SAI LẦM CỦA MỘT NỀN VĂN MINH.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

Thưa quý vị và các bạn.

Ngày hôm qua, trong khi soạn những tư liệu để chuẩn bị quay video clip, làm lại bài thứ VIII, trong loạt 8 bài giảng của tôi về “Khái niệm cơ bản về Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt”, có chủ đề: “Thuyết Âm Dương ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ”, tôi đã xác định một cách chắc chắn hơn, rằng: Những tri thức tinh hoa của nền văn minh chúng ta, như: SW Hawking, Eistein,,,và những quan niệm về vũ trụ trong Lý thuyết Dây, thuyết Bất Định hoàn toàn sai.
Sai lầm này bắt đầu từ những khái niệm tiền đề của nó. Đó la2 những kiến thức nền của nền văn minh hiện nay. Họ đã hiểu sai bản chất khái niệm. Tất nhiên, tôi sẽ chứng minh rất kỹ điều này trong video đang thực hiện. Nhưng tạm thời tôi tóm tắt ở đây để qúy vị và các bạn tham khảo.
1/ NHỮNG SAI LẦM VỀ NỘI HÀM KHÁI NIỆM.
A/Nội hàm khái niệm “Không gian ba chiều”.
Trong cuốn sách nổi tiếng của ngài SW Hawking, đã thể hiện sai lầm khi nói đến giới hạn của một vũ trụ với “Không gian ba chiều”. Ngài Hawking cho rằng: Chính giới hạn này, khiến cho sự phát triển của Lý thuyết Dây trở nên khập khiễng. Ngài cho rằng: Lý thuyết Dây cần tối thiểu 26 chiều không gian.
Sai lầm này, bắt nguồn từ sai lầm về cách hiểu nội hàm khái niệm “Không gian ba chiều”. Thực ra, “Không gian ba chiều” chỉ là khái niệm quy ước. Mục đích của nó nhằm mô tả những động tử chuyển động theo “vô cực chiều” trong không gian. Thực  tếvũ trụ là “không gian vô cực chiều”. Hay mô tả cách khác: Không có giới hạn cho các chiều không gian.
B/ Nội hàm khái niệm “Chiều Không gian”.
Quan niệm về “chiều không gian” chính là tiền đề cho “không gian ba chiều”, hoặc “đa chiều”. Bản chất khái niệm này cũng mang tính quy ước về một quỹ đạo bất kỳ của một chuyển động trong không gian, và được mô tả trong một không gian quy ước gồm “Ba chiều”. Nếu một “Động tử” quan sát, được mô tả bằng “một điểm” và tạo ra một quỹ đạo trong không gian, thì đó chính là “chiều” của động tử đó trong không gian. “Đường” mô tả chiều không gian của động tử đó, được vẽ bằng những “Điểm” quy ước liên tiếp.
Như vậy, bản thân khái niệm “chiều không gian” chuyển động của một “điểm” qua một đường, được mô tả trong không gian ba chiều, cũng chỉ mang tính quy ước. Và nó không có thật trên thực tế.
c/ Nội hàm khái niệm “Điểm” trong toán học.
Đây cũng là một khái niệm hoàn toàn mang tính quy ước – hệ quả của tư duy trừu tượng của con người quan sát vũ trụ và mô tả nó bằng những khái niệm. “Điểm” là một khái niệm không có thật. Mặc dù nó là tiên đề của toàn bộ tri thức Toán học của nền văn minh.
Khái niệm “Điểm” không có định lượng.
BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

VÌ SAO “CÓ THỜ CÓ THIÊNG, CÓ KIÊNG CÓ LÀNH”.

Nguyễn Vũ Diệu PHẦN III.
Tiếp theo
VÌ SAO “CÓ THỜ CÓ THIÊNG, CÓ KIÊNG CÓ LÀNH”.
Các vấn đề kiêng cữ của người Việt kể cả hiện tượng khách quan và những nghi lễ liên quan tôi đã trình bày ở hai phần trước. Nhưng vấn đề vì sao lại “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”? Bài viết này được bổ sung bởi anh Nguyễn Đắc Đại hỏi tôi về vấn đề này.
Vấn đề “có kiêng, có lành” thì tôi đã xác định rằng: Nó không phải là sự kiêng cữ vu vơ. Mà là có nguyên nhân khách quan của những nhận thức đã bị thất truyền, do một nền văn minh bị sụp đổ. Hay nói một cách khác: Có một chân lý được nhận thức, đằng sau những tục kiêng cữ này.
Nhưng vấn đề còn lại: Tại sao “có thờ có thiêng”? Và bàn thờ bao giờ cũng được chọn vị trí trang trọng nhất với những nghi lễ long trọng nhất – dù bạn theo tôn giáo, hoặc tín ngưỡng nào.
Tôi có thể khẳng định rằng: nếu cách đây 50 năm, nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay sẽ không thể lý giải được điều này. Tất nhiên, điều đó cũng trở nên huyền bí trong suy nghĩ của nhiều người. Và những người tự cho mình có tri thức khoa học và chỉ tin theo những nhận thức gọi là “được khoa học công nhận”, sẽ luôn coi việc thờ cúng là “mê tín dị đoan”. Vậy nó thiêng ở chỗ nào?
Thờ Chúa; thờ Phật, thờ Đức Ala; thờ Ông Địa….thờ ai thì “thiêng” hơn? Hay cứ “có thờ, có thiêng”? Vì sao lại thiêng? Nó do con người tin vào sự thiêng liêng, hay thiêng thật?
Ở đây tôi chỉ đưa ra một cách giải thích và mọi người có quyền đưa ra một cách giải thích khác. Tôi không tranh luận.
Trước hết, tôi xin lưu ý quý vị và các bạn một sự kiện thực nghiệm của Vật Lý Lượng tử. Đó là các nhà khoa học đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng: “Ý thức tương tác với cấu trúc vật chất vi mô”. Cụ thể nó tương tác với các hạt cơ bản. So sánh với những tri kiến của Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – thì phát hiện của Vật Lý Lượng Tử mới chỉ là kiến thức sơ khai về bản chất của hiện tượng được thực nghiệm. Nền tảng tri thức khoa học hiện nay – cụ thể là Vật Lý lương tử – mới chỉ nhận thức qua thực nghiệm hiện tượng. Nhưng nền văn minh hiện nay vẫn chưa thể hiểu được bản chất cơ chế tương tác của ý thức với các hạt cơ bản. Bởi vậy, để giải thích được “có thờ, có thiêng” vẫn chưa thể rốt ráó, chính vì nên tảng tri thức của cả nền văn minh hiện nay, chưa đủ để hiểu biết tường tận những bí ẩn của thiên nhiên và vũ trụ.
Nhưng sự kiện thực chứng của Vật Lý Lượng tử – xác định một thực tế khách quan , là “ý thức tương tác với vật chất vi mô”, lại là nền tảng để có thể mô tả và giải thích vì sao “có thờ, có thiêng”.
Nếu cách đây trên 50 năm về trước, sẽ không thể giải thích điều này, vì thiếu những nền tảng tri thức khoa học thực nghiệm căn bản, nhằm xác định một thực tại khách quan. Và đến nay, chính những thực nghiệm này của ngành Vật lý Lương tử, xác định một sự liên hệ giữa hai phạm trù của cả triết học và khoa học là “Vật chất” và “Ý thức” – một các gọi khác của ý thức là “tinh thần”. Mặc dù từ rất lâu, trong lĩnh vực của triết học, người ta đã thừa nhận sự tương tác của ý thức lên vật chất. Sự khác nhau của “Duy tâm” hay “Duy vật”, chỉ là cái gì có trước và cái gì là bản thể quyết định của cái kia mà thôi.
Tóm lại, tôi muốn xác định với quý vị và các bạn rằng: Dù trong lĩnh vực triết học, hay khoa học thì đến ngày hôm nay, ở nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh, con người vẫn thừa nhận tính tương tác của ý thức với vật chất. Và điều này đã được các thực nghiệm của Vật Lý Lượng tử chứng minh.
Thưa quý vị và các bạn.
Như tôi đã trình bày:
Nền tảng tri thức khoa học hiện nay – cụ thể là Vật Lý lương tử – mới chỉ nhận thức qua thực nghiệm hiện tượng. Nhưng nền văn minh hiện nay, vẫn chưa thể hiểu được bản chất cơ chế tương tác của ý thức với các hạt cơ bản.
Đương nhiên, khi nền tảng tri thức của cả một nền văn minh hiện đại, vẫn chưa thể hiểu được “bản chất cơ chế tương tác của ý thức lên vật chất vi mô”, của Vật Lý Lượng tử – thì – sự giải thích không thể coi là dễ hiểu.
Do đó, tôi cần xác định một số tiên đề để làm cơ sở cho việc giải thích: Vì sao “có thờ có thiêng”.
Tiền đề thứ nhất.
Định nghĩa về vật chất của tôi là:
[“Tất cả mọi dạng tồn tại có năng lượng và tương tác, đều là vật chất”].
Đây là một nền tảng tri thức rất căn bản, mà tôi đã giảng trong khóa học 8 buổi về “Những kiến thức căn bản về Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt”. Trên cơ sở này, các học viên của lớp Địa Lý Lạc Việt, mới có thể hiểu rõ những tri kiến trong chuyên ngành ứng dụng Địa Lý Lạc Việt, Và họ sẽ hiểu rõ ngành Địa Lý Lạc Việt, hoàn toàn rất khoa học. Mọi mô hình biểu kiến của DLLV đều có chân lý khách quan, đằng sau những mô hình biểu kiến và phương pháp ứng dụng của nó.
Tiền đề thứ hai.
Định nghĩa về khái niệm “Khí” trong Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt, là:
[“Khí là một dạng tồn tại của vật chất phi khối lượng, phi hình thể. Được hình thành bởi vật chất và tương tác trở lại với vật chất.
Khí chính là trường tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất và với chính nó”]
Trên cơ sở của sự xác định qua thực nghiệm trong ngành Vật Lý Lượng tử và những tiền đề đã trình bày, tôi xác định rằng:
Việc thờ cúng – “có thờ có thiêng” – chính là sự tập trung ý thức của một cá nhân, một gia đình, một cộng đồng làng xã, một dân tộc cho một địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Dù họ thờ cái gì?
Sự giải thích này, trên cơ sở thực chứng của ngành Vật Lý Lượng tử và sự tương tác với năng lượng của một dạng vật chất quen gọi là “ý thức”.
Vậy thì tại sao nó lại thiêng? Và nó hình như cũng thiêng thật với hàng loạt hiện tượng, mà người ta có thể kể ra về sự linh thiêng của những nơi thờ tự (?!).
Sự tương tác của ý thức (Một dạng tồn tại của vật chất) với địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo ra một dạng “khí” và thông qua – trường khí tồn tại khách quan và độc lập – với hai đối tượng (Ý thức và địa điểm tín ngưỡng), tổng hợp thành một tập hợp những tương tác, tác động trở lại với môi trường, khiến nó trở nên “linh thiêng”.
Thưa quý vị và các bạn.
Cụm từ mà tôi trình bày ở trên – [“trường khí tồn tại khách quan và độc lập”] – chính là điều kiện địa lý của môi trường có địa điểm tín ngưỡng, là chùa, miếu, đình, đền, nhà thờ….Và điều này giải thích vì sao các Địa Lý phong thủy gia – từ cổ chí kim – có thể dùng tri thức Địa Lý phong thủy để tác động đến sự linh thiêng của địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo.
Thưa quý vị và các bạn.
Tôi đã giải thích xong vấn đề “Có thờ có thiêng”, nhưng tôi cũng xin nhắc lại, rằng: Đấy chỉ là một sự giải thích. Bất cứ ai cũng có quyền giải thích khác tôi theo cách hiểu của họ. Tôi không tranh luận.
Tuy nhiên, tôi cũng cần xác định rằng: Việc gọi là “đuổi mưa” thực chất chỉ là sự tương tác của ý thức với vật chất. Có điều quan niệm về vật chất của Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – và quan niệm về vật chất của nền văn minh hiện đại khác nhau khá xa. Chưa nói đến bản chất cơ chế tương tác, cái mà tôi cần xác định rằng: Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay chưa biết gì về nó.
Ngài SW Hawking cho rằng: 50 năm trước khi Lý thuyết Tương đối của Eistein được công nhận, nền tảng tri thức của nền văn minh chưa đủ để đặt vấn đề về Lý Thuyết thống nhất. Tôi xin bổ sung thêm rằng: 100 năm nữa, nếu không thừa nhận Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử, và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương, thì nền văn minh hiện này cũng còn tiếp tục đặt vấn đề có hay không một Lý thuyết thống nhất.
Cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ của quý vị và các bạn.
PS: Thưa quý vị và các bạn.
Với định nghĩa về vật chất của tôi thì Thượng Đế và các thánh thần nếu còn tương tác với trần gian, thì các Ngài cũng phải có năng lượng – tức là một dạng tồn tại của vật chất. Có điều dạng tồn tại nào thì còn là sự tiếp tục khám phá. Những ai có tín ngưỡng vẫn cứ tiếp tục giữ niềm tin của các vị. Định nghĩa lại về vật chất, xóa bỏ ranh giới giữa ý thức và các khái niệm vật chất cổ kim, không có nghĩa Thượng đế và các thánh thần không tồn tại. Nhưng điều chắc chắn rằng: Định nghĩa lại về vật chất, sẽ làm thay đổi và mở rộng đối tượng nghiên cứu khoa học.
Đức Phật đã chứng minh một cách hoàn hảo trong bộ kinh nổi tiếng “Thần Chú Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm” rằng:
Không thể có hai cái “Tính thấy” nhìn thấy nhau.
Bởi vậy, cái nền khoa học thực chứng, thực nghiệm hiện đại, cần phải có những lý thuyết khoa học hoàn hảo để tiếp tục phát triển. Do những cái nó không thể nhìn thấy.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

SUY TƯỞNG VÀ CHIA SẺ

BẠN ĐANG NGHĨ GÌ?
Fb thường có câu hỏi như vậy!
TÔI ĐANG SUY TƯỞNG VÀ CHIA SẺ NHỮNG DÒNG SUY TƯỞNG NÀY ĐẾN NHỮNG AI QUAN TÂM.
Thế gian thường tình, luôn có hai cách giải thích mọi hiện tượng. Một cách giải thích phổ biến nhất, từ những bậc hiền triết cho đến kẻ nghèo mạt vận trên thế gian, là giải thích trực quan “Trời sinh ra thế!”. Tất nhiên trong đó có cả tôi, khi đang viết những dòng này. Một điều rất,  rất cố hữu là tất cả đều tin vào những nhận thức trực quan đó, coi như chân lý tuyệt đối. “Chính mắt tao nhìn thấy!” – “Thực mục sở thị” – thế là xong!
Một tai nạn giao thổng xảy ra. Cảnh sát đến lập biên bản. Những người làm chứng xác định tai nạn gây ra bởi một đối tượng vượt đèn đỏ. Phạt. Hoàn toàn chính xác! Rất nhiều người nhìn thấy và làm chứng. Ngay cả một phương tiện kỹ thuật hiện đại thời @, là những chiếc camera cũng ghi nhận đúng như vậy. Hoàn toàn khách quan.
Đấy là cách giải thích trực quan. Gần như cả  thế giới, trong suốt chiều dài của lịch sử văn minh nhân loại đang có những giải thích như vậy.
Một câu chuyện, chứa đấy tính “minh triết đảo” (Khái niệm “minh triết đảo” tôi sẽ định nghĩa sau) – chính là câu chuyện dân gian Việt nổi tiếng dưới đây:
TRỜI SINH RA THẾ
Xưa có một ông nhà giàu, sinh được hai cô con gái, cô chị gả cho người làm ruộng, cô em gả cho người học trò.
Một hôm thong thả, bố vợ cùng hai con rể đưa nhau đi chơi. Bố nghe tiếng con ngỗng kêu lên mới hỏi:
-Làm sao tiếng nó to thế nhỉ?
Người học trò nói chữ:
-Trường cảnh tắc đại thanh.
Người làm ruộng nói:
-Trời sinh ra thế !
Đi được một quãng, lại thấy con vịt đang bơi dưới ao, bố lại hỏi:
-Tại sao nó nổi?
Người học trò lại nói chữ:
-Đa mao, thiểu nhục tắc phù.
Người làm ruộng lại nói:
-Trời sinh ra thế !
Đi một quãng nữa, thấy hòn đá nức đôi, bố lại hỏi:
-Sao nó lại nứt ra thế này?
Người học trò vội trả lời:
-Phi nhân đả, tắc thiên đả.
Người làm ruộng vẫn nói:
-Trời sinh ra thế !
Đến lúc về nhà, ba bố con ngồi uống rượu, bố khen con rể học trò hay chữ, chê con rể làm ruộng dốt. Người con rể làm ruộng tức mình mới hỏi lại người học trò:
-Tôi thì dốt thật, nhưng mà chú nói: “Trường cảnh tắc đại thanh” là nghĩa làm sao?
Người học trò đáp:
-Nghĩa là cổ dài to tiếng.
Người làm ruộng mới bẻ:
-Thế con ểnh ương cổ đâu mà tiếng cũng to?
Rồi lại hỏi:
-Chú nói: ” Đa mao, thiểu nhục tắc phù” là nghĩa làm sao?
Người học trò đáp:
-Nghĩa là: ” Nhiều lông, ít thịt thì nổi ”
Người làm ruộng lại bẻ:
-Thế thì cái thuyền, lông đâu, thịt đâu mà cũng nổi?
Rồi lại hỏi:
-Còn chú nói: “Phi nhân đả, tắc thiên đả” là nghĩa làm sao?
Người học trò trả lời:
-Nghĩa là: “Nếu không phải người đánh thì trời đánh ”
Người làm ruộng tức mình liền bẻ luôn:
-Thế cái L… mẹ chú thì ai đánh mà cũng nứt đôi ra? Chẳng cũng là trời sinh thế cả hay sao?
Lúc đó ông bố vợ mới gật gù nói:
-Ừ, dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng !!!
Hàm ý sâu xa – với tính “minh triết đảo” của câu chuyện này, chính là kết luận của ông bố vợ. Ông thừa nhận tính trực quan của nhận thức và phủ nhận tính lý thuyết của sự tổng hợp nhận thức. Tất nhiên, tính lý thuyết của sự tổng hợp nhận thức chỉ đúng, khi nó là một hệ thống lý thuyết hoàn hảo. Lý thuyết thống nhất (Grand Unification Theory).  Nó sẽ sai, như câu chuyện dân gian Việt. Vì nó chỉ phản ánh một cách, cục bộ, riêng phần cho những hiện tượng liên quan đến nó.
Trở lại với câu chuyện đụng xe. Nền văn hiến Việt kỳ vĩ, một thời huy hoảng ở miền Nam sông Dương – chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch – đã giải thích một cách xuất sắc theo một phương pháp thực hiện qua mô hình biểu kiến tập hợp những yếu tố tương tác của vũ trụ. Đó chính là khoa Tử Vi Đông phương; hoặc các phương pháp dự báo khác. Với phương pháp dự báo của Tử Vi, nó không cần biết đến đèn đỏ, hay xe không phanh thắng, chạy quá tốc độ…Mà chỉ căn cứ vào những dữ liệu được lập thành trên lá s, để xác định rằng: Ngày đó, tháng đó, năm đó và vào giờ đó, đối tượng sẽ gây tai nạn giao thông. tất nhiên phải là thấy giỏi. Đấy là cách giải thích trên cơ sở một hệ thống lý thuyết hoàn hảo và chi tiết cho đến từng hành vi của con người.
Còn tiếp

Chú thích: Định nghĩa về “Minh triết đảo”: Một ý tưởng mô tả bản chất của sự kiện và vấn đề, nhưng về hình thức thể hiện ngược lại với điều muốn nói. Đây là hiện tượng hiếm xày ra. Thường chỉ dùng trong mô tả những ẩn ý. Thí dụ: Trong bộ phim hoạt hình “Cướp Biển”, trong đó, con khỉ cướp biển (Rất giống ngài Obama)  phát biểu với con voi (Rất giống ngài Tập Cận Bình), rằng: “Biển rất chật, không đủ chỗ cho hai chúng ta”.
Đạo diễn đã không để cho phe con Voi nói câu này, mà cho con Khỉ tướng cướp. Vì muốn che giấu một ẩn ý. Tôi đã đưa nội dung này lên dd Lý học của TTNC LHDP, topic: Chiến lược và sự kiến Châu á Thái Bình Dương. Phim sx năm 2012.
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

NGUỒN GỐC ÂM LỊCH – NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT.

NGUỒN GỐC ÂM LỊCH – NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT.
Khoa học hiện đại xác định rằng:
Trên bầu trời nhìn từ trái Đất, có ba chòm sao Thiên Cực Bắc thay đổi theo chu kỳ xấp xỉ 6400 năm – Việt lịch xác định chính xác là: 6480 năm, gồm:
Đại Hùng Tinh – Thiên Lang – và Vũ Tiên.
Danh xưng của ba chòm sao Thiên Cực Bắc đó, chính là Phả hệ theo truyền thuyết của Việt tộc, còn lưu truyền đến ngày nay. Đó chính là các chòm sao: Vũ Tiên – Tằng tổ Mẫu của Việt tộc – Đại Hùng tinh với thời đại HÙNG VƯƠNG và con của các vua Hùng gọi LANG – ứng với chòm sao Thiên Cực Bắc tiếp theo sau chu kỳ của chòm sao Thiên Cực Bắc hiện nay, là: Thiên Lang.
Truyền thuyết kể lại rằng:
1/ Kinh Dương Vương đi tuần ở Động Đình Hồ lấy tiên nữ là VŨ TIÊN, sinh ra Lạc Long Quân – Ứng với chòm sao Vũ Tiên.
2/ Tổ phụ Lạc Long Quân lấy Tổ Mẫu Âu Cơ sinh ra một cái bọc chứa 100 trứng, nở ra 100 người con trai. 50 người con theo Mẹ lên núi, người con thứ nhất lên làm Vua với danh xưng Hùng Vương thứ nhất. Ứng với chòm sao Đại Hùng Tinh. Chòm sao Thiên Cực bắc hiện nay.
3/ Danh xưng con gái của vua gọi là Mỵ Nương. Con trai gọi là Lang. Ứng với chòm sao Thiên Lang – tức chòm sao Thiên Cực bắc tiếp theo chu kỳ của chòm sao Đại Hùng Tinh.
Thưa quý vị và các bạn.
1/ Hiện nay chúng ta đang ở chu kỳ lịch kiến Dần – tháng Giêng là tháng Dần. Tức đang thuộc về chòm sao Thiên Cực Bắc – Đại Hùng tinh – quản. Theo nguyên lý Dương trước Âm sau – nên tiếp theo sẽ là chòm sao Thiên Lang – con của vua Hùng quản. Tức lịch kiến Tý.
2/ Sau chu kỳ 6480 năm của chòm sao Thiên Lang, chu kỳ của các chòm sao Thiên Cực Bắc tiếp đến chòm sao Vũ Tiên – tức lịch kiến Sửu.
Trong ba chu kỳ này – Kiến Tý, Kiến Sửu và kiến Dần thì có hai con giáp, là:
Dần (Tháng Giêng) và Tý (Tháng Một) là thuộc Dương, ứng với danh xưng của Vua Hùng và con trai là Lang (Thuộc Dương). Tháng Sửu thuộc Âm, nên ứng với Tằng tổ Mẫu thuộc Âm.
Chúng ta rất dễ dàng nhận thấy rằng: Hai tháng Dương – Tý/ Dần – với một tháng Âm (Sửu) ở giữa thì đây chính là quái Ly trong Việt Dịch. Hình tượng quái Ly đã xác định một nền văn hiến Việt một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử, và là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương.
Cả ba chu kỳ của các chòm sao Thiên cực Bắc này, kéo dài:
6480 x 3 = 19. 440 năm.
Phân Âm Dương:
Tức nhân 2 = 38. 880 năm.
Đây chính là thời gian gấp 3/ 2 lần một Đại Vận Hội của Thái Ất – cũng được tính theo 12 con giáp.
Một Đại Vận hội = 12. 960 năm. Hay nói rõ hơn: Bằng đúng một nửa thời gian trái đất quay một vòng quanh giải Ngân hà, gồm hai Đại Vận hội = 25. 920 năm.
Như vậy, với 6 Đại Vận Hội sẽ tương đương hai chu kỳ của các chòm sao Thiên Cực Bắc.
12 Đại Vận Hội, sẽ tương đương bốn chu kỳ Thiên cực Bắc.
Nếu mỗi chu kỳ Thiên Cực bắc được sắp thứ tự theo 12 con giáp (Chu kỳ lặp lại) – thì chúng ta tiếp tục tính đến giây /O/ của vũ trụ.
Như vậy, chúng ta thấy rất rõ rằng: Khi Khổng tử xác định:
“Về Lễ ta theo nhà Chu. Nhưng về lịch ta theo nhà Hạ, Vì lịch nhà Hạ phải ánh đúng chu kỳ thời tiết hiện nay (Lịch kiến Dần, mà chúng ta đang dùng)”.
Khoa học hiện đại, với thực chứng và thực nghiệm xác định ba chòm sao Thiên Cực Bắc và chu kỳ hơn 6000 năm của nó, đã cho thấy Khổng tử không có kiến thức tối thiểu về Thiên văn ở tầm vũ trụ. Nhưng tiếc thay! Cho đến ngày hôm nay, bao kẻ vẫn dẫn Khổng tử, như một vị Thánh tổ Nho giáo phương Đông và coi nguồn gốc lịch là từ văn minh Hán, một cách dốt nát và ngu xuẩn.
Tôi đã xác định rằng:
Anh chị em Địa Lý Lạc Việt, không gọi Âm lịch, mà từ nay gọi là Việt Lịch, để khẳng định nguồn gốc Âm lịch của nền văn minh Đông phương huyền vĩ.
Anh chị em cần nhớ rằng: Sự chính xác về lịch pháp của Việt lịch – tức Âm lịch Đông phương – chính là sự mô tả chính xác một không gian tương tác có quy luật của vũ trụ, có thể tiên tri. Và hàng Thiên niên kỷ qua, tất cả thế giới Đông phương này đã tiên tri mọi sự kiện với thời gian Đông phương. Bởi chính những quy luật tương tác và trường tương tác đầy bí ẩn một cách huyền vĩ của nó.
Chia sẻ với anh chị em những tri kiến thức này, hy vọng những tinh hoa của thế hệ tiếp nối, sẽ tiếp tục khám phá, chứng minh một nền văn minh huyền vĩ nhân danh nền văn hiến Việt.
Cảm ơn vì đã quan tâm.
Xin chúc một buổi sáng an lành đến với các bạn, qua bản “Dạ Khúc” từ giọng ca huyền thoại Thái Thanh.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

CHỮ VẠN – BIỂU TƯỢNG CỦA TƯƠNG TÁC VÀ VẬN ĐỘNG CỦA VŨ TRỤ.

Bản chất thật của chữ Vạn là gì? Cho đến ngày hôm nay, khi tôi đang gõ những hàng chữ này, những nhà nghiên cứu vẫn đang đi tìm bản chất của chữ Vạn, vốn xuất hiện trong các nền văn minh cổ đại trên thế giới từ 16. 000 năm qua. Và họ chỉ dừng lại với quan niệm cho rằng: “Chữ Vạn là một biểu tượng mang tính tín ngưỡng”. Nhưng từ 16. 000 năm trước – tức là khi mà các dân tộc trên thế giới này chưa hình thành để xuất hiện những tín ngưỡng, thì biểu tượng chữ Vạn có một nội hàm như thế nào?
Trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mô tả chữ Vạn như sau:
Trích:
[“Chữ Vạn (tiếng Phạn: स्वस्तिक svastika, chữ Hán: 卍) là một biểu tượng chữ thập với bốn góc vuông về góc phải và hướng sang bên phải, có hướng các đầu mút xoay ngược chiều kim đồng hồ (đường đi rẽ phải). Tên gọi svastika (gồm chữ sv và asti ghép lại) hiểu theo tiếng Phạn có nghĩa là “phúc lộc, an khang, thành công thịnh vượng”. Biểu tượng chữ Vạn của Ấn Độ giáo, đôi khi còn được trang trí thêm các chấm tròn ở các góc một phần tư.

Đây là biểu tượng của sự may mắn, đã từng xuất hiện lần đầu khoảng 16.000 đến 14.000 trước công nguyên. Biểu tượng này được lấy ý tưởng từ việc quan sát vũ trụ, hệ mặt trời, nó thể hiện nơi phát sinh ra nguồn sống vô tận, và sự vĩnh hằng. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, chữ Vạn được đồng hóa với thần Vishnu và được liên kết với thần Shiva và việc thờ rắn thần Nagar.

Chữ Vạn là một trong ba mươi hai tướng tốt của Phật, vị trí trên ngực. Nó biểu thị công đức vô lượng của Phật. Chữ Vạn là phù hiệu, không phải là chữ viết. Viết xoay bên trái hay bên phải đều được, tuy rằng có một số nhà Phật học tranh luận nhau về hướng xoay của phù hiệu này.
Lịch sử
Ở Ấn Độ thời xưa, Phật giáo, Bà La Môn giáo, Kỳ na giáo, đều sử dụng chữ này. Đầu tiên, người Ấn Độ cho rằng phù hiệu nầy là sợi lông xoắn ở ngực của Phạm thiên, Tỳ thấp nô (Phạn ngữ: Visnu), Cát Lật Sát Noa (Phạn: Krsna) và thông thường coi đây là dấu hiệu của sự tốt lành, thanh tịnh, tròn đầy.

Theo công trình nghiên cứu của tiến sĩ Quang Đảo Đốc ở trường đại học Quốc Sĩ Quán, Nhật Bản thì chữ Vạn vốn không phải là chữ viết. Bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII trước Công Nguyên đã thấy ghi trong đạo Bà-la-môn ở lồng ngực của thần chú Tỳ Thấp Noa với ký hiệu là vátsa, cho tới thế kỷ thứ III trước Công Nguyên mới được dùng trong kinh Phật. Đến thế kỷ thứ nhất của Công Nguyên lại đổi tên thành svastiko, vốn là tướng hình trôn ốc túm lông đầu con trâu, lại biến thành lông ngực của thần chủ Tỳ Thấp Noa, sau đó trở thành một trong 16 tướng tốt, rồi lại thành một trong 32 tướng tốt.[1]
Theo kinh Trường A Hàm, chữ Vạn là tướng tốt thứ 16 nằm trước ngực của Phật. Theo Đại Tất Già ni càn tử sở thuyết kinh quyển 6, chữ Vạn là tướng tốt thứ 80 của Thích Ca Mâu Ni, nằm trước ngực.[1] Trong Thập địa kinh luận quyển 12 có nói, khi Bồ Tát Thích Ca chưa thành Phật, giữa ngực có tướng chữ Vạn kim cương, biểu thị công đức trang nghiêm. Nhưng Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 3 có nói đầu tóc của Phật cũng có 5 tướng chữ Vạn.[1] Trong Hữu bộ Tỳ nại Da tạp sự quyển 29 nói: Ở lưng của Phật cũng có tướng chữ Vạn.[1] Trong kinh Đại Bát Nhã quyển 381 nói rằng: chân tay và trước ngực của Phật đều có “Cát tướng hỷ toàn” để biểu thị công đức của Phật, tức là chữ Vạn.[1]

Cưu Ma La Thập và Huyền Trang dịch chữ Vạn là chữ Đức, ngài Bồ Đề Lưu Chi thì dịch là chữ Vạn, biểu thị ý nghĩa công đức tràn đầy. Nhưng âm của chữ Srivatsalaksana ban đầu không được đưa vào kinh truyện, đến năm 639, thời Võ Tắc Thiên, mới đặt ra chữ này, đọc là Vạn và cho rằng chữ này có ý nghĩa là nơi nhóm hợp của muôn điều tốt lành.

Năm 1935 – Đức Quốc Xã ban hành luật tước đoạt quyền công dân của người Do Thái tại Đức và đổi quốc kỳ mới có chữ Vạn”].
—————-

Thưa quý vị và các bạn.
Từ năm 2001, trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, tôi đã chưng minh chữ Vạn chính là một biểu tượng mô tả sự vận động và tương tác của vũ trụ. Chữ Vạn ngược, chính là biểu tượng chiều vận động của vũ trụ; chữ Vạn xuôi, chính là biểu tượng chiều tương tác của vũ trụ (Chiều ngược lại).
Trên trang web của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ – Tòa Thánh Tây Ninh – cũng có bàn về chữ Vạn. Và họ cũng xác định không rõ ràng về biểu tượng Chữ Vạn thế nào là đúng. Cuối cùng, cũng nói chung chung cho rằng “
Chữ Vạn tượng trưng điều lành, điều tốt đẹp, vì nó hiện ra trên ngực của Đức Phật, nó là một trong 32 tướng tốt của Phật“. Nhưng vấn đề đặt ra: “Chữ Vạn trên ngực Đức Phật là chữ Vạn nào? Khi có đến hai chữ Van với hai chiều khác nhau”.
Thưa quý vị và các bạn:
Tôi xác định rằng:
Chữ Vạn theo chiều xuôi kim đồng hồ chính là biểu tượng của chiều tương tác của vũ trụ, Hình dưới bên phải (Chiều tương sinh Ngũ hành của Hà Đồ) . Chữ Vạn ngược chính là chiều vận động của vật chất trong vũ trụ này – Hình dưới bên trái (Chiều tương khắc Ngũ hành của Lạc Thư).

CHU VAN 2.jpg

Jean A3.jpg

11.JPG

Bây giờ quý vị và các bạn xem lại hình minh họa cho sự vận động của vũ trụ và so sánh biểu tượng chữ Vạn trong hình dưới đây và đối chiếu với hình Âm Dương Lạc Việt:

Không có văn bản thay thế tự động nào.

 

Jean A3.jpg

48398949_2027225373991145_5963615266486091776_n.jpg

Thưa quý vị và các bạn.

Tôi đã chứng minh rằng: Đồ hình Âm Dương Lạc Việt là một biểu tượng phổ biến trong tất cả những di sản của các nền văn minh cổ đại, được phát hiện trên thế giới. Và chúng có nhiều nhất trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, chính là biểu tượng của sự vận đông tương tác của vũ trụ. Đó cũng chính là biểu tượng của chữ Vạn.
buc-tranh-dong-ho-lon-dan-son-dau-dep.jpg
Tất cả mọi sự trùng khớp, mang tính hợp lý lý thuyết, đã minh chứng cho một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ – mà ít nhất có từ 16. 000 năm trước, qua di sản chữ Vạn – đã tồn tại trên trái Đất này. Nền văn minnh này đã thể hiện một tri thức thiên văn siêu việt, qua biểu tượng chữ Vạn, mà phổ biến nhất chính là đồ hình Âm Dương Lạc Việt.
Điều này là một bằng chứng sinh động và sắc sảo nữa xác định rằng:
Nền văn minh Lạc Việt chính là hậu duệ của nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ đã tồn tại trên trái Đất này. Và chỉ có những di sản huyền vĩ lưu truyền trong những giá trị của văn hóa truyền thống Việt, mới đủ khả năng phục hồi lại thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch.
Đó chính là Lý thuyết thống nhất
(Grand Unification Theory) mà nhân loại đang mơ ước.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi