì chính nó quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?”
Đây là một sự xác định của một thiên tài”].
Nó xác định nhận xét thiên tài Albert Einstein, hoàn toàn đúng, là:
“Chúa không chơi trò xúc sắc”> Tức là toàn bộ lịch sử vũ trụ từ giây “0”, mang tính quy luật và có khả năng tiên tri> Hay nói rõ hơn> tất cả nền tảng tri thức của nền văn minh này, có thể xác định được bản thể của một Lý Thuyết thống nhất hay không? Còn mấy Viện Hàn Lâm khoa học > Những phần từ trí thức tinh hoa của nền văn minh hiện đại> công nhận hay không công nhận> cũng chưa đủ tư cách là một quyết định đúng sai cho một hệ thống Lý Thuyết thống nhất > theo tinh thần diễn ngôn của ngai Hawking. Cho nên, đừng đem tiêu chí “đăng báo” khoa học nước ngoài để thẩm định Lý thuyết thống nhất với tôi. Cho nên tôi đã viết:
[“Cho nên, với những kẻ phản đối chỉ đơn giản là Thượng Đế chưa khai mở cho họ> vì cấu trúc não chưa hoàn chỉnh, vẫn còn đang trong quá trình tiến hóa…”]
Tôi đã nói nhiều lần và cần phải nhắc lại rằng: Ngay cả việc xác định: Thuyết ADNh & Kinh Dịch > Phục hổi nhân danh nền văn hiến Việt > với tôi chỉ là “PHƯƠNG TIỆN”, chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến> một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử.
Cho nên tôi không cần ‘đăng báo”> Quyết định cuối cùng thuộc về Thượng Đế.

Tại rách việc, viết chơi vậy thôi> Tiến sĩ Thái Thương Triết> không phải là đối tượng tôi quan tâm.

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Bà xem bói nổi tiếng thế giới, Baba Vanga > đã nói:
“Một Lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại” > Trong cuốn “Vanga – nhà tiên tri vĩ đại”. Nxb CAND 1997 (hoặc 1996/ 1998), còn có đoạn “…nhưng còn lâu lắm. Chỉ đến khi dân tộc Arxyri bị hủy diệt”.
Báo hại Thiên Sứ tôi phải cất công đi tìm dân tộc Arxyri, từ trong cổ sử của nhân loại. Lão Gàn đã tìm ra manh mối dân tộc Arxyri> trong một cuốn Kinh Thánh, cũ đến mức, rất khó để lật từng trang sách. Tạm thời nguồn gốc dân tộc Arxyri, thuộc bí mật vũ trụ chưa thể công bố.
Nhưng qua lời bói toán của bà Vanga, quý vị cũng thấy: Ngay cả với những hiện tượng tâm linh> Thuyết ADNh& Kinh Dịch > phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt> cũng phù hợp với dự báo của bà Vanga.
Có thể nói rằng:
Duy nhất thuyết ADNh & Kinh Dịch > phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt>phù hợp với tất cả các tiêu chí của một lý thuyết khoa học và Lý Thuyết thống nhất. Kể cả những tiêu chí đặc thù riêng cho nó. Và không chỉ dừng ở đấy> Nó còn phù hợp với tất cả những vấn đề thuộc về tâm linh.
Hiện nay, theo tôi> Thuyết ADNh & Kinh Dịch > phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt> là ứng cử viên sáng giá nhất, trong tất cả những thứ lý thuyết liên quan đến vũ trụ.
Chân lý không cần đến số đông. Nên nếu cả thế giới này công nhận hay không công nhận > Tôi không quan tâm> Tôi cần sự phán quyết cuối cùng của Thượng Đế.
[“Nếu quả thật có một Lý thuyết thống nhất, thì chính nó quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?”]
THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Từ sáng đến giờ, bệnh tưởng ‘viên tịch”. Đến bây giờ mới hơi tỉnh lại và lên Fb. Tôi sẽ phân tích lần lượt từng yếu tố xác định một LÝ THUYÊT THỐNG NHẤT, mà tôi đã trình bày ở chủ đề này.
TIỀN ĐỀ THỨ NHẤT:
Thiên Sứ viết:
Trích:
[“1/ Phải xác định vũ trụ ở giây ‘0’ là trạng thái Tuyệt đối. Nếu thế giới này không công nhận điều đó, thì coi như một tiền đề, từ đó xác định một mô hình vũ trụ trước Bic Bang”.
Những luận đề chứng minh liên quan:
A/ Không thể có hai lý thuyết Thống Nhất> Không có khái niệm “Đa Vũ trụ”. Đây là sự đánh tráo khái niệm> Vì khái niệm vũ trụ là một phạm trù bao trùm không gian/ Thời gian> Nên chỉ có MỘT vũ trụ> Và nó phải được bắt đầu từ “TÍNH TUYỆT ĐỐI”. Đây chính là cơ sở thực tế của một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. Nếu ko thừa nhận tính Tuyệt Đối ở giây “0′ của vũ trụ> thì phải coi nó như một TIỀN ĐỀ> và sẽ không thể có LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. Sau đó, hệ luận chứng minh cho tiền đề này, chính là tiêu chí khoa học để thẩm định một hệ lý thuyêt khoa học được coi là đúng, công với các tiêu chí cho một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT &Lý thuyết khoa học nói chung.
B/ Tôi cần xác định rằng:
Bất cứ một phương thức toán học nào của nền văn minh hiện nay, đều không thể mô tả được tính TUYỆT ĐỐI & CẬN TUYỆT ĐỐI> Khái niệm “ĐIỂM’ > cơ sở của tất cả mọi phương thức Toán học của nền văn minh hiện nay> không có định lượng> Đó chính là cái CẬN TUYỆT ĐỐI. Và đó cũng chính là Nghi II trong thuyết ADNh & Kinh Dịch.
C/ Tôi cần xác định rằng:
Bất cứ một lý thuyết Vật Lý hoặc một phương thức Toán học nào của nền văn minh hiện nay> Đều vô vọng trong sự mô tả một Lý thuyết thống nhất, bằng hệ phương pháp luận của nó đều sai>Cho dù với một nền văn minh cao cấp hơn nền văn minh hiện nay> và nó là công trình tập thể của một Viện Hán lâm khoa học nổi tiếng thế giới, trong tương lai. Nhưng nếu dùng bât cứ phương thức Toán/Lý, đều chỉ mô tả tối đa đến phía sau Trần Thời gian.
Không thừa nhận tính TUYỆT ĐỐI ở giấy -0″ của vũ trụ> Nhận định của ngài Albert Einstein sẽ sai>khi ngài xác định rằng:
“Tương lai của khoa học sẽ loại bỏ Thượng Đế của những cá nhân’.
Diễn nôm nhận dịnh của ngài Eistein> Thượng Đế có tính TUYỆT ĐỐI> Bởi vậy, ngài Einstein sẽ sai> Nếu giấy “0” không phải tính tuyệt đối. Tất nhiên sẽ không thể có Thượng Đế nằm ngoài Thượng Đế cá nhân của tín đồ các Tôn giáo.
Do đó, tôi cần xác định rằng: Tất cả các tri thức Toán Lý của nền văn minh hiện nay và cả tương lai, đều không thể mô tả được tính TUYỆT ĐỐI ở giây “0′ của vũ trụ. Bởi vì tất cả khả năng tư duy của con người – trong đó có hệ TOÁN LY – đều chỉ có sau cái TUYỆT ĐÔI, cho nên nó không thể mô tả cái TUYỆT ĐỐI.
Đức Phật nói:
“Không thể có hai cái “TÍNH THẤY” nhìn thấy nhau”.Do đó, nếu Thượng Đế nói “Không!” > thì cũng theo dự ngôn của thiên tài SW Hawking> “Nhân loại chỉ còn cách lên sao Hỏa để ở”.
Theo như tôi được biết> Trước đây, gần như tuần lễ nào, cũng có những cuộc hội thảo quốc tế về những luận đề, liên quan đến Lý thuyết thống nhất trên toàn thế giới.
Để khẳng định> tất cả đều sai.
Tôi sẵn sàng đưa lên Fb của tôi tất cả những luận đề về Lý Thuyết thống nhất, bằng bất cứ ngôn ngữ chữ viết nào. Để từ đó, quý vị, các bạn và anh chị em trong các khóa Lạc Việt có thể so sánh đối chiếu với thuyết ADNh & Kinh Dịch > phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt.
Người đầu tiên là luận đề về học thuyết Spin của Tiến Sĩ Vật Lý Lý thuyết Thái Thường Triêt. Fb của tôi có gần 9000 người theo dõi. Việc giới thiệu đường linh luận đề của người này, về lý thuyết Spin của ông ta, chứng tỏ tôi ko coi đó là một thứ tôi cần quan tâm. Sẵn sàng tạo điều kiện cho ông ta phổ biến luận đề Spin của ông ta và của cả thế giới này.
Tôi cần xác định một lần nữa:
Tất cả nền tảng tri thức – trong cả quá trình lịch sử – của nền văn minh hiện nay, chưa đủ khả năng để thành lập một hệ Lý thuyết thống nhất.
Cho nên tôi thành thật khuyên những ai có tham vọng – ở bất cứ một địa vị học thuật nào > Từ viện sĩ Viện Hàn Lâm – hoặc toàn thể Viện Hàn Lâm – cho đến trẻ em bán vé số – có tham vọng diễn tà một hệ thống Lý Thuyết thống nhất, theo cách nghĩ của họ, rằng: Hãy suy nghĩ lại các hệ luận của họ.
Họ cứ tưởng lập thành một Lý thuyết thống nhất, dễ như ăn kẹo. Nó là quá trình của cả một nền văn minh> mà tôi gọi là Văn Minh Atlantic.
Tôi nhắc lại truyền ngôn nối tiếng của thiên tài SW Hawking:
“Nếu quả thực có một Lý thuyết Thống nhất> Thì chính nó sẽ quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?!”.
Bởi vậy, dù tôi có đưa tất cả các hệ luận về một lý thuyết thống nhất . của bất kỳ ai trên thế giới này, lên Fb của tôi> Đều ko có giá trị thẩm định> Quyết định cuối cùng thuộc về Thượng Đế.
Tôi nhắc lại rằng:

Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, chưa đủ để thành lập một hệ Lý thuyết thống nhất.

Tôi sẽ phân tích lần lượt từng yếu tố xác định một LÝ THUYÊT THỐNG NHẤT, mà tôi đã trình bày ở chủ đề này.
TIỀN ĐỀ THỨ HAI.
Trích:
[“2/ Xác định một “Không Gian đa chiều”. Về vấn đề này, tôi đã chứng minh trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” (Nxb HD 2020).. Trong cuốn sách này, tôi đã chứng minh rằng:
Quan niệm “không gian ba chiều” là một suy nghĩ lối mòn, vì chúng ta tiếp thu từ bé. Thực chất ý niệm về ‘Không gian ba chiều”, chỉ là một mô hình biểu kiến, dùng để mô tả các chuyển động của mọi trạng thái vật chất trong vũ trụ. Bản thể của Không Gian là “n” chiều.
Không xác định “Không Gian ‘N’ chiều” sẽ không thể lập thành một Lý Thuyết thống nhất.
Trước hết, tôi lưu ý quý vị, các bạn và anh chị em các khóa Lạc Việt rằng:
“Điểm là một khái niệm trừu tượng và không có định lượng”. Nó là hệ quả của TƯ DUY TRỪU TƯỢNG TỔNG HỢP (Theo cách mô tả của tôi> Có nội hàm gần giống thuật ngữ “Tư Duy phức hợp của tri thức khoa học hiện đại).
Xin lưu ý: Khái niệm “Điểm > theo cách diễn đạt của tôi> Tương ứng với Nghi II, trong Lý học Việt> Hoặc Đức Chúa Jesu trong Thiên Chúa giáo.
Từ khái niệm “Điểm” > cận tuyệt đối, chúng ta quán xét lại định nghĩa về ‘mặt phẳng” trong Toán học, như sau:
“Qua ba điểm trong không gian bất kỳ, chỉ có thể xác định một mặt phẳng và chỉ một mà thôi”.
Như vậy, khái niệm “mặt phẳng” cũng chỉ là một biểu tượng quy ước của tư duy. Vì nó phải có một nền tảng từ khái niệm “Điểm”> cũng là mô hình biểu kiến của Tư Duy. Từ đó chúng ta sẽ thấy mô hình không gian ba chiều> Cũng chỉ là mô hình biểu kiến> trong đó, mô tả sự chuyển đông Đa chiều, của bất cứ một trạng thái tồn tại nào của vật chất. cho nên, nó không thể là một thực tại của ‘Không gian ba chiều”.
Bây giờ chúng ta xem lại Định Lý Thales. Tôi nghĩ> bất cứ ai học qua lớp 9/ 12 đều biết định lý này. Ngày tôi còn học trên ghế nhà trường, định lý Thales được mô tả như sau.
Trích:
“Nếu có một chùm đường thẳng, cắt hai đường thẳng song song thành những đoạn thẳng tỷ lệ thì chúng sẽ đồng quy tại một điểm”.
bây giờ, tra cứu trên Google, định nghĩa có thay đổi. Nhưng nội hàm cơ bản không thay đổi. Và ngay từ thời điểm đó > cách đây 5000 năm trước > tôi đã hỏi thấy giáo của tôi:
Thưa thày! Nếu các đoạn tỷ lệ đó bằng 1/ 1 > (tức chùm đương thẳng đó song song với nhau_> thì làm sao có thể đlồng quy tại một “điểm”.
Thày tôi trả lời:
“Nó gặp nhau ở VÔ CỰC”.
Ngày ấy, tôi đã im lặng và suy tư, cho cách giải thích của thày tôi. Vì trong tôi – lúc đó chỉ một gã gà tồ khoảng 15/ 16 tuổi – chưa có khái niệm hoàn chỉnh về “Vô Cực”> Cho đến tận ngày hôm nay > 5000 năm sau> khi tìm hiểu về Lý học Việt – tôi nhắc lại là: Lý học Việt – tôi đã nhận thấy rằng:
Chính định luật Thales nổi tiếng trong Toán học> Đã thừa nhận một mô hình CẬN TUYỆT ĐỐI. Tức là: những chùm đường thẳng khi chia cắt 2 đường thẳng song song, thành những đoạn Tỷ Lệ bằng “1”, thì chúng chỉ có thể gặp nhau ở khoảng cách “Cận Tuyệt Đối”. Tất nhiên, phía trước cái “Cận Tuyệt đối> Phải là cái Tuyệt Đối. Vì bản thân khái niệm “Điểm” trong toán học cũng là một khái niệm “Cận Tuyệt đối> Tôi đã chứng minh và xác định ở trên.
Tất nhiên, với “không gian Ba chiều”, ăn sâu vào tiềm thức mỗi con người từ hàng trăm năm qua, sẽ khó cảm nhận được những luận cứ của tôi. Nhưng tôi cần lưu ý rằng: Với không gian Ba chiều> sẽ không thể mô tả được giai đoạn vũ trụ trước Trần Thời Gian”. Hay nói rõ hơn:
Nếu căn cứ vào không gian Ba chiều, thì cơ chế nào để các dạng vật chất đầu tiên của vũ trụ sẽ hình thành và một diễn biến lịch sử đến các Thiên Hà như ngày nay?
Nhà bác học Thiên tài SW Hawking đã mô tả một không gian hai chiều, trong cuốn sách nổi tiếng của ông “Lược sử thời gian”. Và ngài cho rằng: Không gian Ba chiều mới giải thích được sự tồn tại của các sinh vật và các thực tại vật chất trong lịch sử vũ trụ. Tôi chắc chắn thuyết Bic Bang sẽ không thể chứng minh được điều này. Bởi vì tôi đã chứng minh rằng:
Khái niệm “Điểm”; ‘Đường thẳng’ và ‘Mặt phẳng> đều chỉ là mô hình biểu kiến không có định lượng. Đơn giản thôi:
Độ dày của một mặt phảng là bao nhiêu, khi nó có cơ sở từ ba ‘điểm”. Vốn không có Định Lượng?.
Tôi cần xác định rằng:
Bất cứ một phương thức toán học nào của nền văn minh hiện nay, đều không thể mô tả được tính TUYỆT ĐỐI & CẬN TUYỆT ĐỐI> Ngoại trừ khái niệm “ĐIỂM’ > cơ sở của tất cả mọi phương thức Toán học của nền văn minh hiện nay> không có định lượng> Đó chính là cái CẬN TUYỆT ĐỐI. Và đó cũng chính là Nghi II trong thuyết ADNh & Kinh Dịch. Nhưng khái niệm ‘điểm’ lại không phải là một phương thức Toán học.

Xin cảm ơn quý vị và các bạn quan tâm chia sẻ.

Thiên Sứ viết;
Trích:
[“3/ Nhà bác học Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã nói:
“Để giải thích một hiện tượng dù rất nhỏ, cũng phải viện dẫn đến toàn thể lịch sử hình thành vũ trụ”>
Hoàn toàn chính xác! Nhưng nhận xét này của GS Trịnh Xuân Thuận, phải được chứng minh bằng một “Trường tương tác” bao trùm khắp vũ trụ trong Không gian và Thời gian lịch sử của nó. Tức là phải có một “Trường Tương Tác” này, mới chứng minh được nhận xét của Gs Trịnh Xuân Thuận. Đó chính là khái niệm “KHÍ”, trong Lý Học Đông phương> Một danh từ không có trong Tự điển của khoa học hiện đại.
Trên cơ sở định nghĩa về “Khí” của tôi > đã mô tả trong sách nói trên, áp dụng vào vũ trụ trước Trần Thời Gian > sẽ giải thích toàn bộ các mối liên hệ của các hiện tượng trong lịch sử vũ trụ, liên quan đến sự xuất hiện của một hiện tượng nhò nhất, mà Gs Trịnh Xuân Thuận đã nói ở trên”].
Thưa quý vị và các bạn.
Sự xác định của Giáo sư Trịnh Xuân Thuận là hoàn toàn chính xác. Nhận xét của Gs Trịnh Xuân Thuận, cũng tương ứng với các bậc Đại Sư của các triết gia và các Đấng giáo chủ các tôn giáo, từ những nền văn minh Cổ đại, và cả thuyết ADNh & Kinh Dịch.
Đạo Đức Kinh viết:
“Đạo sinh nhất> Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam> Tam sinh vạn vật”.
Đức Phật nói:
“Một con cá quẫy đuổi, cũng kinh động đến Tam Thiên Đại Thiên thế giới”.
Vật Lý lượng tử xác định rằng:
.Với hai hạt Lượng Tử, đồng tính chất, dù ở cách xa với khoảng không gian vô hạn. chúng vẫn thay đổi sự vận đông, để tương ứng với nhau”.
Như vậy, phải có một “Trường Tương tác” trên thực tế, để liên kết giữa mọi hiện tượng vật chất. Nhưng nó phải được mô tả như một thực tại của vũ trụ sau giây “0”. và là nguyên nhân hình thành tất cả mọi dang vật chất> từ vật chất phi hình thể, đến các hạt vật chất nhỏ nhất> đến cả các Thiên Hà khổng lồ. Chứ không thể giải thích bằng một hệ luận của “Tư duy tổng hợp trừu tương”. Bởi vậy, về mặt lý thuyết thì Lý Thuyết Dây sai ngay từ cách đặt vấn đề.
Trường Tương Tác đó chính là khái niệm “KHÍ” trong Lý học Việt. Một danh từ không có trong tự điển khoa học hiện đại.
Chúng ta phân tích câu:
Đạo > (Thái cực, Tính Thấy/ Như lai tạng tính) sinh nhất > Thái Cực sinh Lưỡng Nghi.
Nhất sinh nhị> Khí khởi nguyên của vũ trụ> Theo định nghĩa về “khí” của tôi.
Nhị sinh Tam> Tức Khí Khởi nguyên tương tác trở lại với Thái Cực và Nghi II> Tức “Tam sinh vạn vật”.
Như vậy> “Khí”> Trường Tương Tác của vũ trụ chính là nguyên nhân kết nối toàn bộ những sự hình thành sau giây “0” và có trước “Trần Thời gian”, ‘Khí khởi nguyên” cũng là một trạng thái vật chất ‘CẬN TUYỆT ĐỐI”. Vì nó là hệ quả của cái Tuyệt Đối > Thái cực và cận tuyệt đối là nghi II
Để mô tả kỹ hơn về khái niệm “Khí khởi nguyên”, tôi cần viết một cuốn sách về nội hàm và sự vận động của “Khí”. Nhưng tôi cần xác định rằng: Tôi đã mô tả những luận đề cơ bản về sự hình thành vũ trụ trước giây “0”, trong khóa Mai Hoa Việt Dịch.

Xin cảm ơn vì sự quan tâm chia sẻ của quý vị các bạn và anh chị em.

TIÊN ĐỀ THỨ V.
Tôi bỏ qua tiên đề thứ IV> vì đã nói rõ nội dung, và được xác định bởi Giáo Sư Đại Tá Hoàng Tuấn viết hẳn một cuốn sách chuyên đề “Kinh Dịch và Hệ Nhị phân”. Nên tôi bỏ qua và chỉ nói rõ thêm về tiền đề thứ V.
Thiên Sứ viết;
5/ Định nghĩa lại tất cả các khái niệm mơ hồ trong các di sản còn lại của nền văn hiến Việt, thể hiện dưới các bản văn chữ Hán.
Một trong ba yếu tố cần thiết cho sự phát triển của nền văn minh, chính là hệ thống ngôn ngữ, đủ để diễn đạt các khái niệm liên quan. Tôi đã chứng minh rằng:
Ngôn ngữ Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong toàn bộ hệ thống ngôn ngữ hiện nay. Nó có thể dịch toàn bộ các hệ thống ngôn ngữ phi Việt ra ngôn ngữ Việt và không có chiều ngược lại”].
Thưa quý vị và các bạn.
Ba yếu tố cần cho sự phát triển của nền văn minh theo tôi -là:
1/ Nền tảng tri thức của nền văn minh.
Phải có một nền tảng tri thức của nền văn minh, mới có thể xuất hiện những phát minh về cả ứng dụng lẫn Lý Thuyết. Thuyết Tương đối không thể ra đời vào thời Nhà Tống, hoặc vào thời vua Louis XIV .
2/ Hệ thống ngôn ngữ của một nền văn minh đủ để diễn đạt nhưng phát minh từ nền văn minh là cơ sở của những phát minh này. Không ai có thể dùng tiếng Anh để giảng về Thuyết tương đối, cho một bộ lạc bán khai ở rửng Amazon.
Về điều kiện này thì ngôn ngữ Việt đã thừa khả năng> và tôi đã chứng minh trong hai cuốn sách nói trên, cùng một số bài viết liên quan, nên tôi không bàn sâu thêm.
3/ Lịch sử hình thành một học thuyết của một nền văn minh, phải phủ hợp với lịch sử của nền văn minh đó”.
Vấn đề còn lại là sự phục hồi những khái niệm.
Tôi cần xác định rằng:
Tất cả những di sản của nền văn hiến Việt bị Hán hóa, khi mô tả về thuyết ADNh& Kinh Dịch, cũng như các chuyên ngành hệ quả của học thuyết này, như: Tử vi, Địa Lý, Đông Y..v.v..đều mang tính mặc định. Thí dụ:
Như ngành Tử Vi> có hàng trăm “Trường phái ” Tử Vi và mâu thuẫn nhau . Sự mâu thuẫn nàyhông chỉ giới hạn ở tính chất các sao, mà mâu thuẫn ngay trong phương pháp luận đoán và làm bản Tử vi.
Chỉ cần một ví dụ như vậy – và trong tất cả các chuyên ngành ứng dụng, khác > Đủ để thấy các khái niệm và phương pháp rất mơ hồ. Có thể nói: từ khi nền văn hiến Việt sụp đổ ở miến Nam sông Dương Tử, tức hàng ngàn năm qua, nền văn minh Hán vẫn không thể nào phục hồi được những hệ luận từ lý thuyết căn bản (ADNh & Kinh Dịch). Trong khi đó, một tiêu chí khoa học xác định :
“Nền văn minh được coi là chủ thể của một học thuyết, thì phải phục hồi lại được học thuyết đó”.
Hơn 2000 năm qua, hầu hết những tri thức tình hoa của nền văn minh Hán, đều cố gắng giải thích các khái niệm liên quan đến Lý học Đông phương> Mà họ tự nhận là của họ.
Bởi vậy, một trong những yếu tố cần và quan trọng để phục hồi lại toàn bộ thuyết ADNh & Kinh Dịch, là phải giải thích các khái niệm mơ hô trong các bản văn chữ Hán cổ. Điều này chỉ có thể thực hiện được với những di sản của nền văn hóa truyền thống Việt.
Đức Phật mắng ngài Anan:
“Nói như nhà người thì thể tính lẫn lộn. Các thuyết Thế gian không thành lập được”.
Lời dạy của Đức Phật có thể tương đồng với khái niệm “Chính danh” trong Luận Ngữ.
Đến như ngài Anan> Đại đệ tử của Đức Phật, được Ngài dạy Offline, mà còn chưa hiểu thế nào là “Thể / Tính lẫn lộn’. Nhưng các vị học giả vờ, Trí ngủ gật, nói cứ như đúng rồi. Diễn đạt câu nói của Đức Phật thì đó chính là sự nhầm lẫn khái niệm. Do đó, vấn đề và là yếu tố quan trọng, là cần phải phục hồi những khái niệm. Tôi đã phục hồi lại những khái niệm căn bản, như AD, Tứ hành, Thái cực, Lưỡng nghi … và cả nguyên lý căn để trong mọi ứng dụng của Lý Học Đông phương, là “Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”. Sau này, để hoàn thiện thuyết ADNh & Kinh Dịch, cũng như toàn bộ các ngành ứng dụng, hệ quả của Lý thuyết này, anh chị em các lớp Lạc Việt, cần lưu ý điều này.

tôi bỏ qua tiền đề thứ VI và VII, vì nói như ve cả rồi.

VẤN ĐỀ CÒN LẠI:
VÌ SAO NGÀI SW HAWKING XÁC ĐỊNH:
“Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất, thì chính nó quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?”>
Nhận xét này của ngài Hawking xác định tính định mệnh của toàn bộ nền văn minh hiện đại mà chúng ta vẫn lên Fb ‘chém gió’.
“Chúa không chơi trò xúc xắc”, là truyền ngôn của nhà bác học thiên tài Albert Einstein.
Điều này đã xác định tính quy luật trong sự vận đông tương tác của vật chất (Theo định nghĩa của tôi), và chính tính quy luật trong sự vận động và tương tác của toàn bộ lịch sử vũ trụ, được mô tả trong thuyết ADNh & Kinh dịch, đã làm nên khả năng tiên tri của thuyết ADNh & Kinh Dịch, trong tất cả mọi phương pháp ứng dụng của nền Lý học Đông phương > Nhân danh nền văn hiến Việt> cái mà ngươi ta quen gọi là “Định Mệnh”. Định mệnh của con người qua lá số Tử vi, Tứ trụ, bốc Dịch. Sự hiểu biết về các ngành ứng dụng, chỉ thay đổi về Định Lượng. Một người phu khiêng kiệu, 600 năm trước cùng với ngày giờ tháng năm sinh của một người 600 năm sau> Thì người 600 năm sau có thể lái taxi.
khi đọc câu trên của ngài SW Hawwking, tôi rất khâm phục thiên tài của ông. Trong thư viện sách của tôi> có gần hết các tác phẩm liên quan đến ngài SW Hawking. Cuốn trùng nhiều nhất> 7 cuốn> chính là cuốn “Lược Sử thời gian”. Chính sự hiện hữu của các dự báo trong tất cả các phương pháp ứng dụng của thuyết ADNh & Kinh Dịch> đã xác định một nguyên lý bao trùm trong lịch sử vũ trụ với khả năng tiên tri.
Quyết định cuối cùng thuộc về “Tập hợp lớn nhất, bao trùm tất cả mọi tập hợp và không có một tập hợp nào lớn hơn nó”> theo mệnh đề toán học thứ II của ngài Cantor> Tức là Thượng Đế và là sự Tuyệt Đối.
Đừng ai sách mé là những mô tả của tôi về thuyết ADNh &Kinh Dịch> . Phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt > là đã được “Khoa học công nhận” chưa> Tôi chặn nick người đó ngay từ vòng gửi xe.
Tối vẫn đang chờ quyết định cuối cùng từ cõi Tuyệt Đối.
Ngài Einsten viết:
“Khoa học của tương lai sẽ không có Thượng Đế của cá nhân”.
Hoàn toàn chính xác> Bởi vậy nó phải có một tính Tuyệt Đối ở giai đaon giấy “O”, để mô tả Thượng Đế.

.

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Sẽ không bao giờ có một thuyết như thuyết ADNh& Kinh Dịch > phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt. vì chỉ có “Một Lý thuyết Thống nhất”.
Không có một hệ thống lý thuyết nào. Nhân danh bất cứ cái gì> có thể thỏa mãn tất cả các tiêu chí khoa học để thẩm định một lý thuyết khoa học và lý thuyết thống nhất =ngoại trừ thuyết ADNh& Kinh Dịch . Nó giải thích một cách hợp lý, nhất quán và hoàn chỉnh tất cả từ những di vật khảo cổ của các nền văn minh Cổ Đại> từ văn minh Cetic, Kim Tự Tháp Ai cập, di sản của văn minh Nam Mỹ…. và phù hợp với mọi tiêu chí khoa học> Cho dù khái niệm khoa học được định nghĩa nhu76 thế nào. Bây giờ và cả trong tương lai.

Do đó, nó phải có một chân lý đích thực dằng sau sự phục hồi thuyết ADNh & Kinh dịch, nhân danh nền văn hiến Việt.

:

Quy luật khách quan để phát triển của nền văn minh, chính là sự giao lưu trí thức và văn hóa. Một Lý Thuyết thống nhất, không thể là một cá nhân, hay nhóm người nghĩ ra. Nó cần một lịch sử phát triển và sự tổng hợp tri thức của nhiều khu vực văn hóa được tổng hợp. Do đó, Atlantic phải là một nền văn minh mang tính toàn cầu.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

TẾT TRUNG THU BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU

 

– Vì sao Tết Trung Thu được VN gọi là Tết Trẻ em?

– Vì sao lại múa Lân là chính, không múa rồng?

– Vì sao lại có Ông Địa trước con Lân đang múa?

– Vì sao Tết Trung Thu và tất cả các loại Tết đều có nguồn gốc từ Việt sử, trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử?

 

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.

THẤY TRÊN CÁC BÁO MẠNG VÀ TRÊN MẠNG XÃ HỘI, CHÉM GIÓ VỀ NGUỒN GỐC TẾT TRUNG THU DỮ QÚA. Nhưng lại chẳng có bài nào thật sự thuyết phục. Thí dụ như bài của báo TN dưới đây.

https://thanhnien.vn/he-lo-nguon-goc-tet-trung-thu-khien-nhieu-nguoi-giat-minh-post1498069.html?fbclid=IwAR13gltVd_AC3GfDuETBT4_JgBe-hpc9vMpWfs0ta7figwEMzvDF8KL9tVg

 

Thưa quý vị và các bạn.

Đọc bài trên báo Thanh Niên theo đường linh như trên cho thấy tác giả bị “Ngộ độc xì dầu”. Cũng trên báo Thanh Niên, có đăng bài của Hoàng Triều Hải, xác định Tết Trung Thu của Việt Nam. Nhưng cũng không đủ sức thuyết phục. Ít nhất so với bài theo đường link nêu trên, xác định Tết Trung Thu của Tàu. Bởi vậy, nó có thể phản tác dụng.

Vậy bản chất Tết Trung Thu có nguồn gốc từ nền văn minh nào?

Trước hết, tôi bác bỏ luôn quan điểm cho rằng Tết Trung Thu là do Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện, rồi ra lệnh treo đèn kỷ niệm, là nguồn gốc của Tết Trung Thu. Hoặc một truyền thuyết khác cho rằng Tết Trung Thu được tạo ra, vì nó là ngày sinh của Đường Minh Hoàng…vớ vẩn cả. Bởi vì: 

1/ Phong tục Á Đông không có kỷ niệm này sinh nhật. Nếu vì là ngày sinh của Đường Minh Hoàng thì với hàng chục vua Đường sinh ngày nào thì đều…”tết” cả hay sao? Chưa nói đến tự dưng Đường Minh Hoàng dở chứng theo Tây, kỷ niệm sinh nhật? Hơ.

2/ Việc Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện chỉ là một truyền thuyết không có “cơ sở khoa học”, vì không thể kiểm chứng được. Tiêu chí khoa học phát biểu rằng:

Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tế có thể kiểm chứng được“.

Tết Trung Thu nếu là mô hình biểu kiến của giấc mơ “Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện”, rõ ràng không thể kiếm chứng được. Trước và sau Đường Minh Hoàng du Nguyệt Điện, chỉ có thằng Cuội của văn hóa truyền thống Việt du trên đó. Hơ.

Chưa hết, bài viết theo đường link trên báo TN, còn viết:

Trích:

[“Khái niệm Trung thu (中秋) xuất hiện lần đầu tiên trong sách Chu Lễ và Lễ Ký (thiên Nguyệt Lệnh) của Khổng Tử thời Chiến Quốc”]

Thưa quý vị và các bạn.

Từ Tết/ Tiết Trung Thu phản ánh một thực tại về không thời gian vào Tiết Trung Thu. Nay dẫn chứng sách Tàu nó có từ mô tả về một thực tại là Tiết trung Thu, thì Tết Trung Thu là của Tàu. Vậy nếu sách Tàu có từ mô tả mặt trăng, mặt trời,…thì mặt trăng, mặt trời cũng của Tàu hết sao?

Thưa quý vị và các bạn.

Tôi cần xác định ngay với quý vị và các bạn rằng: Tết Trung Thu có nguồn gốc từ nền văn hiến Việt, với gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử. Nó có cơ sở từ thuyết ADNH & Kinh Dịch thuộc về nền văn hiến Việt.

Để chứng minh điều này, tôi dẫn chứng rất cụ thể như sau:

1/ Vì sao tết Trung Thu là Tết Trẻ em.

Quý vị và các bạn đều biết tháng 8 Âm lịch luôn là tháng Dậu theo Địa Chi 12 con Giáp. Tháng Dậu thuộc Kim, chính vị của cung Đoài chính Tây. Theo Dịch học thì Đoài là Thiếu Nữ> Tức trẻ em. Quý vị xem hình dưới đây.

HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT

Quý vị và các bạn cũng thấy Quái Đoài/ Dậu ở chính Tây. Sách Tàu cũng ghi nhận quái Đoài/ Dậu chính Tây, chỉ khác là độ số 7, vì phối với Lạc Thư.

Tính chất 8 phương vị của Bát quái thì cung Đoài là “Con cái”. (Sách Tàu cũng thừa nhận chính Tây / Đoài / Dậu là cung “Con cái”)

                            

Đây là nguyên nhân đầu tiên và là cơ sở để thấy rõ rằng: Văn hóa truyền thống Việt xác định Tết Trung Thu là Tết của Trẻ em. Nó có cơ sở từ hệ thống Lý thuyết ADNH & Kinh Dịch thuộc về nền văn hiến Việt. Sinh nhật vua Đường Minh Hoàng kỷ niệm vào năm ông ta lên mấy tuổi nhể? Vớ vẩn.

2/ Vì sao Tết Trung Thu múa Lân?

Thưa quý vị và các bạn.

Trong Tứ Linh của nền văn minh Đông phương – thuộc về nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương Tử – chắc ai cũng biết. Đó là: Long, Lân, Quy, Phượng. Trong Địa lý phong thủy quy định các biểu tượng trên như sau: Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ, Hậu Huyền Vũ (Quy/ Rùa Đen), tiền Chu Tước (Phương hoàng) với mô hình chuẩn: Tọa Bắc, triều Nam. Vậy thì phía Tây chính là Bạch Hổ> Hóa Thân của Kỳ Lân.

Đây là nguyên nhân và cơ sở để vào dịp Tết Trung thu> trong văn hóa truyền thống Việt, các nhóm trẻ em thường tổ chức múa Lân. Vì Lân quản phương chính Tây/ Dậu đã nói ở trên. Trên cung trăng, Hằng Nga và thằng Cuội, không có múa Lân cho Đường Minh Hoàng xem.

 

 

 

 

 

 

 

3/ Vì sao Tết Trung Thu trẻ em lại rước đèn ông sao?

Cái này thì cần phải hiểu sâu về bản chất của khái niệm AD là gì. Vào đúng rằm Trung Thu, mặt trăng sáng rực rỡ và các ngôi sao đều mờ đi. Bởi vậy, việc rước đèn Ông sao chính là sự cân bằng Âm Dương.

 

 

 

 

 

 

 

 

4/ Vì sao trước con Lân trong đám múa Lân thường có hình ảnh Ông Địa?

Trước hết là Ông Địa Thuộc Thổ sinh Đoài Kim. Muốn Kim Vượng và là sự bắt đầu tốt đẹp cho một chu kỳ mới với thế hệ trẻ em và tài lộc thì cần phải có Ông Địa. Xin lưu ý: Đoài Tây Kim Theo “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” có độ số 9 (Độ số của Kim. Tàu là 7, độ số của Hỏa?). Độ số 9, cũng là độ số cao nhất của mô hình nguyên lý Cửu Cung để chuyển hóa sang một giai đoạn mới.

 

 

 

 

 

 

 

 

5/ Trong chính cuốn Kinh Lễ, được coi là “Tử” viết, cũng xác định Tết Cả/ Tết Nguyên Đán, là Tết của người Việt. Tết Cả đã là Tết của người Việt thì đừng nói Tết con là của Tàu. 

Nguồn gốc của tết vẫn còn đang được tranh cãi đó, nhưng hầu hết thông tin đều cho rằng ngày tết Nguyễn Đán có nguồn gốc từ Trung Quốc và được du nhập về Việt Nam trong 1000 năm bắc thuộc. Nhưng theo sự tích “Bánh chưng bánh dày” thì người Việt đã ăn tết từ trước thời vua Hùng, nghĩa là trước 1000 năm Bắc thuộc.

Có thể thấy tết ở Việt Nam đã có từ rất lâu, trước thời Tam Hoàng Ngũ Đế. Khổng Tử đã viết trong cuốn Kinh Lễ: “Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết “Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca, ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới,không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang, Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này”. Như vậy có có thể nói Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ Việt Nam.

Thưa quý vị và các bạn.

Đây là hai cuốn sách chứng minh rằng: Thuyết ADNh &Kinh Dịch thuộc về nền văn hiến Việt, với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến. một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử.

 

 

 

 

 

 

 

 


Qua đó để thấy rằng: Chính những nguyên lý của thuyết ADNh & Kinh Dịch, là cơ sở để hình thành nội dung của Tết Trung Thu, mà tôi đã hân hạnh trình bày ở trên. SW Hawking đã viết trong cuốn Lược Sử Thơi gian của ông: “Nếu một ngày nào đó, chúng ta tìm được Lý thuyết thống nhất, thì những quy luật vũ trụ được phát hiện sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta”.

Thưa quý vị và các bạn.

Tết Trung Thu với nội dung của nó, chính là sự ứng dụng quy luật vũ trụ trong sinh hoạt đời sống của nền văn hiến Việt.

Cảm ơn quý vị và các bạn quan tâm, chia sẻ.

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ VÀ CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ VÀ

CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN

 Thiên Sứ – Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Thưa quý vị và các bạn.

Người Việt rất hay kiêng cữ. Nếu thống kê thì người Việt kiêng cữ nhiều nhất so với các dân tộc khác trong lịch sử văn minh nhân loại. Kiêng “ra ngõ gặp gái”; kiêng “chim sa, cá nhảy”; kiêng…kiêng….kiêng đủ thứ.

Tác giả Thích Tâm Hiệp đã đặt vấn đề rất chính xác:

[“Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng“].

Và tác giả cũng phê phán sự ấu trĩ, khoác áo khoa học:

[“Thế mà, một thời, do cái thói tư duy chủ quan, tự cho mình có “khoa học” hơn người trước, nên chúng ta đã bôi bẩn, hủy hoại bao giá trị văn hóa của tiền nhân“].

Tôi cảm ơn tác giả và ủng hộ cách đặt vấn đề của ông. Nên tôi mới chia sẻ bài này. Tuy nhiên, tôi trình bày nguyên nhân cốt lõi của tục kiêng cữ của người Việt – theo cách hiểu của tôi – và chia sẻ với các bạn để cùng suy ngẫm.

Theo tôi có hai hình thức kiêng cữ.

  1. Kiêng cữ những hiện tượng xảy ra mang tính khách quan. Thí dụ: Kiêng chim sa, cá nhảy; kiêng gương vỡ; kiêng chuyển giường khi phụ nữ mang bầu….
  2. Thực hiện những nghi lễ truyền thống có tính kiêng cữ. Cúng 49 ngày, cúng 100 ngày, cúng cơm người mất, kiêng nói những điều xui xẻo….

Tất cả nhưng điều này, đúng như tác giả viết:

[“Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng“].

Tất cả những nguyên nhân vì sao ông cha ta kiêng, đều xuất phát từ một nguyên nhân chính yếu: Đó chính là xuất phát từ hệ thống nhận thức vũ trụ và thế giới, cũng như cuộc sống, xã hội và con người, của một dân tộc đã tồn tại với danh xưng văn hiến trải gần 5.000 năm lịch sử, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử.

I .        KIÊNG CỮ NHỮNG HIỆN TƯỢNG XẢY RA MANG TÍNH KHÁCH QUAN:

Theo tôi, tất cả các tục kiêng cữ của người Việt đều có nguyên nhân thực tế.

Thí dụ: 1/ Kiêng gương vỡ.
Khoa học đã chứng minh rằng: Gương phản chiếu lại tất cả mọi bức xạ. Do đó khi gượng vỡ, các mảnh gương tạo ra hiệu ứng bức xạ không đồng đều tương tác lên người soi gương. Đặc biệt là cài đều (Gương mặt người soi gương) sẽ có những bức xạ khác nhau chiếu vào. Nó sẽ gây rối loạn ổn định cấu trúc não. Nó sẽ tạo ra những phản xạ kém, dẫn tới đụng xe, hoặc cau gắt vô cớ làm mất đoàn kết trong  người thân…
2/ Kiêng chuyển giường phụ nữ mang thai gần ngày sinh.
Chính là sự thay đồi tính tương tác ổn định của Khí trong môi trường chỗ nghỉ ngủ. Người phụ nữ khi mang thai thường yếu. Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của họ.
3/ Hoặc khó hiểu hơn: Kiêng chim sa, cá nhảy.
Đó là do  sự tương tác của trường khí môi trường cụ thể, khi người nào đó đi ngang, bị chim sa, cá nhày lên bờ. Do trường khí thay đổi, nên chim đột ngột sa xuống, hoặc cá nhảy lên bờ. Đương nhiên là trường khí xấu, Và nó sẽ ảnh hưởng tới người đi qua môi trường đó….Tương tự như vậy, với các hiện tượng kiêng cữ.

Đương nhiên, với cách giải thích này, đã xác định, những tri thức tinh hoa của tổ tiên người Việt phải hiểu rất rõ về tương tác của “Khí” trong môi trường cuộc sống. Và khái niệm “Khí” cho đến hôm nay – trừ nhân danh nền văn hiến Việt – vẫn còn là một khái niệm bí ẩn trong hệ thống tri thức của nền văn minh Đông phương.

  1. NHỮNG NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG CÓ TÍNH KIÊNG CỮ

Ngoài những hiện tượng khách quan và phải kiêng cữ theo truyền thống, thì ông cha ta còn có những nghi lễ mang tính kiêng cữ. Thí dụ – được đề cập đến ngay trong bài viết của ông Thích Tâm Hiệp về nghi lễ Tang ma, như: lễ 49 ngày, 100 ngày. Căn cứ vào đâu để có nghi lễ này? Tại sao không 21 ngày, 36 ngày…? Mà cứ phải đúng 49 và 100?

Hoặc tại sao “Mùng 5, 14, 23” Âm lịch lại kiêng? Tại sao đám tang phải mặc áo sô trắng, con trai đội mũ rơm? Vì sao mẹ mất phải đi giật lùi trước quan tài, bố mất đưa đằng sau quan tài, đúng với câu “cha đưa, mẹ đón”? ,,,vv….

Những nghi lễ này mang tính chủ quan, do con người quy định. Vậy nó xuất phát từ cái gì để có nhận thức và quy định đó, trong các nghi lễ của con người?
SW Hawking đã xác định:
“Nếu chúng ta tìm được Lý Thuyết thống Nhất, thì chình những quy luật tự nhiên sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta”.

Rất nhiều kẻ tự nhận mình là trí thức, là hiểu biết, thậm chí có học hàm, học vị và cả quyền lực học thuật, một thời ra rả như ve rằng: Văn hóa Việt ảnh hưởng của Tàu. Nhưng chính người Tàu lại không hiểu gì về nguyên nhân ứng dụng của nó (?!). Ví dụ như kiêng ngày Tam Nương, được giải thích do ba người đàn bà nổi tiếng Trung Hoa vào cung cấm, là Bao Tự, Đát Kỷ và Điêu Thuyền (Có vài dị bản khác nhau).

Vấn đề kiêng cữ trong truyền thống dân gian Việt, nhiều đến nỗi có hẳn những cuốn sách dày cộp viết về đề tài này. Do đó, nếu giải thích hết thì không thể là việc của một cá nhân và hoàn toàn không tưởng; hoặc phải mất cả đời, như cụ Lê Gia giải thích bản chất nội hàm các câu thành ngữ, tục ngữ, phương ngôn….Việt Nam.

Nhưng tôi hy vọng rằng, tôi đưa ra được một định hướng cho các hiện tượng kiêng cữ này, và thế hệ sau tiếp tục.

Trước hết tôi cần xác định rằng: tất cả mọi hiện tượng văn hóa truyền thống Việt, chi tiết đến từng nghi lễ trong các phong tục truyền thống Việt, trong đời sống của người Việt, thâm chí trong cả ngôn ngữ Việt… đều là hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch. Ngay cả những nghi lễ mà tôi đã trình bày ở trên. Tôi xin lần lượt trình bày những vấn đề đã nêu.
Xin quý vị và các bạn xem hình dưới đây:

HÌNH LẠC THƯ ĐIỂM                                     HÌNH HÀ ĐỒ ĐIỂM                                                                                

 

  • Tục cúng cơm 49 và 100 ngày:
    Tất cả người Việt chúng ta đều biết rõ câu chuyện “Con Rồng, cháu Tiên” trong đó bọc trứng có 100 quả, sinh ra 100 người Con trai. 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo Mẹ lên núi. Đây chính là mô tả độ số của vũ trụ với Hà Đồ – Lạc Thư (Hình trện). Tổng có 100 vòng tròn. 50 vòng đen (Âm) và 50 vòng trắng (Dương). Cha thuộc Dương> Trong Dương có Âm, nên các con theo cha xuống biển (Âm). Me là Âm, nên các con theo mẹ lên núi (Dương).
  • Tục cúng 100 ngày:
    Khi hết chu kỳ tính theo ngày của một năm là 100 ngày cúng cơm, thì sẽ chuyển bàn thờ người quá cố lên bàn thờ chung của gia đình.
  • Tục cúng 49 ngày:
    Con số 50 ngày là hết một chu kỳ Dương (Dương trước), nhưng nếu vậy thì cô Dương, hay thuần Dương. Bởi vậy bớt một ngày là 49. Để không phạm vào Cô Dương.
    Các kiêng cữ mùng 5,14, 23:Đây là chu kỳ 9 với độ số của trung cung là 5. Trong đó, các ngày 14 = 5 + 9; 23 = 14 + 9. Tức Ngũ Hoàng nhập Trung theo Huyền không phi tinh. Hay nói cách khác: Nó cũng thuộc về hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Ngũ hoành là một sao xấu. Nên nhập trung ứng với công việc sẽ không tốt.
  1. Kiêng cữ 6 ngày Tam Nương sát:
    Gồm mùng 3; 7; 13; 18; 22; 27 Âm lịch hàng tháng. Đây chính là điểm chết của chu kỳ Lục Khí trong sự vận động của 30 ngày.

6. “Cha đưa, mẹ đón” trong nghi lễ tang chế:
Cha là Dương, nên theo cha theo nguyên lý “Dương trước, Âm sau”. mẹ là Âm nên con đi trước giật lùi, nhưng hướng về linh cữu. vì Mẹ là Dương so với các con, theo nguyên lý “Âm thuận tùng Dương”, nên các con phải đi giật lùi để hướng về linh cữu của mẹ.

7. Mặc áo sô trắng để chống bức xạ của Tử Khí:
Những nhà khoa học cũng xác định màu trắng có tác dụng tán các bực xạ xấu. Nên trong các bệnh viện, có liên quan đến bức xạ và cả Tử khí của người chết, các người làm việc thường mặc áo Blu trắng. Nhất là trong các viện nghiên cứu và cac lò phản ứng hạt nhân.
Do đó cho nên: Nghi lễ tang chế của người Việt mặc áo sô trắng hai lớp, là để chống bức xạ xấu.
7. Con trai đội mũ rơm: Hiện tượng này, anh chị em học viên các lớp Địa Lý Lạc Việt đều đã được biết rằng: Mọi vật thể xốp có tính hấp thụ và ngăn cản các bức xạ xấu. Mũ rơm là một dạng vật thể xốp. Và những người con trai phải đi sát quan tài. Nên đội mũ rơm để tránh bức xạ của Tử Khí xâm nhập vào não.

Tất cả những điều mà tôi trình bày trên đây, chỉ là nhưng ví dụ, có tính định hướng nghiên cứu , khi xác định rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch, chi phối tất cả đời sống và văn hóa truyền thống Việt. Bởi vì, dân tộc Việt chính là chủ nhân đích thức của nền văn minh Đông phương. Có thể có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng tôi không tranh luận. Nhưng cách giải thích của tôi, có tính hệ thống và nhất quán với mối liên hệ hợp lý cho tất cả các vấn đề liên quan đến nó. Đồng thời, nó cũng xác định câu nói nổi tiếng của SW Hawking, khi ông phát biểu – Đại ý – rằng:

Khi chúng ta tìm được một lý thuyết thống nhất, thì những quy luật tự nhiên của vũ trụ được nhận thức, sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta“.

Những nghi lễ, tập tục văn hóa truyền thống Việt, hoàn toàn thuận theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành – chính là Lý thuyết thống nhất, mà nhân loại đang tìm kiếm.

III.      VÌ SAO “CÓ THỜ CÓ THIÊNG, CÓ KIÊNG CÓ LÀNH”

Các vấn đề kiêng cữ của người Việt kể cả hiện tượng khách quan và những nghi lễ liên quan tôi đã trình bày ở hai phần trước. Nhưng vấn đề vì sao lại “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”? Bài viết này được bổ sung bởi anh Nguyễn Đắc Đại hỏi tôi về vấn đề này.

Vấn đề “Có kiêng, có lành” thì tôi đã xác định rằng: Nó không phải là sự kiêng cữ vu vơ. Mà là có nguyên nhân khách quan của những nhận thức đã bị thất truyền, do một nền văn minh bị sụp đổ. Hay nói một cách khác: Có một chân lý được nhận thức, đằng sau những tục kiêng cữ này.

Nhưng vấn đề còn lại: Tại sao “có thờ có thiêng”? Và bàn thờ bao giờ cũng được chọn vị trí trang trọng nhất với những nghi lễ long trọng nhất – dù bạn theo tôn giáo, hoặc tín ngưỡng nào.

Tôi có thể khẳng định rằng: nếu cách đây 50 năm, nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay sẽ không thể lý giải được điều này. Tất nhiên, điều đó cũng trở nên huyền bí trong suy nghĩ của nhiều người. Và những người tự cho mình có tri thức khoa học và chỉ tin theo những nhận thức gọi là “được khoa học công nhận”, sẽ luôn coi việc thờ cúng là “mê tín dị đoan”. Vậy nó thiêng ở chỗ nào?

Thờ Chúa; thờ Phật, thờ Đức Ala; thờ Ông Địa….thờ ai thì “thiêng” hơn? Hay cứ “có thờ, có thiêng”? Vì sao lại thiêng? Nó do con người tin vào sự thiêng liêng, hay thiêng thật?

Ở đây tôi chỉ đưa ra một cách giải thích và mọi người có quyền đưa ra một cách giải thích khác. Tôi không tranh luận.

Trước hết, tôi xin lưu ý quý vị và các bạn một sự kiện thực nghiệm của Vật Lý Lượng tử. Đó là các nhà khoa học đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng: “Ý thức tương tác với cấu trúc vật chất vi mô”. Cụ thể nó tương tác với các hạt cơ bản. So sánh với những tri kiến của Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – thì phát hiện của Vật Lý Lượng Tử mới chỉ là kiến thức sơ khai về bản chất của hiện tượng được thực nghiệm. Nền tảng tri thức khoa học hiện nay – cụ thể là Vật Lý lương tử – mới chỉ nhận thức qua thực nghiệm hiện tượng. Nhưng nền văn minh hiện nay vẫn chưa thể hiểu được bản chất cơ chế tương tác của ý thức với các hạt cơ bản. Bởi vậy, để giải thích được “có thờ, có thiêng” vẫn chưa thể rốt ráó, chính vì nên tảng tri thức của cả nền văn minh hiện nay, chưa đủ để hiểu biết tường tận những bí ẩn của thiên nhiên và vũ trụ.

Nhưng sự kiện thực chứng của Vật Lý Lượng tử – xác định một thực tế khách quan , là “ý thức tương tác với vật chất vi mô”, lại là nền tảng để có thể mô tả và giải thích vì sao “có thờ, có thiêng”.

Nếu cách đây trên 50 năm về trước, sẽ không thể giải thích điều này, vì thiếu những nền tảng tri thức khoa học thực nghiệm căn bản, nhằm xác định một thực tại khách quan. Và đến nay, chính những thực nghiệm này của ngành Vật lý Lương tử, xác định một sự liên hệ giữa hai phạm trù của cả triết học và khoa học là “Vật chất” và “Ý thức” – một các gọi khác của ý thức là “tinh thần”. Mặc dù từ rất lâu, trong lĩnh vực của triết học, người ta đã thừa nhận sự tương tác của ý thức lên vật chất. Sự khác nhau của “Duy tâm” hay “Duy vật”, chỉ là cái gì có trước và cái gì là bản thể quyết định của cái kia mà thôi.

Tóm lại, tôi muốn xác định với quý vị và các bạn rằng: Dù trong lĩnh vực triết học, hay khoa học thì đến ngày hôm nay, ở nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh, con người vẫn thừa nhận tính tương tác của ý thức với vật chất. Và điều này đã được các thực nghiệm của Vật Lý Lượng tử chứng minh.

Như tôi đã trình bày:

Nền tảng tri thức khoa học hiện nay – cụ thể là Vật Lý lương tử – mới chỉ nhận thức qua thực nghiệm hiện tượng. Nhưng nền văn minh hiện nay, vẫn chưa thể hiểu được bản chất cơ chế tương tác của ý thức với các hạt cơ bản.

Đương nhiên, khi nền tảng tri thức của cả một nền văn minh hiện đại, vẫn chưa thể hiểu được “bản chất cơ chế tương tác của ý thức lên vật chất vi mô”, của Vật Lý Lượng tử – thì – sự giải thích không thể coi là dễ hiểu.

Do đó, tôi cần xác định một số tiên đề để làm cơ sở cho việc giải thích: Vì sao “có thờ có thiêng”.

Tiền đề thứ nhất.

Định nghĩa về vật chất của tôi là:

[“Tất cả mọi dạng tồn tại có năng lượng và tương tác, đều là vật chất”].
Xin lưu ý: Tôi đã chứng minh luận điểm này trong “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020)

Đây là một nền tảng tri thức rất căn bản, mà tôi đã giảng trong khóa học 8 buổi về “Những kiến thức căn bản về Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt”. Trên cơ sở này, các học viên của lớp Địa Lý Lạc Việt, mới có thể hiểu rõ những tri kiến trong chuyên ngành ứng dụng Địa Lý Lạc Việt, Và họ sẽ hiểu rõ ngành Địa Lý Lạc Việt, hoàn toàn rất khoa học.

Mọi mô hình biểu kiến của Địa Lý Lạc Việt đều có chân lý khách quan, đằng sau những mô hình biểu kiến và phương pháp ứng dụng của nó.

Tiền đề thứ hai.

Định nghĩa về khái niệm “Khí” trong Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt, là:

[“Khí là một dạng tồn tại của vật chất phi khối lượng, phi hình thể. Được hình thành bởi sự vận đông và tương tác của vật chất vậtchất và tương tác trở lại với vật chất. Khí chính là trường tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất và với chính nó”]

Trên cơ sở của sự xác định qua thực nghiệm trong ngành Vật Lý Lượng tử và những tiền đề đã trình bày, tôi xác định rằng:

Việc thờ cúng – “có thờ có thiêng” – chính là sự tập trung ý thức của một cá nhân, một gia đình, một cộng đồng làng xã, một dân tộc cho một địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Dù họ thờ cái gì? Cho nên không có vấn đề thở vị này thiêng hơn kia. Alber Einstein đã xác định: Trong tương lai sự phát triển của nền văn minh, sẽ không tồn tại tôn giáo của từng cá nhân.

Sự giải thích này, trên cơ sở thực chứng của ngành Vật Lý Lượng tử và sự tương tác với năng lượng của một dạng vật chất quen gọi là “ý thức”.

Vậy thì tại sao nó lại thiêng? Và nó hình như cũng thiêng thật với hàng loạt hiện tượng, mà người ta có thể kể ra về sự linh thiêng của những nơi thờ tự (?!).

Sự tương tác của ý thức (Một dạng tồn tại của vật chất) với địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo ra một dạng “khí” và thông qua – trường khí tồn tại khách quan và độc lập – với hai đối tượng (Ý thức và địa điểm tín ngưỡng), tổng hợp thành một tập hợp những tương tác, tác động trở lại với môi trường, khiến nó trở nên “linh thiêng”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cụm từ mà tôi trình bày ở trên – [“trường khí tồn tại khách quan và độc lập”] – chính là điều kiện địa lý của môi trường có địa điểm tín ngưỡng, là chùa, miếu, đình, đền, nhà thờ….Và điều này giải thích vì sao các Địa Lý phong thủy gia – từ cổ chí kim – có thể dùng tri thức Địa Lý phong thủy để tác động đến sự linh thiêng của địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo.

Tôi đã giải thích xong vấn đề “Có thờ có thiêng”, nhưng tôi cũng xin nhắc lại, rằng: Đấy chỉ là một sự giải thích. Bất cứ ai cũng có quyền giải thích khác tôi theo cách hiểu của họ. Tôi không tranh luận.

Tuy nhiên, tôi cũng cần xác định rằng: Việc gọi là “Đuổi mưa” thực chất chỉ là sự tương tác của ý thức với vật chất. Có điều quan niệm về vật chất của Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – và quan niệm về vật chất của nền văn minh hiện đại khác nhau khá xa.

Chưa nói đến bản chất cơ chế tương tác, cái mà tôi cần xác định rằng: Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay chưa biết gì về nó.

Ngài SW Hawking cho rằng: 50 năm trước khi Lý thuyết Tương đối của Eistein được công nhận, nền tảng tri thức của nền văn minh chưa đủ để đặt vấn đề về Lý Thuyết thống nhất. Tôi xin bổ sung thêm rằng: 100 năm nữa, nếu không thừa nhận Việt sử 5.000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương, thì nền văn minh hiện này cũng còn tiếp tục đặt vấn đề có hay không một Lý thuyết thống nhất.

Với định nghĩa về vật chất của tôi thì Thượng Đế và các thánh thần nếu còn tương tác với trần gian, thì các Ngài cũng phải có năng lượng – tức là một dạng tồn tại của vật chất. Có điều dạng tồn tại nào thì còn là sự tiếp tục khám phá. Những ai có tín ngưỡng vẫn cứ tiếp tục giữ niềm tin của các vị. Định nghĩa lại về vật chất, xóa bỏ ranh giới giữa ý thức và các khái niệm vật chất cổ kim, không có nghĩa Thượng đế và các thánh thần không tồn tại. Nhưng điều chắc chắn rằng: Định nghĩa lại về vật chất, sẽ làm thay đổi và mở rộng đối tượng nghiên cứu khoa học.

Đức Phật đã chứng minh một cách hoàn hảo trong bộ kinh nổi tiếng “Thần Chú Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm” rằng: Không thể có hai cái “Tính thấy” nhìn thấy nhau.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

BÀI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY LỚP TỬ VI LẠC VIỆT CAO CẤP – KHÓA I

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI GIỚI THIỆU

Anh chị em thân mến,

Danh xưng Tử Vi Lạc Việt, không phải là một trường phái, như hàng chục trường phái Tử Vi theo cổ thư chữ Hán. Chưa kể những sự thay đổi một cách cục bộ của các Tử Vi Gia người Việt.

Mà danh xưng Tử Vi Lạc Việt là sự xác định cội nguồn của môn Tử Vi thuộc về nền văn hiến Việt một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử.

Cổ sử Việt viết:
Nước Văn Lang lập quốc vào năm Nhâm Tuất năm thứ 8 vận VII hội Ngọ (2879 Trc CN). Phía Bắc giáp Động Đình Hồ, phía Nam giáp Hồ Tôn, phía Tây giáp Ba Thục, phía Đông giáp Đông Hải, được trị vì, bắt đầu từ thời Hùng Vương thứ I kéo dài 18 thời – theo Hùng triều Ngọc phả  – gồm 144 đời vua Hùng thay nhau trị vì. Triều đại Hùng Vương kết thúc vào năm 257 tr CN.

Những dòng chữ trên là lời văn của chính sử, được truyền lại qua các triều đại phong kiến, chứ không phải là truyền thuyết, huyền thoại.

Nền văn hiến Việt, chính là cội nguồn của Lý học Đông Phương, mà tôi đã chứng minh trong những cuốn sách đã xuất bản và các bài viết trên các diễn đàn Lý học. Từ đó,  xác định rằng: thuyết ADNh &Kinh Dịch, là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh từ một nền văn minh cổ xưa, mà tôi đặt tên là văn minh Atlantic. Dân tộc Việt đã kế thừa những di sản của nền văn minh này. Không chỉ dừng ở đó: Tất cả những giá trị  còn lại, mang tính ứng dụng của nền văn minh Đông phương – hệ quả ứng dụng của thuyết ADNh &Kinh Dịch với nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”, như : Địa lý Phong thủy, bốc Dịch, Đông y… đều thuộc về nền văn hiến Việt.
Sự sụp đổ của nền văn hiến Việt ở Nam Dương Tử với hơn 1000 năm Bắc thuộc, khiến cho những giá trị đích thực của nó đã thất truyền. Những di sản còn lại, chỉ là những mảnh vụn rời rạc, chắp vá và sai lệch trong quá trình Hán hóa.
Cho nên, cùng với danh xưng Địa lý Lạc Việt, Mai Hoa Việt Dịch …nay là sự xác định chủ thể của nền lý học Đông phương cổ thuộc về nền văn hiến Việt môn Tử Vi Lạc Việt. Tử Vi Lạc Việt  như là một công cụ thể hiện, tiếp tục chứng minh một các hoàn chỉnh những di sản Việt, hoàn toàn nhất quán có tính hệ thống với nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” trong toàn bộ hệ thống của thuyết ADNh &Kinh Dịch – phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt.
Tính rời rạc, cục bộ và sai lệch của môn Tử Vi theo các di sản bị Hán hóa, thể hiện ở sự tồn tại những trường phái khác nhau của môn Tử Vi nói chung. Do sự thất truyền của một hệ thống lý thuyết ADNh &Kinh Dịch, mà môn Tử Vi – chỉ là hệ quả của lý thuyết này – là nguyên nhân. hình thành các trường phái Tử Vi, thể hiện qua các di sản bằng bản văn chữ Hán của bộ môn dự đoán này.
Phương pháp chứng minh và xác định chủ thể đích thực của Lý học Đông phương, hoàn toàn nhất quán, là: Sử dụng tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng.
Tiêu chí căn bản làm chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phát biểu như sau:

“Một giả thuyết khoa học hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, hoàn chỉnh và nhất quán, có tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri”

Do đó, việc hiệu chỉnh và hoàn thiện môn Tử Vi Lạc Việt,  hệ quả ứng dụng của thuyết ADNh & Kinh Dịch – vốn rời rạc, mâu thuẫn qua các di sản còn lại liên quan, trong cổ thư chữ Hán – trở thành một bộ môn có hệ thống phương pháp luận hoàn chỉnh, nhất quán với hệ thống lý thuyết ADNh & Kinh Dịch là nền tảng của nó – được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt. Khoa Tử Vi Lạc Việt phục hồi, là sự tiếp tục xác định tính khoa học phù hợp với tiêu chí khoa học đã trình bày ở trên, có tính hệ thống, trong tổng thể tri thức Lý học của nền văn minh cổ Đông phương.

Lớp Mai Hoa Việt Dịch, Địa Lý Lạc Việt – là sự tiếp tục xác định các phương pháp ứng dụng hệ quả của thuyết ADNH & Kinh Dịch với nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” –thuộc về nền văn hiến Việt.

Trên cơ sở này, khóa học Tử Vi Lạc Việt cao cấp 1, cũng là một sự tiếp tục chứng minh tính khoa học mang tính hệ thống, giải thích và chứng minh một cách hợp lý, bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực của sự phục hồi thuyết ADNh và kinh Dịch, nhân danh nền văn hiến Việt.

Và khóa học Tử Vi Lạc Việt xác định rằng: Tử Vi Lạc Việt, không phải là một trường phái như các trường phái theo các văn bản cổ chữ Hán. Mà nó là sự tổng hợp những di sản còn trong cổ thư chữ Hán mô tả Tử Vi.

Đó cũng là sự tiếp nối hoàn chỉnh của thuyết ADNh và kinh Dịch và là nguyên nhân để nó không phải là một trường phái .

Do đó, Tử Vi Lạc Việt có tính ưu việt – về mặt lý thuyết ứng dụng – là sự tông hợp và hiệu chỉnh những giá trị đích thực cùa môn dự đoán này. Tử Vi Lạc Việt và các môn ứng dụng liên quan đến việc phục hồi nhân nền văn hiến Việt khác, như: Địa lý Lạc Việt , Mai Hoa Việt Dịch…nhằm phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, đều có sự liên kết có tính hệ thống, nhất quán từ hệ thống lý thuyết căn bản đó là thuyết ADNh và kinh Dịch với nguyên lý căn để là “Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” vơi sự hoàn chỉnh tất cả mọi vấn đề liên quan đến nó. Nhằm xác định toàn bộ hệ thống cổ học Đông Phương – từ hệ thống lý thuyết căn bản  và những hệ quả ứng dụng của nó, thuộc về nền văn hiến Việt .

Chính vì là sự hiệu chỉnh những di sản còn lại đã thất truyền chỉ còn những mảnh vụn rời rạc chắp vá được mô tả trong các bản văn chữ Hán . Cho nên Tử Vi Lạc Việt không phải là sự phủ nhận tất cả, mà là sự hiệu chỉnh trên cơ sở nguyên lý căn để “Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt”. Trên cơ sở nàyTử Vi Lạc Việt là một phần tử ứng dụng, có tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán với thuyết ADNh và kinh Dịch

Những hành vi của con người với những diễn biến của cuộc đời, được dự đoán trong môn Tử Vi đã tồn tại hàng ngàn năm qua, trong xã hội Đông Phương. Và những khả năng dự đoán chính xác, có hiệu quả cho những hành vi của con người trước tương lai, chính là điều kiện cho môn Tử Vi tồn tại cho đến ngày hôm nay. Mặc dù, người ta vẫn chưa hiểu cơ chế nào làm nên khả năng dự đoán kỳ diệu và bí ẩn của phương pháp dự đoán này. Có thể nói rằng, Tử Vi và những bộ môn dự báo của nền văn minh Đông Phương, chính là một thành tố quan trọng làm nên sự bí ẩn của nền văn minh cổ.

Kể từ khi có sự hội nhập của nền văn minh toàn cầu, thì những giá trị của nền văn minh Đông Phương cổ vẫn sừng sững thách đố trí tuệ của nền văn minh hiện đại. Cơ chế nào để cho Tử Vi – cũng như những bộ môn dự báo khác của nền văn minh Đông Phương – có khả năng dự báo một cách chính xác đến từng hành vi của con người?

Khoa học đã xác định rằng: “Không có tính quy luật thì không có khả năng tiên tri”. Vậy thì những đại lượng biểu kiến được mô tả trong các phương pháp dự báo của Đông Phương nói chung và Tử Vi nói riêng, phản ánh những quy luật nào? Hay nói rõ hơn: Những đại lượng đó – đã phản ánh một thực tại khách quan nào, đang vận động nào trong hệ biểu hiện của nó, để nó có một khả năng tiên tri đến huyền vĩ như vậy?

Trong những dữ kiện của phương pháp dự đoán của Tử Vi, hoàn toàn không có những yếu tố thần quyền. Nhưng với mô hình và phương pháp coi Tử Vi, có vẻ như mô tả một thực tại khách quan đang vận động và tương tác có thể dự đoán đến từng hành vi của con người, rất có tính quy luật và khách quan – từ những dữ kiện phụ thuộc vào yếu tố đầu vào, là: năm, tháng, ngày, giờ sinh của người được xem Tử Vi với những kết quả dự báo có thể kiểm chứng được.
Một tiêu chí khoa học xác định rằng:
Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thê kiểm chứng được.
Trên thực tế phương pháp coi Tử Vi đã xác định rằng:

Tử Vi chỉ là mô hình biểu kiến, mà trên đó thể hiện có tính quy luật vận đông của các đại lượng được gọi là “sao”. Trên cơ sở phân bố các”sao” này tạo ra một mô hình cụ thể, phụ thuộc dự kiện đầu vào là ngày tháng năm sinh.

Cho nên, vấn đề được đặt ra:

Với dữ kiện đầu vào của khoa Tử Vi – là những đơn vị thời gian – đã phản ánh một không gian vũ trụ nào tương ứng với nó?

Khóa Tử Vi Lạc Việt cao cấp I, không chỉ dừng lại ở sự truyền đạt phương pháp dự báo. Mà còn là sự tìm hiểu toàn diện những sự kiện và vấn đề liên quan đến nó. Một giả thuyết hợp lý, mà tôi đã đặt ra khi tiến hành tìm hiểu bộ môn này, đó chính là sự vận động có tính quy luật của không gian vũ trụ liên quan đến Địa cầu – là một thực tại khách quan, được mô tả trong mô hình Tử Vi.

Phải chăng chính những sự tương tác qua những quy luật vận động của vũ trụ, thể hiện qua các hành tinh và các ngôi sao, bên trong và bên ngoài Thái Dương Hệ đã được mô hình hóa trong hệ biểu hiện của nó, đã làm nên nội dung của  môn dự đoán cổ Đông Phương này?!

Tuy chưa xác định được cụ thể những đại lượng được sắp xếp trong mô hình Tử Vi, là những sao nào và bản chất tương tác của chúng, do những điều kiện hạn chế về phương tiện và điều kiện nghiên cứu- thế nhưng những yếu tố gần gũi đã xác định điều này.

Trong nền văn minh Đông Phương cổ cũng như nhiều di sản khác của nền văn minh  này, là: Kinh Dịch, Địa Lý Phong Thủy, Đông Y,…đều có những yếu tố sai lệch, không thống nhất về mặt nội dung, và có những yếu tố không rõ ràng trong những văn bản cổ còn lại. Riêng môn Tử Vi, cũng có nhiều sách viết khác nhau về những chi tiết liên quan đến tính chất của các sao và phương pháp an sao. Có thể nói rằng cho đến ngày hôm nay gần như chưa có một nhà nghiên cứu nào đưa ra một phương pháp thẩm định tính đúng sai của những văn bản cổ còn lại khác nhau đó.

Trong khóa Tử Vi Lạc Việt cao cấp I, tôi không có tham vọng lớn lao là đi tìm bản chất những tương tác có tính quy luật là nền tảng của tri thức đã tạo ra bộ môn Tử Vi. Nhưng cần xác định vấn đề mô tả lại môn Tử Vi trở về với giá trị đích thực của nó, trên cơ sở so sánh và đối chiếu với các văn bản cổ, với những tiêu chí khoa học về một phương pháp được coi là khoa học, cùng các tri thức khoa học liên quan, Trong khóa  Tử Vi Lạc Việt cao cấp I, ứng dụng một cách nhất quán nguyên lý căn để, là “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”, để so sánh hiệu chỉnh lại bộ môn này.

Nền văn minh Đông phương với một hệ thống tri thức đồ sộ, huyền vĩ, bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, xã hội và con người, đang sừng sững thách đố toàn bộ tri thức của nền văn minh hiện đại. Giáo sư Lê Văn Sửu đã viết trong cuốn “Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông” của ông như sau:

Gần đây có rất nhiều nhà khoa học ở đủ mọi ngành và ở nhiều nơi trên thế giới, với các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay, họ đã và đang nghiên cứu nền tảng của di sản văn minh phương Đông này. Thế nhưng, sự tiếp cận thực chất của nó còn đang là một khó khăn to lớn.

Chúng ta đang khám phá một hệ thống lý thuyết, chứ không phải tìm hiểu những dạng tồn tại của vật chất. Cho nên, không thể lấy kính hiển vi điện tử để phóng to quẻ Càn xem bản chất nó là gì?! Sự sai lầm về phương pháp nghiên cứu cho dù là những “các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay”, vẫn thất bại”. Đây chính là nguyên nhân để những hệ thống tri thức Đông phương vẫn sừng sững một cách huyền vĩ, thách đố cả một nền văn minh hiện đại.

Với một phương pháp nhất quán, căn cứ vào các tiêu chi khoa học để thẩm định một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học được coi đúng. Tôi hy vọng sẽ chia sẻ được những vấn đề bản chất của môn Tử Vi Lạc Việt trong khóa này.

Ngày mùng 7 tháng 8 năm Nhâm Thìn Việt lịch

Ngày 22 tháng 9 năm 2012

Nguyễn Vũ Tuấn Anh

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

SÁCH PHÍA TRƯỚC TRẦN THỜI GIAN & KHÍ – TRƯỜNG TƯƠNG TÁC CỦA VŨ TRỤ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU.

Thưa quý bạn đọc.
Ngài SW Hawking đã phát biểu trong cuốn sách nổi tiếng “Lược Sử thời gian” của ông:

“Để có một Lý Thuyết Thống Nhất , trong điều kiện hiện nay của nền văn minh,  chúng ta  phải thiết lập những Hệ tiền đề”.

Phát biểu của ngài SW Hawking đã chứng tỏ: Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại của chúng ta, chưa phải là một hệ thống hoàn hảo, có tính nền tảng đủ để thiết lập một hệ Lý Thuyết Thống Nhất. Điều này cũng giống như vào thời Vua Louis XIV, chưa đủ nền tảng tri thức để hình thành nên Thuyết Tương đối của Enstein. Cho nên, để bù đắp lại khoảng trống trong nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại, trở thành một hệ thống tri thức nền tảng hoàn chỉnh, làm cơ sở hình thành một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ, nó cần có những những Hệ tiền đề.
Hay mô tả dưới một hình thức khác – và điều này đã được các nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện đại thừa nhận – là:
Những nhận thức mới nhất về bản chất của vật chất và những hệ thống lý thuyết khoa học mũi nhọn tiên tiến nhất hiện nay về mọi lĩnh vực, chỉ là những hệ thống lý thuyết mô tả cục bộ; và nó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong toàn bộ nền tảng tri thức cần có của một nền văn minh, làm cơ sở cho sự hình thành nên một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất hoàn chỉnh.

Cho nên, tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này của ngài Hawking. Và có thể nói rằng: Hai quyển sách của tôi : “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020 và cuốn “ Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức 2019, là hai Hệ tiền đề làm nền tảng, để xác định rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành & Kinh Dịch, về bản chất, là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán, có tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan với khả năng tiên tri. Và cũng chính là Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước. Điều này cũng phù hợp với lời dự ngôn nổi tiếng của của bà Baba Vanga khi phát biểu rằng :

“Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại”.

Đến đây, một vấn đề được tiếp tục đặt ra: Làm thế nào để thẩm định một Hệ tiền đề được coi là đúng, khi những Hệ tiền đề đó xuất hiện và tồn tại với tư cách bổ sung cho những khiếm khuyết trong nền tảng tri thức của một nền văn minh?
Cho nên – ngoài vấn đề mà ngài SW Hawking đã đặt ra về sự cần thiết của những Hệ tiền đề – tôi thấy cần phải phát biểu thêm những tiêu chí khoa học, làm chuẩn mực để thẩm định nội hàm của những Hệ tiền đề được coi là đúng cho những Hệ tiền đề nói chung, có thể xuất hiện trong hiện tại và cả tương lai – khi những Hệ tiền đề này với tư cách bổ sung những khoảng trống tri thức mang tính nền tảng của nền văn minh hiện đại –  là:
I/ Những Hệ tiền đề được coi là bổ sung cho khoảng trống tri thức của nền văn minh hiện nay, phải tích hợp với những giá trị tri thức nền tảng hiện có của nền văn minh đã được xác định tính chân lý, bổ sung cho những khiếm khuyết của nó, để trở thành một hệ thống có cấu trúc hợp lý, có tính nhất quán, hoàn chỉnh, đủ để có sự phát triển tiếp tục những Hệ tiền đề mới, hoặc đủ để xác định một Lý Thuyết Thống Nhất.
II/ Những Hệ tiền đề bổ sung cho khoảng trống tri thức nền tảng của một nền văn minh, phải có khả năng tiếp tục phát triển trên nền tảng đã được bổ sung đó những tiền đề mới, hoặc xác định được một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất.
Nếu không thỏa mãn những tiêu chí này, thì tất cả những Hệ tiền đề, chỉ là những ảo vọng. Hay nói rõ hơn: Người ta không thể tùy tiện đặt ra những Hệ tiền đề, nếu không thỏa mãn tiêu chí mà tôi bổ sung nói trên.
Tức là, hai cuốn sách của tôi đã trình bày (“Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020 và cuốn “ Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức 2019), cũng phải thỏa mãn được tiêu chí mà tôi đã phát biểu bổ sung, như là một chuẩn mực thẩm định tính chân lý của nó.

Cần phải xác định rằng:
Ngay cả khi các nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện này công nhận, hoặc không công nhận hai tiền đề của tôi, trình bày trong hai cuốn sách trên. Thì vấn đề vẫn phải tiếp tục đặt ra với tiêu chí thứ II, là:
II/ Những Hệ tiền đề bổ sung cho khoảng trống tri thức nền tảng của một nền văn minh, phải có khả năng tiếp tục phát triển trên nền tảng đã được bổ sung đó những tiền đề mới, hoặc xác định được một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất.
Tức là nó phải có sự phát triển tiếp tục trên nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại với sự tích hợp của những tiền đề được bổ sung, để xác định một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất. Cụ thể ở đây chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành & Kinh Dịch.

Sự phát triển tiếp tục của hai tiền đề nói trên với sự tích hợp những trí thức nền tảng của nền văn minh, là nội dung của cuốn sách, mà bạn đọc đang cầm trên tay, có tựa đề là “Phía trước Trần Thời Gian & Khí – Trường Tương Tác của vũ trụ”.

Thưa quý vị bạn đọc.
Trần Thời Gian, với khoảng khắc vô cùng nhỏ 10 -47 /giây sau giây | O |. Tri thức của nền khoa học hiện đại đã không thể biết được trong khoảnh khắc vô cùng nhỏ đó, cái gì đã xảy ra? Họ đã giải thích bằng thuyết Big Bang, nhưng cần xác định rằng:
Nếu thuyết Bigbang đúng thì nó sẽ phải tiếp tục giải thích được tất cả những hoài nghi của nền văn minh hiện đại, về sự vận động và tương tác của vũ trụ sau giây | O |. Nhưng ở đây nó chỉ dừng lại ở chính nội hàm của thuyết Big Bang và những bí ẩn của vũ trụ vẫn là điều cần khám phá.

Ở đây, chưa nói đến những nguyên lý, những phạm trù rất căn bản của nền văn minh hiện nay bị sai. Tất nhiên, người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.

Do đó, trong cuốn sách này sẽ đề cập đến những sai lầm nói trên có tính nguyên lý nền tảng của nền văn minh hiện đại. Đó là khái niệm: vật chất; không gian 3 chiều; điểm; vấn đề Không gian và Thời gian … Cuốn sách này sẽ thiết lập lại nội hàm những khái niệm nói trên mang tính hệ thống,  nhất quán, hoàn chỉnh hợp lý trên mọi phương diện và tổng hợp lại, để chứng minh rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành & Kinh Dịch chính là Lý Thuyết Thống Nhất.
Trong cuốn sách này, cũng phân tích và chứng minh sai lầm của lý thuyết Higg. Điều mà tôi đã xác định từ năm 2008 trên dd lyhocdongphuong.org. vn. Đến năm 2016, các nhà khoa học tinh hoa, đã xác định: “Không có Hạt của Chúa”. Nhưng họ mới chỉ xác định trên cơ sở thực nghiệm với cỗ máy LHC. Còn cuốn sách này, trên cơ sở phấn tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh các luận cứ của lý thuyết Higg, để chi ra sai lầm ngay trong cấu trúc của học thuyết này. Đó chính là cơ sở để tôi xác định lý thuyết Higg sai, ngay từ khi cô máy thực nghiệm LHC chưa lắp ráp xong từ 2008.
Với phương pháp chứng minh tương tự như vậy với Lý thuyết Dây – một lý thuyết mũi nhọn của Vật Lý Lý thuyết hiện nay – cũng sẽ được phân tích trong cuốn sách này và chỉ ra sai lầm của nó. Từ đó, làm cơ sở để xác định “Khí – Trường Tương Tác của vũ trụ”
Tất cả nội dung cuốn sách, sẽ xác định với bạn đọc sự thỏa mãn với tiêu chí II, mà tôi đã trình bày ở trên. Và nó cũng sẽ mô tả vũ trụ trước Trần Thời Gian với sự chứng minh: Thuyết ADNh & Kinh Dịch, chính là Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ.

Vấn đề cần nói rõ hơn với tiêu chí thứ nhất:
I/ Những Hệ tiền đề được coi là bổ sung cho khoảng trống tri thức của nền văn minh hiện nay, phải tích hợp với những giá trị tri thức nền tảng hiện có của nền văn minh hiện nay, đã được xác định tính chân lý, bổ sung cho những khiếm khuyết của nó, để trở thành một hệ thống có cấu trúc hợp lý, có tính hệ thống và nhất quán, đủ để có sự phát triển tiếp tục những Hệ tiền đề mới, hoặc đủ để xác định một Lý Thuyết Thống Nhất.
Tại sao lại đặt vấn đề:
Những Hệ tiền đề được coi là bổ sung cho khoảng trống tri thức của nền văn minh hiện nay, phải tích hợp với
những giá trị tri thức nền tảng hiện có của nền văn minh hiện nay đã được xác định tính chân lý,
Bởi vì một tiêu chí khoa học đã phát biểu rằng:
Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải không phủ nhận những giá trị tri thức khoa học trước đó, đã xác định tính chân lý.
Từ tiêu chí khoa học này, đã xác định rằng: bất cứ một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được hình thành, phải hàm chứa và tích hợp được các lý thuyết, hoặc nhận thức thực tại khách quan được xác định tính chân lý, trong quá trình tiến hóa của cả một nền văn minh. Tức là những giả thuyết, hoặc lý thuyết mới phải có một mối liên hệ hợp lý và chặt chẽ với những nền tảng trí thức đã có và được xác định tính chân lý. Từ đó tạo ra một hệ thống tri thức nền tảng mới của nền văn minh đó.
Đây chính là nội dung của tiêu chí I, mà tôi đã trình bày ở trên. Nếu không thỏa mãn tiêu chí này thì đấy là một Hệ tiền đề sai.
Trên cơ sở hai tiêu chí tôi đã nêu và sự xác định hai cuốn sách của tôi (“Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020 và cuốn “Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức 2019), là hai Hệ tiền đề đúng, thì nó phải thỏa mãn hai tiêu chí trên, làm chuẩn mực để thẩm định tính chân lý của hai Hệ tiền đề này.
Hai cuốn sách của tôi (Hai Hệ tiền đề), mô tả rằng:
Tiền đề thứ nhất – “Minh triết Việt trong văn minh Đông phương”, Nxb Hồng Đức 2019, xác định và chứng minh rằng:
Có một nền văn minh rực rỡ cổ xưa, tồn tại trước lịch sử nhận thức được – mang tính nhận thức phổ biến của nền văn minh hiện đại – và nền văn minh này đã bị hủy diệt. Tôi đặt tên là văn minh Atlantic. Dân tộc Việt Nam hiện nay, là một trong những chủng tộc còn sống sót của nền văn minh này, còn giữ được những hệ thống tri thức nền tảng của nền văn minh Atlantic.
Tiền đề thứ hai – “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, Nxb Hồng Đức 2020, xác định và chứng minh rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ Hành & Kinh Dịch là hệ quả của hệ thống nền tảng tri thức của nền văn minh Atlantic. Hay nói rõ hơn: Nền văn minh Atlantic, chính là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ Hành & Kinh Dịch. Những di sản còn lại liên quan đến học thuyết này qua các bản văn chữ Hán, chỉ là những mảnh vụn rời rạc, chắp vá và sai lệch, có nguồn gốc từ những giá trị đích thực của nền văn hiến Việt và nền văn minh này đã sụp đổ từ 2300 năm trước, bên bờ Nam sông Dương Tử và lần lượt bị Hán hóa trong hơn 1000 năm Bắc Thuộc.

Như vậy, căn cứ vào hai tiêu chí trên, thì những tiền đề này (“Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, Nxb Hồng Đức 2020 & “Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức 2019), phải tích hợp được với những giá trị tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại. Chí ít là những lý thuyết khoa học hiện đại tiên tiến nhất. Đồng thời nó phải chỉ ra và giải quyết những vấn nạn của nền  văn minh hiện đại, về các phạm trù: Không/ Thời gian; bản thể phạm trù vật chất, không gian đa chiều…
Cuốn sách “Phía trước Trần Thời Gian & Khí – Trường Tương Tác vũ trụ” trên tay bạn, chính là sự tiếp tục mô tả sự tích hợp với nhũng lý thuyết mũi nhọn và tiên tiến nhất của nền văn minh hiện đại – trên cơ sở hai tiền đề, mà tôi đã giới thiệu – nhằm giải quyết những vấn nạn của nền văn minh  này; và xác định một nền tảng tri thức hoàn chỉnh của nền văn minh, làm cơ sở để xác định một lý thuyết thống nhất. Đồng thời nó cũng phải thỏa mãn tiêu chí II, xin được nhắc lại tại đây

“Những Hệ tiền đề bổ sung cho khoảng trống tri thức nền tảng của một nền văn minh, phải có khả năng tiếp tục phát triển trên nền tảng đã được bổ sung đó những tiền đề mới, hoặc xác định được một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất.”

Thưa quý bạn đọc.
Cuốn sách này có tham vọng mô tả một Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ nhân danh khoa học và những giá trị của nền văn hiến Việt – một nền văn minh một thời huy hoàng bên bờ Nam song Dương Tử, là một trong những nền văn minh cổ đại kế thừa những giá trị đích thực của nền văn minh Atlantic; chủ nhân của thuyết ADNh & Kinh Dịch .

Thưa quý bạn đọc.
Cũng như hai cuốn sách xuất bản trước, tôi xin được phép nhắc lại rằng:
Chúng ta đang phục hồi một hệ thống lý thuyết, mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ từ giây 0 cho đến mọi sự vận động tương tác trong quá trình hình thành vũ trụ cho đến ngày hôm nay và cả tương lai, có khả năng tiên tri (tôi nhấn mạnh điều này). Do đó, để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chúng ta phải sử dụng những tiêu chí khoa học để thẩm định tính chân lý của nó. Và đây là phương pháp nghiên cứu và chứng minh của tôi, xuyên suốt trong toàn bộ cuốn sách mà bạn đang có trên tay – ““Phía trước Trần Thời Gian & Khí – Trường Tương Tác vũ trụ”

Thưa quý bạn đọc.
Tham vọng thì lớn lao, nhưng kiến thức thì có hạn. Do đó, không tránh khỏi những thiếu sót. Và với một Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ, nằm ngoài vòng tròn nhận thức của cả một nền văn minh – nói theo cách nói “Định luật Bất Toàn” của Godel – cho nên, cuốn sách này chỉ là một cột mốc trên chặng đường để tiến tới một Lý Thuyết Thống Nhất, ngay cả khi nó được coi là đúng và chấp nhận rộng rãi. Trong trường hợp này – ngay cả khi nó được coi là đú,ng và chấp nhận rộng rãi – nó cũng phải cần có những công trình nghiên cứu tiếp tục của các bậc trí giả tinh hoa, thuộc nên văn minh hiện đại để phục hồi lại một cách hoàn chỉnh hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ này.

Bởi vì thuyết ADNh& Kinh Dịch không chỉ dừng lại với tư cách Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ . Mà nó còn phát triển khả năng ứng dụng với những hệ thống, phương pháp luận riêng phần trong mọi lĩnh vực liên quan đến cuộc sống, xã hội, con người, như : Đông Y; Địa lý Phong thủy; dự báo cho từng số phận con người – Tử vi, Tử bình, Bốc dịch; các hiệu ứng tương tác vận động của vũ trụ lên trái Đất và tác động lên cuộc sống của con người như Kì Môn Độn Giáp, Thái Ất Thần Kinh với khả năng tiên tri.

Do đó, khi thuyết ADNh & Kinh Dịch được phục hồi nhân danh một Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ, thì nó phải tiếp tục phát triển với sự liên hệ một cách có hệ thống, theo chuẩn mực thẩm định của những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng với tất cả các vấn đề liên quan đến nó, tối thiểu là trong các hệ luận ứng dụng, đã trình bày ở trên. Cần phải xác định rằng:
Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ và rộng khắp trên mọi phương diện. Khó có thể giải quyết được trong một đời người. Người viết rất hy vọng rằng cuốn sách này sẽ tiếp tục góp phần vào sự phát triển của nền văn minh chúng ta.
Xin chân thành cảm ơn quy1 bạn đọc quan tâm.

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi