LÝ HỌC VIỆT VÀ NGUỒN GỐC THÁNG CÔ HỒN

Chúng ta đang sống trong tháng Bẩy, năm Canh Tý Việt lịch 2020. Trong dân gian quen gọi là tháng “Cô hồn”. Rất nhiều truyền thuyết mang tính tôn giáo và tâm linh, mô tả cho nguyên nhân của Tháng Cô Hồn này. Trong đó có cả truyền thuyết liên quan đến Phật Giáo, về Ngài Mục Kiều Liên xuống Địa Ngục cứu mẹ. Trong Phật Giáo gọi là lễ Vu Lan, báo hiếu các bậc sinh thành. Trong dân gian Việt còn gọi là ngày lễ “Xá tội vong nhân”, tức là ngày mà các linh hồn người chết bị đọa dày dưới Địa Ngục được tha tội để về nơi Dương thế. Có thể nói, hầu hết các dân tộc Đông phương đều có những nghi lễ cúng bái trong “Tháng Cô Hồn” này với những cách giải thích khác nhau tùy theo tín ngưỡng và tôn giáo. Nhưng có một điểm chung cho các truyền thuyết về những nghi lễ thực hiện trong rằm tháng Bảy này, là liên quan đến vong linh của những người đã chết.

Do đó, vấn đề được đặt ra sẽ là bản chất thật của “Tháng Cô Hồn” này xuất phát từ đâu?
Chúng ta đặt vấn đề rằng: nếu nó xuất phát từ một tín ngưỡng, thì đó phải là một tín ngưỡng phổ biến rộng rãi thuộc về nền văn minh này. Từ đó, nó mới có thể phổ biến thành truyền thống về tháng Cô Hồn trong di sản của nền văn minh Đông phương, gồm nhiều quốc gia.

Một trong những cách giải thích khá phổ biến về nguồn gốc của tháng Cô Hồn có nguyên nhân từ Phật giáo, qua các sự tích về Lễ Vu Lan, báo hiếu của ngài Mục Kiều Liên xuống Địa Ngục cứu mẹ, và sự tích về ngài Anan cúng Ngã Quỷ. Xét về tính phổ biến thì Phật Giáo là một tôn giáo xuất phát từ Đông phương hơn 2500 năm trước và phổ biến trên toàn thế giới. Cho nên giải thích nguyên nhân từ Phật giáo với tính phổ biến của Phật giáo và tính phổ biến của tín ngưỡng liên quan đến “Tháng Cô Hồn” là khả thi. Nhưng no chỉ có tính hợp lý cục bộ. Vấn đề được tiếp tục đặt ra là: Những điều kiêng cữ trong lễ Tháng Cô Hồn” không hoàn toàn thuộc về hệ thống Phật pháp. Bởi vậy, truyền thuyết về ngài Mục Kiều Liên xuống Địa Ngục cứu mẹ, hoặc ngài Anan gặp ngã quỷ – để giải thích cho nguyên nhân của  quan niệm về “Tháng Cô hồn”, chỉ có thể được hình thành rất lâu sau khi Phật pháp trở thành phổ biến trong xã hội Đông phương. Nó không hề có trong kinh điển chính thống của Phật giáo.

Bởi vậy, chúng ta hoàn toàn có thể đi tìm nguyên nhân của quan niệm “Tháng Cô hồn” từ một cách giải thích khác.

Những dấu ấn còn lại của quan niệm về tháng “Tháng Cô hồn”, cho thấy nó liên quan đến Lý học Đông phương. Một trong những dấu ấn đó chính là từ “Quỷ Môn quan” – được coi là nơi xuất phát của ma quỷ lên trần gian vào tháng Bảy này. “Quỷ Môn quan”, hay còn gọi là “Quỷ Môn”, là một khái niệm trong Địa lý Phong Thủy mô tả trục Đông/ Tây trong Phong thủy Đông phương nói chung và trục Đông Bắc/ Tây Nam theo Địa Lý Lạc Việt (Sẽ được trình bày rõ hơn ở phần sau).

Trong lịch sử nền văn minh Đông phương, cũng đã ghi nhận một tôn giáo phổ biến ở Nam Dương tử, đó chính là Đạo Giáo. Tôn giáo này có thời điểm xuất xứ tương đương sự xuất hiện của Phật giáo – từ 2500 năm cách ngày nay. Tôn giáo này đã bị mai một cùng với sự sụp đổ của nền văn hiến Việt, từ 300 năm trước CN. Nó chỉ còn lại những dấu ấn qua những truyền thuyết về tiên thánh trong tính ngưỡng dân gian, ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Riêng ở Việt Nam thì di sản của Đạo Giáo còn trong tục thờ Mẫu, Ngũ phủ công đồng, các vị thánh…vv…

Trong Đạo Giáo, hầu hết mọi phương tiện hành pháp đều liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Từ đó, tôi nhận thấy rằng: Hoàn toàn có cơ sở xem xét cội nguồn của “Tháng Cô Hồn” từ Lý học Đông phương.

Bây giờ, chúng ta bắt đầu với mô hình Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt. Quý vị và anh chị em xem hình dưới đây:

 HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ

Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng: Trong mô hình Hà Đồ (và cả Lạc Thư) đều có 9 ô. Các ô trên Hà Đồ đều phối với Thiên Can tích hợp với độ số của nó, gồm: Giáp 1, Ất 2, Bính 3, Đinh 4, Mậu 5 (Mậu thuộc Thổ) , Kỷ 6, Canh 7, Tân 8, Nhâm 9, Quý 10 (Quý thuộc Thủy). Riêng ô giữa – Trung cung của Hà Đồ có hai Thiên Can phối là “Mậu/ Quý” với độ số 5/ 10, phù hợp với độ số Trung cung của Hà Đồ.

Và điều này liên quan gì đến “Tháng Cô Hồn” với tháng Bảy Việt lịch hàng năm?

Chúng ta đều biết rằng: Trong truyền thống văn hóa Việt, ông cha ta thường gọi tháng 11 Việt lịch là tháng Một; Tháng 12 là tháng Chạp; tháng 1 là tháng Giêng…Sau đó mới thuận tự theo số đếm phổ thông. Do đó, tháng thứ 5 tính từ tháng Một – theo cách gọi dân gian Việt – tức cũng là tháng Ba Việt lịch. Đây cũng chính là tháng kỷ niệm giỗ Tổ Hùng Vương 10/ 3 Việt lịch. Hay nói cụ thể và rõ hơn là: ngày giỗ Tổ Hùng Vương của Việt tộc vào ngày mùng 10, tháng thứ 5 Việt lịch, tính từ tháng Một (11). Đây chính là con số của Trung cung Hà Đồ, thuộc Mậu/ Dương Thổ.

Vậy tháng cô hồn liên quan gì đến mô hình Hà Đồ này?

Đây chính là tháng thứ chín, tính từ tháng Một (11) Việt lịch. Cho nên theo chu kỳ Cửu cung, tháng này nhập trung cung Hà Đồ, tương ứng với độ số 10 của Thiên Can Quý thuộc Thủy. Tháng này vì do Thiên Can Âm Thủy là Quý quản trung cung, nên Âm khí – theo Lý học Việt rất vượng. Cho nên nó thể hiện bằng thời tiết phổ biến trên trái Đất là mưa gió sụt sùi (Mưa Ngâu), hoặc bão tố, lũ lụt…vv…..với sự tích Ngưu Lang Chức Nữ nổi tiếng của nền văn minh Đông phương. Trong truyền thuyết này thì nước mắt vì cuộc tình ngang trái của vợ chồng Ngâu trên Thiên Đình, đã làm nên mưa gió sùi sụt trong tháng Bảy ở trần gian.
Nhưng tại sao nó lại được mô tả là “Tháng Cô Hồn”? Để giải thích vấn đề này, chúng ta xem tiếp mô hình dưới đây:

MÔ HÌNH LA BÀN ĐỊA LÝ LẠC VIỆT.

Trên mô hình này, chúng ta thấy rằng tháng Bảy Âm lịch hàng năm là tháng Thân, bắt đầu từ tháng Giêng là tháng Dần; tháng 2 Mão; tháng 3 Thìn; tháng 4 Tỵ, tháng 5 Ngọ; tháng 6 Mùi, tháng Bảy Thân…. Nếu theo mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”  thì Vị trí cung Khôn ở Tây Nam. Xin xem mô hình dưới đây:
MÔ HÌNH LA BÀN THEO HẬU THIÊN VĂN VƯƠNG PHỐI LẠC THƯ.

MÔ HÌNH LA KINH DÙNG TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY TÀU & LẠC THƯ.

Rất rõ ràng: Nếu theo mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” thì cung Khôn Tây Nam phối Cấn Đông Bắc, sẽ là trục “Sinh Khí”. Và cũng theo mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” thì chúng ta sẽ có bốn trục như sau:
1/ Trục Phúc Đức – Bắc Nam, tức Khảm phối Ly (Chỉ có ở người Đông Tứ Trạch).

2/ Trục “Tuyệt Mạng” –  Đông Tây, tức Đoài phối Chấn (Chung cho cả hai loại trạch mệnh).

3/ Trục Sinh Khí – Tây Nam Đông Bắc, tức Khôn phối Cấn (Chỉ có ở người Tây Tứ Trạch).
4/ Trục Họa Hại – Tây Bắc Đông Nam, tức Càn phối Tốn (Chung cho cả hai loại trạch mệnh)..
Trong đó, trục Đông Tây Tuyệt Mạng, còn một tên gọi khác là trục Quỷ Môn trong Địa Lý phong thủy. Và rất dễ dàng nhận thấy sự vô lý trong cấu trúc của mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” ứng dụng trong Địa Lý phong thủy:

Người Tây Trạch không có trục Phúc Đức và người Đông trạch không có trục Sinh Khí?!

Và với mô hình này thì chúng không thể có sự liên hệ lý giải liên quan, cụ thể trong bài viết này về bản chất “Tháng Cô Hồn”.

Ngược lại, với mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” – đổi vị trí Tốn Khôn – chúng ta sẽ nhân thấy ngay tính đồng đẳng của hai loại mệnh trạch như sau:

1/ Trục PhúcĐức: Người Tây Trạch – ở trục Tây Bắc Đông Nam, tức Cản phối Khôn, và người Đông trạch – ở trục Bắc Nam, tức Khảm phối Ly.
2/ Trục Tuyệt Mạng: Người Tây Trạch – trục Tây Nam Đông Bắc, tức Tốn phối Cấn, và người Đông trạch – trục Đông Tây, tức Đoài phối Chấn.
Đến đây, chúng ta thấy rằng: Trục Tuyệt Mạng còn gọi là trục Quỷ Môn.
Xin xem mô hình dưới đây:
MÔ HÌNH HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ –

Trong ứng dụng Địa Lý phong thủy với tính chất các trục trong Trạch mệnh.

Như phần trên, người viết đã trình bày: Trục Tuyệt Mạng trong ứng dụng Địa Lý phong thủy còn gọi là trục Quỷ Môn. Và như vậy, chúng ta sẽ nhận thấy ngay rằng: Vởi Hậu Thiên Lạc Việt phôi Hà Đồ thì Tốn ở Tây Nam phối Cấn Đông Bắc sẽ là trục Quỷ Môn, tức là cửa Địa Ngục. Và trục này lại gắn liền với sơn Thân của 12 Địa Chi, nằm trong cung Tốn Tây Nam.
Tổng hợp những yếu tố người viết đã trình bày, liên quan đến Thiên Can Quý Thủy nhập trung vào tháng thứ 9, tức tháng Bảy tháng Thân theo Việt lịch; và sự phối hợp vị trí liên quan của sơn Thân trong trục Quỷ Môn theo “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”, cho chúng ta thấy nguồn gốc thật sự của tháng “Cô Hồn”, từ chu kỳ tương tác của vũ trụ liên quan đến Địa Cầu trong năm. Và đó cũng chính là sự mô tả dưới dạng truyền thuyết về ngày rằm tháng Bảy là ngày mở cửa Quỷ Môn, để các vong hồn được trở lại trần thế, còn gọi là ngày “Xá tội vong nhân”. Thực chất đó chỉ là ngày Âm khí Thổ Vượng, có nguồn gốc từ vũ trụ vượng nhất trong năm, nên nó được mô tả bằng “Địa Ngục” (“Địa” là Đất/ Thổ; “Ngục” là hình tượng mô tả khí chất dưới đất) và nâng cấp thành những truyền thuyết liên quan đến “Tháng Cô Hồn” với những ma quỷ từ Địa Ngục chui lên, hoành hành trên thế gian.
SW Hawking đã phát biểu:
“Nếu quả thật chúng ta tìm ra được một Lý thuyết thông nhất, thì sẽ ứng dụng những quy luật vũ trụ để điều hành cuộc sống của chúng ta”.
Phải chăng, chính những quy luật vũ trụ được mô tả trong bài viết này, qua mô hình Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt, ứng dụng trong những nghi thức liên  quan đến Tháng Cô Hồn, chính là một sự thể hiện tính ứng dụng của quy luật vũ trụ trong cuộc sống?
Vài lời chia sẻ.

Để lại phản hồi

Luận tuổi Lạc Việt: Bài 7

LUẬN TUỔI LẠC VIỆT

BÀI VII. SAO MỘC – THÁI TUẾ LÀ THỰC TẠI CỦA 12 ĐỊA CHI

& PHÂN LOẠI NGŨ HÀNH

SAO MỘC – THÁI TUẾ TRONG LÝ HỌC VIỆT

VII. I. HIỆU ỨNG VÀ TƯƠNG TÁC VŨ TRỤ TRONG LÝ HỌC VIỆT.
Để anh chị em có thể hiểu được bản chất của những mô hình dự báo Đông phương về mặt tổng quát và 12 Địa Chi là thực tế ứng dụng của khóa học này. Nội dung bài VII sẽ mô tả những nguyên nhân đích thực và thực tại nào của các phương pháp dự báo, mà ông cha ta quen gọi là “bói toán” Đông phương. Nhưng chủ yếu tập trung vào giải thích hiện tượng sử dụng 12 Địa Chi trong bói toán.

Khi hai nền văn minh Đông Tây giao lưu, những phương pháp bói toán của nền văn minh Đông phương bị coi là “mê tín dị đoan” và bị các nhà khoa học – trong giai đoạn nền tảng tri thức khoa học còn ở dạng sơ khai – từ nửa đầu thế kỷ trước, kịch liệt phản đối. Một thời nó còn bị cấm đoán ở một số nước trên thế giới. Thậm chí cho đến ngay đầu thế kỷ XXI, các cuộc tranh luận về Tử Vi và khoa học hiện đại giữa vị Chủ tịch Hội Thiên Văn Việt Nam và một Tử Vi gia trên một nguyệt san – nếu tôi nhớ không nhầm, là “Kiến Thức Ngày Nay” (Hoặc Tri Thức Trẻ; Thế giới Mới), vào những năm 1998, 1999. Qua đó cho thấy rằng: Cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, những tri thức cổ Đông phương vẫn bí ẩn đến huyền vĩ. Và hai nền văn minh Đông Tây vẫn còn một khoảng cách quá xa để có thể hội nhập.
Nhưng trong các nghiên cứu của tôi thể hiện trên các bài viết trong diễn đàn Lý học Đông phương và các sách đã xuất bản, tôi đã đặt vấn đề:

Tất cả các mô hình dự báo Đông phương, như Tử Vi. Tử Bình, Mai hoa Dịch số của Thiệu Khang Tiết, Thái Ất Độn Giáp, Lạc Việt độn toán…đều lấy yếu tố thời  gian là giờ, ngày, tháng, năm làm dữ kiện đầu vào. Như vậy, chứng tỏ nó phải phản ánh một không gian vũ trụ vận động theo thời gian tương ứng với nó. Từ cơ sở này, một giả thiết được đặt ra:
Sự vận động có tính quy luật của không gian vũ trụ tương tác với trái Đất là thực tại của các ngành dự báo Đông phương cổ, qua dữ kiện thời gian tương ứng. Tất cả những luận cứ liên quan, đều mô tả kỹ trong cuốn “Tìm về cội nguồn kinh Dịch” (Nxb Hồng Đức 2020). Nhưng do anh chị em không phải ai cũng đã đọc cuốn sách này. Cho nên, ở đây tôi giới thiệu với anh chị em những hình ảnh mô tả và luận cứ liên quan như sau:

MÔ HÌNH MÔ TẢ LỰC TƯƠNG TÁC BIỂU KIẾN TỪ NGÂN HÀ LÊN ĐỊA CẦU. Hình I.

Tri thức khoa học hiện đại cũng cũng có thể đã mô tả được lực hấp dẫn giữa các thiên thể. Và họ cũng nhận thấy bằng thực chứng sự ảnh hưởng sức hút của mặt Trăng với thủy triều và sức khỏe phụ nữ. Nhưng họ chưa thể mô tả một cách chi tiết những quy luật tương tác của từng hành tinh trong Hệ mặt Trời và và các vì sao gần gũi Thái Dương hệ, ảnh hưởng như thế nào lên cuộc sống con người trên trái Đất.
Nhưng ngược lại, một nền văn minh cổ xưa – mà tôi đặt tên là văn minh Atlantic – đã khám phá ra quy luật tương tác và vận động của vũ trụ, liên quan đến Địa cầu. Họ đã mô hình hóa các quy luật tương tác này, để mô tả nó có tính tiên tri. Nơi chịu lực tương tác mạnh nhất của vũ trụ lên Địa cầu, họ gọi là Thiên Môn/ Tuất và Địa Hộ/ Thìn. Trong mô hình dưới đây, Địa cầu được giả định ở tâm vòng tròn chia 8 phương vị với hai sơn Thìn / Địa Hộ và Tuất/ Thiên Môn..

MÔ HÌNH MÔ TẢ THIÊN MÔN/ ĐỊA HỘ TRÊN 24 SƠN CỦA 8 PHƯƠNG VỊ. Hình II

Ở phương Tây Bắc, gồm 3 sơn là Tuất, Càn, Hợi. Ở Đông Nam gồm ba sơn là Thìn, Khôn (Theo Hậu Thiên Lạc Việt) và Tỵ. Vòng tròn đỏ ở Trung Tâm mô hình biểu kiến là Địa cầu của chúng ta trong giải Ngân Hà. Hai sơn Tuất/ Thìn là hai vị trí chịu lực tương tác mạnh nhất từ mặt phẳng Hoàng Đạo. Trong các ngành ứng dụng của Lý học Việt gọi là Thiên Môn: Tuất và Địa Hộ: Thìn.
Bây giờ anh chị em xem tiếp và so sánh hình trên với mô hình này:

MÔ HÌNH HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT, KẾT HỢP ĐIA CẦU.

Ở mô hình biểu kiến trên, anh chị em cũng thấy rằng: Đây chính là mô hình thu gọn mô tả lực tương tác mạnh từ vũ trụ lên Thiên Môn, Địa Hộ quy ước trên Địa Cầu (Xem hình I, II). Mặt phẳng Hoàng Đạo chính là mặt phẳng biểu kiến cho lực tương tác này.

Do trái Đất tự quay quanh trục và nghiêng so với mặt phẳng Hoàng Đạo, cho nên hai sơn quy ước Thìn/ Tuất, luôn tự xoay và chịu tương tác từ vũ trụ gọi là Cổng Trời (Thiên Môn) và Cửa Đất (Địa Hộ).
Trong Tử Vi, hai cung Thìn/ Tuất cũng được coi là Thiên Môn, Địa Hộ và các sao trung tinh – tức phần lớn các sao của phương pháp dự báo số phận con người của phương pháp coi Tử Vi, cũng xuất phát từ hai cung này. Trong khoa Tử Vi, hai cung này bao giờ cũng có hai đại lượng được mô tả là Thiên La/ Lưới trời (Cung Thìn) và Địa Võng/ Lưới đất  (Cung Tuất) nằm cố định ở đây. Danh từ Thiên La, Địa Võng và khi người nào gặp hạn này thì không thể vượt qua nổi, đã xác định một tương tác mạnh của vũ trụ ở hai cung này.

Anh chị em xem hình này:

MÔ HÌNH MÔ TẢ HAI SAO THIÊN LA/ ĐỊA VÕNG
AN CỐ ĐỊNH Ở HAI CUNG THÌN TUẤT TRONG TỬ VI.

Đến đây, tôi muốn khẳng định một lần nữa với anh chị em rằng:

Mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ”, được hiệu chỉnh và phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, mới chính là nguyên lý căn để của tất cả mọi ứng dụng của Thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch – Tức LẠC THƯ CHU DỊCH (Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ tuần hoàn củ vũ trụ) – phủ định mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” và thay thế mô hình này được lưu truyền từ hàng ngàn năm qua trong các bản văn chữ Hán cổ.

Chính bởi tính hợp lý toàn diện, nhất quán, hoàn chỉnh và có hệ thống trong mọi vấn đề liên quan đến nó. Hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Tiêu chí này phát biểu như sau:

Một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách có hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật, tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.

Bây giờ anh chị em so sánh mô hình Tử Vi – là một khoa tiên tri hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học nói trên – với mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ”:

Rõ ràng chúng hoàn toàn trùng khớp về phương vị Ngũ hành. Qua đó thấy rõ tính hợp lý trong việc giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đến nó theo tiêu chí khoa học. Cụ thể ở đây là mô hình Tử Vi.
Bây giờ chúng ta đối chiếu và so sánh hai cung Thiên Môn/ Tuất và Địa Hộ/ Thìn trong mô hình mô tả lực tương tác mạnh của vũ trụ của “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ” với Địa cầu để thấy rõ tính hợp lý trong việc giải thích các vấn đề liên quan:

 

Như vậy, anh chị em cũng thấy rõ: Chỉ khi quái Khôn quản ở phương Đông Nam, bao trùm cung Đông Nam gồm ba sơn Thìn/ Khôn (Sách Tàu là Tốn)/ Tỵ thì sơn Thìn, mới có thể được gọi với danh xưng Địa Hộ. Vì quái Khôn tượng cho Đất/ Địa. Nếu theo “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”  – qua các  bản văn chữ Hán cổ thì quái Tốn quản cung Đông Nam, không thể gọi là “Địa Hộ”.

Để xác định tính phù hợp với mọi tiêu chí khoa học – là chuẩn mực thẩm định một lý thuyết, hay giả thuyết khoa học – còn một tiêu chí quan trọng như sau:

Một lý thuyết được coi là khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng được.

Trên cơ sở này, anh chị em xem lại mô hình liên hệ yếu tố tương tác mạnh từ vũ trụ lên hai sơn Thìn/ Tuất và mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ” và Địa cầu ở phần trên, để thấy rõ những mô hình này phản ảnh một thực tại vũ trụ mà nó mô tả. Trong khi đó, các bản văn chữ Hán cổ liên quan, không hề xác định điều này.
Trên đây, chỉ là những ví dụ trực tiếp liên quan đến bài học của khóa học “Luận Tuổi Lạc Việt”. Tính hợp lý toàn diện theo tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học đã xác định mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ” trong việc giải thích một các hợp lý, không chỉ dừng lại ở những ví dụ trong bài này. Mà còn ở tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến nó; từ Tử Vi, Địa Lý phong thủy, Đông y… được trình bày ở hai cuốn sách “Minh triết Việt trong văn minh Đông phương”“Tìm về cội nguồn kinh Dịch”. Anh chị em có điều kiện, nên tham khảo hai cuốn sách này.

Bây giờ, chúng ta tiếp tục tham khảo về tính quy ước biểu kiến của 12 Địa Chi – là yếu tố tương tác thứ 3 trong khóa “Luận Tuổi Lạc Việt” và sự phân loại Ngũ hành, liên hệ với một thực tại mà nó mô tả theo đúng tiêu chí khoa học đã trình bày.

VII.II. THÁI TUẾ – MỘC TINH VÀ BẢN CHẤT CỦA ĐỊA CHI.

Có lẽ tất cả người Đông phương đều biết chu kỳ của Địa Chi có 12 năm. Và trong ứng dụng của Lý học Đông phương thì mỗi năm Địa Chi đều có một vị sao gọi là sao Thái Tuế chiếu theo phân độ 30 độ của 24 phương vị gọi là “sơn” quy ước trong mặt phẳng Hoàng Đạo của trái Đất và đúng năm Địa Chi của năm đó. Thí dụ:

Năm nay 2020, là năm Canh Tý thì sao Thái Tuế trong cổ học Đông phương chiếu hai sơn Nhâm/ Tý, tương ứng mỗi sơn 15 độ. Sang năm 2021 là năm Tân Sửu, Thái Tuế chiếu hai sơn Quý/ Sửu…. Anh chị em xem hình minh họa dưới đây:

MÔ HÌNH MINH HỌA SAO THÁI TUẾ TƯƠNG TÁC VỚI ĐỊA CẦU QUA 12 ĐỊA CHI.

Vậy bản chất của 12 Địa Chi là gì?
Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, tôi đã xác định một cách độc lập:

Sao Thái Tuế trong Lý học Đông phương, chính là sao Mộc trong chín hành tinh của Hệ Mặt trời và là ngôi sao lớn nhất sau mặt Trời gần Địa cầu.
Trong các bản văn cổ thư chữ Hán – đã dịch ra tiếng Việt – mà tôi sưu tầm được một cách hạn chế trong những giai đoạn đầu nghiên cứu, cũng xác định sao Thái Tuế thuộc hành Mộc và họ cũng gọi là Mộc tinh, Nhưng không xác định là sao Mộc trên Thái Dương hệ. Tất nhiên, đó là do sự hạn chế của một phương tiện kỹ thuật là kính Thiên Văn, của nền văn minh Đông phương vào thời Trung cổ về trước. Một thời, trên dd tuvilyso. com – từ cuối 2002 đến 2006, tôi cũng bị nhiều ý kiến phản đối. Nhưng sau này, từ nhiều phương pháp tiếp cận khác của các nhà nghiên cứu, họ cũng xác định điều này.

Cũng theo Thư Viện Mở thì chu kỳ quỹ đạo của sao Mộc là: 4.335,355 ngày, hay11 năm 309 ngày, tức 11,87 năm Dương lịch. Thiếu 56 ngày thì tròn 12 năm Dương lịch. Nhưng năm Âm lịch chỉ có 354, 367 ngày. Trong một năm, Âm lịch thiếu 10 ngày so với Dương lịch. Với 12 năm sẽ thiếu 90 ngày. Trong 12 năm Âm lịch đó, số ngày 12 năm Âm lịch Đông phương là 4. 252 ngày, nhưng do bổ sung thêm ba tháng nhuận có 90 ngày + 4, 252 = 4342. Con số này gần như trùng khớp với chu kỳ quay quanh mặt trời của sao Mộc – Thái Tuế – với 12 năm Âm lịch được đặt tên theo 12 Địa Chi, sai số vài ngày. Tức là: Chu kỳ sao Mộc 4, 335 & 4342 ngày của 12 năm Âm lịch Đông phương. Đây cũng chỉ là con số ước tính, gần đúng.

Nhưng với con số 4. 335 ngày chu kỳ sao Mộc và 4. 342 ngày chu kỳ 12 năm Âm lịch của Trái Đất rõ ràng là tương đương nhau về mặt quy ước thời gian. Qua đó, cho ta thấy hoàn toàn có cơ sở để xác định: Chính chu kỳ của sao Thái Tuế – Mộc tinh quay quanh mặt trời, là cơ sở của chu kỳ 12 Địa Chi, được đặt tên quen gọi là 12 con Giáp của Việt lịch. Và Mộc tính chính là ngôi sao lớn nhất sau mặt Trời gần Địa cầu, nên có tương tác mạnh nhất lên Địa cầu.
Bây giờ, chúng ta lại so sánh, đối chiếu chu kỳ sao Mộc và chu kỳ 12 Địa chi và Hà đồ để thấy tính hợp lý trùng khớp trong các vấn đề liên quan đến nó

Mô hình 12 Địa chi phân loại Ngũ hành tương sinh theo chiều kim đồng hồ, Hoàn toàn trùng khớp với chiều Ngũ hành tương sinh trên Hà Đồ.
Anh chị em so sánh hai mô hình dưới đây về tính chất Ngũ hành trên Hà đồ và tính chất Ngũ hành của 12 sơn Địa Chi trong cấu trúc 24 sơn của mô hình biểu kiến “Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” với Địa cầu.

MÔ HÌNH MINH HỌA SAO THÁI TUẾ TƯƠNG TÁC VỚI ĐỊA CẦU QUA 12 ĐỊA CHI.

 

Anh chị em lưu ý:
Cấu trúc Ngũ hành của 12 Địa Chi trong 24 sơn cũng thể hiện trên La kinh, dùng trong Địa Lý phong thủy. Do đó, nó cực vô lý, khi phối với Lạc thư. Anh chị em so sánh hai hình dưới đây, để thấy sự sai lệch về Ngũ hành giữa 12 sơn Địa Chi trong 24 sơn của La kinh Tàu. Cụ thể:
1/ Các hành Tỵ/ Ngọ thuộc Hỏa, lại nằm trong hành Kim, trên “Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương”.
2/ Các hành Thân/ Dậu thuộc Kim, lại nằm trong hành Hỏa, trên “Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương”.

3/ Chu kỳ 12 Địa Chi trong 24 sơn phương vị là chu kỳ Ngũ hành tương sinh, thì chu kỳ trên Lạc thư lại là Ngũ hành tương khắc ngược chiều kim đồng hồ.

MÔ HÌNH LA KINH DÙNG TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY TÀU & LẠC THƯ.

Tính bất hợp lý và phi khoa học cho một lý thuyết khoa học của mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư”, còn thể hiện ở hai độ số Kim 9 Đoài, thì lại nằm tại hành Hỏa 7 của Lạc thư. Và Ly Hỏa 7 lại nằm lại nằm ở độ số 9 của Lạc thư.
Ngược lại, với mô hình mang tính nguyên lý căn để “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ” – nhân danh nền văn hiến Việt – thì chiều Ngũ hành tương sinh của 12 Địa Chi trong 24 sơn trên mô hình La Kinh hoàn toàn trùng khớp một cách hợp lý. Anh chị em xem hình dưới đây:

MÔ HÌNH LA KINH LẠC VIỆT VÀ HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT

Tính hợp lý lý thuyết và phù hợp với tiêu chí khoa học của nguyên lý căn để “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ”, không chỉ ở tính nhất quán, có hệ thống với chiều ngũ hành tương sinh của 12 Địa Chi. Mà còn là sự hợp lý lý thuyết trong Dịch học với bốn quái Tứ Chính, được xác định là:

1/ Đoài Dương Kim, độ số 9, nằm ở hành Kim trên Hà đồ. (Sách Tàu nằm ở số 7 Hỏa trên Lạc Thư)

2/ Khảm Dương Thủy, độ số 1, nằm ở hành Thủy trên Hà đồ.

3/ Chấn Dương Mộc, độ số 3, nằm ở hành Mộc trên Hà đồ.

4/ Ly Dương Hỏa, độ số 7, nằm ở hành Hỏa trên Hà đồ. (Sách Tàu nằm ở số 9 Kim trên Lạc Thư)

KẾT LUẬN BÀI VII.

Một tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng, xác định với nội dung như sau:
Một lý thuyết được coi là khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được.

Do đó, trong bài VII này, tôi đã trình bày căn nguyên của mô hình 12 Địa Chi ứng dụng trong các ngành ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, chính là căn cứ vào sự tương tác có tính quy luật của sao Mộc – Thái Tuế – là ngôi sao lớn sau mặt Trời gần trái Đất nhất và là một thực tại quan sát được từ bầu trời Thái Dương hệ. Vì sự trùng khớp gần như hoàn hảo của chu kỳ sao Thái Tuế với 12 năm Địa Chi.
Từ đó, anh chị em sẽ thấy rõ tính khoa học của các ngành dự báo Đông phương, chính là từ sự tương tác mang tính quy luật vận động của vũ trụ. Và đó cũng là cơ sở để chúng ta tiếp tục tham khảo sự tương tác của 12 Địa Chi trong khóa học “Luận Tuổi Lạc Việt”, qua các bài học tiếp theo dưới đây.

Để lại phản hồi

Bản thể phạm trù vật chất

CHƯƠNG V
THUỘC TÍNH VÀ BẢN THỂ CỦA VẬT CHẤT.

Khi lên mạng tìm hiểu về những thuộc tính của vật chất, chúng ta có ngay một loạt sự mô tả liên quan, từ nhận thức mới nhất có tính nền tảng của hệ thống tri thức của nền văn minh hiện nay, cho đến những mô tả cổ điển nhất về thuộc tính của vật chất.
Phần dưới đây, được trích dẫn từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

  • V.I. Sự phát triển của nhận thức những thuộc tình của vật chất:Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

  • 1/ Vật chất cùng với không gian và thời gian là những vấn đề cơ bản mà tôn giáo, triết học và vật lý học nghiên cứu. Vật lý học và các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu cấu tạo cũng như những thuộc tính cụ thể của các dạng thực thể vật chất khác nhau trong thế giới tự nhiên. Các thực thể vật chất có thể ở dạng trường (cấu tạo bởi các hạt trường, thường không có khối lượng nghỉ, nhưng vẫn có khối lượng toàn phần), hoặc dạng chất (cấu tạo bởi các hạt chất, thường có khối lượng nghỉ) và chúng đều chiếm không gian. Với định nghĩa trên, các thực thể vật chất được hiểu khá rộng rãi, như một vật vĩ mô mà cũng có thể như bức xạ hoặc những hạt cơ bảncụ thể và ngay cả sự tác động qua lại của chúng. Đôi khi người ta nói đến thuật ngữ phản vật chất trong vật lý. Đó thực ra vẫn là những dạng thức vật chất theo định nghĩa trên, nhưng là một dạng vật chất đặc biệt ít gặp trong tự nhiên. Mọi thực thể vật chất đều tương tác lẫn nhau và những tương tác này cũng lại thông qua những dạng vật chất (cụ thể là những hạt tương tác trong các trường lực, ví dụ hạt photon trong trường điện từ).

  • Các tính chất cơ bản của vật chấtKhối lượng

  • Khối lượng là một thuộc tính cơ bản của các thực thể vật chất trong tự nhiên.

  • Quán tính

  • Theo lý thuyết của Isaac Newton mọi vật có khối lượng đều có quán tính (định luật 1 và 2 của Newton, xem thêm trang cơ học cổ điển), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có quán tính.

  • Năng lượng

  • Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên.

  • Theo lý thuyết của Albert Einstein mọi vật có khối lượng đều có năng lượng (công thức E=mc², xem thêm trang lý thuyết tương đối), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có năng lượng.

  • Công thức ΔE=Δmc² không nói rằng khối lượng và năng lượng chuyển hóa lẫn nhau. Năng lượng và khối lượng đều là những thuộc tính của các thực thể vật chất trong tự nhiên. Không có năng lượng chuyển hóa thành khối lượng hay ngược lại. Công thức Einstein chỉ cho thấy rằng nếu một vật có khối lượng là m thì nó có năng lượng tương ứng là E=mc². Trong phản ứng hạt nhân, nếu khối lượng thay đổi một lượng là Δm thì năng lượng cũng thay đổi một lượng tương ứng là ΔE. Phần năng lượng thay đổi ΔE có thể là tỏa ra hay thu vào. Nếu là tỏa ra thì tồn tại dưới dạng năng lượng nhiệt và bức xạ ra các hạt cơ bản.

  • Lưỡng tính sóng – hạtLưỡng tính sóng hạt là một đặc tính cơ bản của vật chất, thể hiện ở điểm mọi vật chất di chuyển trong không gian đều có tính chất như là sự lan truyền của sóng tương ứng với vật chất đó, đồng thời cũng có tính chất của các hạt chuyển động.Cụ thể, nếu một vật chất chuyển động giống như một hạt với động lượng p thì sự di chuyển của nó cũng giống như sự lan truyền của một sóng với bước sóng λ là:

  • λ = h/p – với: h là hằng số Planck.

  • Các hạt có động lượng càng nhỏ thì tính sóng thể hiện càng mạnh. Ví dụ electron luôn thể hiện tính chất sóng khi nằm trong nguyên tử, và cũng bộc lộ tính chất di chuyển định hướng như các hạt khi nhận năng lượng cao trong máy gia tốc. Ánh sáng có động lượng nhỏ và thể hiện rõ tính sóng như nhiều bức xạ điện từ trong nhiều thí nghiệm, nhưng đôi lúc cũng thể hiện tính chất hạt như trong hiệu ứng quang điện.

  • Tác động lên không thời gianVật chất, theo thuyết tương đối rộng, có quan hệ hữu cơ – biện chứng với không-thời gian. Cụ thể sự có mặt của vật chất gây ra độ cong của không thời gian và độ cong của không thời gian ảnh hưởng đến chuyển động tự docủa vật chất. Không thời gian cong có những tính chất hình học đặc biệt được nghiên cứu trong hình học phi Euclide. Trong lý thuyết tương đối rộng, lực hấp dẫn được thay bằng hình dáng của không thời gian. Các hiện tượng mà cơ học cổ điển mô tả là tác động của lực hấp dẫn (như chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời) thì lại được xem xét như là chuyển động theo quán tính trong không thời gian cong.

  • Một Luận thuyết cho rằng Vật chất là do các nguyên tử chịu tác động của sự rung động (vibrations), hay chuyển động (motions), ở tần số hay vận tốc cao sinh từ trường (electro-magnetism) gây kết dính mà thành. Tất cả các dạng chất rắn, chất lỏng, chất khí; hay các dạng năng lượng như âm thanh, ánh sáng; cũng đều được tạo ra bằng các sóng rung động như thế. Albert Einstein đã phát biểu rằng: “Everything in life is vibration” (mọi thứ trên đời đều là rung động).

  • Vật chất tối

  • Hình dung về tỷ lệ thành phần vũ trụ: năng lượng tối 73%, vật chất tối 23%, khí Hidro, Heli tự do, các sao, neutrino, thành phần chất rắn và các phần còn lại 4%

  • Vật chất tối là phần vật chất mà con người chưa thể quan sát, cân đo được mà chỉ biết đến nó thông qua tác động tới những vật thể khác.

  • Có những tính toán cho thấy vật chất tối chiếm phần lớn khối lượng của các thực thể vật chất trong vũ trụ.

  • Phản vật chất

  • Phản vật chất cũng là vật chất, nhưng cấu thành bởi các phản hạt… Năm 1928, trong khi nghên cứu kết hợp thuyết lượng tử vào trong thuyết tương đối rộng của Albert Einstein, Paul Dirac đã phát hiện ra rằng các tính toán không phản đối chuyện tồn tại các hạt cơ bản đặc biệt, có hầu hết mọi đặc tính cơ bản như các hạt cơ bản thông thường, nhưng mang điện tích trái dấu. Từ đó hình thành nên giả thiết tồn tại các hạt phản vật chất. Theo tính toán, nếu một hạt phản vật chất gặp (tương tác) hạt vật chất tương ứng, chúng sẽ nổ tung và tỏa ra 1 năng lượng rất lớn, theo phương trình Einstein.

  • Một trích dẫn khác mô tả các công trình nghiên cứu hiện đại của Vật lý học, cho thấy những thuộc tình mới nhất của vật chất. Đoạn trích dẫn dưới đây trên web https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/sieu_hinh_vat_ly_tinh_than_vat_chat.html

  • 2. Trường vật chất, Trường Thông tin

  • Trong những cuộc bàn thảo “Vũ trụ là gì?”, nhà Vật lý lớn người Mỹ Heinz Pagels, đã nói: Cũng như phần đông các nhà Vật lý, Tôi cho rằng Vũ trụ là một thông điệp được soạn thảo bằng một mật mã – mã Vũ trụ – mà nhiệm vụ của các nhà Khoa học là giải thứ mã ấy.

  • Quá trình tìm kiếm chiếc chìa để mở khóa thứ mã ấy, được triển khai với 3 giai đoạn: Vật chất, Năng lượng và cuối cùng là Thông tin.

  • Làm rõ các giai đoạn đó, ta có thể hiểu như sau: bởi vì một hạt không phải tồn tại tự bản thân nó, mà chỉ là qua những hiệu ứng tương tác do nó đẻ ra. Tập hợp những hiệu ứng ấy được gọi là một “Trường”. Như vậy, những vật thể xung quanh ta chỉ là những tập hợp Trường: Trường điện từ, Trường hấp dẫn, Trường Proton, Trường électron, các Trường bức xạ v. .v.. Nghĩa là, hiện thực chủ yếu là một tập hợp của các Trường tác động lẫn nhau thường xuyên. Chúng dao động, và các hạt cơ bản với bản chất khác nhau được gắn vào. Đó là biểu hiện “chất” của Trường. Dao động làm cho chúng di chuyển trong không gian và đi vào sự tương tác lẫn nhau. Nhưng Trường bao giờ cũng gắn với Sóng.

  • Vật chất, đó cũng là các Sóng ? – Đúng thể, Nhà Vật lý lý thuyết rất nổi tiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tự nó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng, do chúng giao thoa với năng lượng. Mà Sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin.

  • Đến đây, có vẻ như có một sự mâu thuẫn giữa vật lý cổ điển và vật lý hiện đại, về vấn đề liên quan đến thuộc tính của vật chất. Vật lý cổ điển cho rằng:

  • Năng lượng

  • Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên.

  • Nguồn: Thư viện mở Wikipedia.Nhưng Vật lý hiện đại thì có vẻ như năng lượng tách rời thuộc tính của vật chất.

  • Nhà Vật lý lý thuyết rất nổi tiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tự nó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng, do chúng giao thoa với năng lượng. Mà sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin.

  • Nguồn: chungta.com

  • Đến đây, người viết cần xác định rằng: Năng lượng chính là một thuộc tính căn bản của vật chất. Những định luật của vật lý cổ điển, đến hiện đại đều xác định thuộc tính hàm chứa năng lượng của vật chất. Công thức nổi tiếng của thuyết Tương Đối rộng: E = m.c2 đã xác định điều này.
    Qua những trích dẫn trên, người viết xác định rằng:
  • Trong quá trình phát triển của nhận thức về vật chất trong lịch sử văn minh nhân loại, con người ngày càng hiểu biết hơn về những thuộc tình của vật chất quan sát được. Do đó, chúng ta thấy rõ khái niệm ‘vật chất’ là một phạm trù mô tả những thuộc tính của nó, mà con người nhận thức được trong quá trình phát triển của nền văn minh. Bởi vậy, nội hàm khái niệm vật chất, cũng thay đổi qua các thời kỳ phát triển. Phần tiếp theo đây, chứng tỏ điều này.
  • V.II. Những định nghĩa về phạm trù vật chất trong lịch sử nền văn minh.
    Ở đoạn trên, người viết đã chứng tỏ với bạn đọc về sự phát triển nhận thức về những thuộc tính của vật chất trong lịch sử văn minh nhân loại nhận thức được. Do đó, nội hàm khái niệm vật chất cũng thay đổi theo những nhận thức về thuộc tính của nó.
    Đoạn trích dẫn sau đây, xác định điều này:
  • Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm một thực thể ban đầu nào đó và coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện tượng khác nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan biến trong đó. Tức là họ muốn tìm một thực thể chung, là cơ sở bất biến của toàn bộ tồn tại, là cái được bảo toàn trong sự vật dù trạng thái và thuộc tính của sự vật có biến đổi và được gọi là vật chất (tiếng Latin là materia). Trong lịch sử triết học cổ đại, các nhà triết học duy vật cũng quan niệm vật chất rất khác nhau. Ví dụ Thales (624-547 trước Công nguyên) coi vật chất là nước, Anaximenes (585-524 trước Công nguyên) coi vật chất là không khí, Heraclitus (540-480 trước Công nguyên) coi vật chất là lửa, Democritus (460-370 trước Công nguyên) coi vật chất là các nguyên tử,…

  • Nói chung các nhà triết học cổ đại quan niệm vật chất dưới dạng cảm tính và quy vật chất thành một thực thể cụ thể, cố định. Mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử, song những quan niệm trên lại có ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm thời bấy giờ.

  • Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiện ra sự tồn tại của nguyên tử, cho nên quan niệm của thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất ngày càng được khẳng định. Quan niệm này tồn tại và được các nhà triết học duy vật cũng như các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng sử dụng cho đến tận cuối thế kỷ 19.

  • Trong giai đoạn thế kỷ 17 – thế kỷ 18, mặc dù đã có những bước phát triển, đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về vật chất, song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc với khối lượng. Quan niệm này chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi cơ học cổ điển của Newton, một lĩnh vực của vật lý được coi là phát triển hoàn thiện nhất thời bấy giờ.

  • Cơ học cổ điển coi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất; thế giới bao gồm những vật thể lớn nhỏ khác nhau, cái nhỏ nhất không thể phân chia nhỏ hơn là các nguyên tử; đặc trưng cơ bản của mọi vật thể là khối lượng; tính tất yếu khách quan trong hiện thực là tính tất yếu khách quan được thể hiện qua các định luật cơ học của Newton; vật chất, vận động, không gian và thời gian là những thực thể khác nhau cùng tồn tại chứ không có quan hệ ràng buộc nội tại với nhau.Nguồn Wikipedia.

  • Định nghĩa cuối cùng và phổ biến nhất về vật chất, do V.I Lenin mô tả như sau:

  • “vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
  • Định nghĩa này của V.I. Lenin xuất hiện vào đầu thế kỷ XX. Sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật trong hơn 100 năm qua, đã bổ xung thêm những thuộc tính của vật chất, mà người viết đã trình bày ở trên. Những thuộc tính mới của vật chất đã vượt ra ngoài sự thực chứng của cảm giác. Một số nhà bác học đã phải thốt lên: “Phải chăng ‘vật chất’ đã biến mất?!”
  • Do đó, một nhu cầu mới xuất hiện và đặt ra vấn đề cần phải định nghĩa lại bản thể của vật chất.
    V.III. Bản thể và nội hàm khái niệm vật chất.
  • Sự phát triển của những tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại, cũng đã xác định rằng:
  • “Tương tác là nguyên nhân hình thành tất cả mọi sự vật, sự việc. Bản chất của tương tác như thế nào thì sẽ hình thành sự vật, sự việc như thế đó”.
  • Như vậy, một trong những thuộc tính quan trọng nữa của vật chất, cũng chính là sự tương tác giữa các thực thể vật chất.
  • Trên cơ sở tất cả những vấn đề đã trình bày, người viết tổng hợp và mô tả một định nghĩa về ‘vật chất’, như sau:
    Khái niệm ‘vật chất’ là sản phẩm của tư duy trừu tượng tổng hợp, mà nội hàm của nó mô tả một phạm trù hàm chứa mọi sự tồn tại có chứa ‘năng lượng’ và ‘tương tác’ thì gọi là ‘vật chất’.
  • Như phần trên, người viết đã trình bày: Nếu như định nghĩa mới nhất về phạm trù ‘vật chất’ của người viết, chưa được sự công nhận rộng rãi của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học, thì người viết sẽ coi như là một như một ‘tiền đề’, để tiếp tục chứng minh cho chủ đề được đặt ra cho bộ sách này, là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ. Và nếu như những tiền đề được đặt ra từ bộ sách này, tích hợp một cách hợp lý trong hệ thống luận cứ của nó, một cách nhất quán, hoàn chỉnh để xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, thì tiền đề đó được coi là đúng.
    Trên cơ sở tiền đề về phạm trù ‘vật chất’ đã được xác định, như một tiền đề, người viết tiếp tục mô tả về bản thế khái niệm ‘Không gian’.
Để lại phản hồi

LỜI DẪN NHẬP

LỜI DẪN NHẬP
Các bạn đọc thân mến

Để thuận lợi hơn trong việc cảm nhận và chia sẻ được nội dung của quyển sách, người viết xin được trình bày về cấu trúc phương pháp luận và hình thức trình bày của bộ sách như sau:

  1. Hệ thống phương pháp luận của bsách:

I.I. Thiết lập những tiên đề.
Nhà vật lý thiên văn Stephen Hawking, cho rằng:
Để xác lập Lý thuyết thống nhất chúng ta phải thiết lập những tiền đề.

Lược Sử thời gian. SW Hawking.
Người viết coi đây như một tiêu chí cần thiết và hợp lý, để chứng minh cho một hệ thống lý thuyết thống nhất.
Bởi vì, nền văn minh hiện nay, chưa đạt được những nền tảng kiến thức, để mô tả một lý thuyết thống nhất. Cho nên nhất thiết nó phải được xác lập những tiền đề có tính bổ túc cho những khoảng trống tri thức của một nền văn minh, từ đó tổng hợp với những nền tảng tri thức hiện có, để dẫn đến một cấu trúc của lý thuyết thống nhất.
Và chính những tiền đề đó, khi trở thành những phần tử trong một cấu trúc hợp lý của hệ thống lý thuyết – thì chính sự tồn tại trong một cấu trúc hợp lý của hệ thống lý thuyết đó sẽ chứng minh ngược lại những tiền đề đó, được coi là đúng, hoặc sai.

I.II. Chỉ ra những nhận thức sai lầm về một số khái niệm có tính nền tảng của tri thức khoa học hiện đại.
Người viết sẽ chỉ ra những cái sai, cái bất hợp lý được định hình trong tư duy khoa hoc hiện đại, qua cách hiểu phổ biến một số khái niệm trong cấu trúc nền tảng của tri thức khoa học hiện đại.Từ đó sẽ trình bày những cái đúng và chứng minh trong hệ thống luận điểm của người viết. Trên cơ sở này thiết lập những tiền đề đã trình bày ở trên.

I.III. Sử dụng tiêu chí khoa học làm chuẩn mực, để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Nội dung của bộ sách này, nhằm thẩm đinh và chứng minh một hệ thống lý thuyết cổ xưa – cụ thể là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch – chính là hệ thống lý thuyết thống nhất, mà những tri thức tinhn hoa của nhân loại đang mơ ước.
Mô tả một cách rõ hơn, là:
Về bản chất: thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán, đã tồn tại trên thực tế trong lịch sử cổ xưa của văn minh nhân loại. Dấu ấn của nó còn thể hiện trong hệ thống phương pháp luận qua những di sản chuyên ngành ứng dụng, như: Các phương pháp dự báo có tính tiên tri, như: Tử Vi, Bốc Dịch, Lạc Việt độn toán, Thái Ất….Trong Y thuật Đông phương (Đông y); trong kiến trúc xây dựng (Địa lý phong thủy)…Và trong cả việc phân tích những quy luật điều hành xã hội, cho đến những hành vi của con người có tính quy luật có thể tiên tri. Nhưng hệ thống lý thuyết này đã thất truyền. Chỉ còn lại những mảnh vụn trong những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, lưu truyền trong văn hóa truyền thống của các dân tộc thuộc nền văn minh Đông phương – đặc biệt trong văn hóa truyền thống Việt, chủ nhân đích thực của nền văn minh này.
Do đó, việc phục hồi một hệ thống lý thuyết cổ xưa, là một việc chưa hề có tiền lệ trong lịch sử của nền văn minh hiện đại, vốn hình thành trên cơ sở thực chứng, thực nghiệm với những phương tiện kỹ thuật.
Do tính chất đặc thù của việc chứng minh và phục hồi một hệ thống lý thuyết đã tồn tại trên thực tế, thông qua hệ thống phương pháp luận trong các ngành ứng dụng của nó, như Đông y, Địạ lý phong thủy…vv…Tức là một sự chứng minh ngược so với phương pháp phổ biến từ thực chứng chứng, thực nghiệm ứng dụng dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết, như sự phát triển của nền văn minh hiện đại.  Cho nên tất cả những phương pháp nghiên cứu mang tính thực chứng, thông qua những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất thuộc về nền văn minh hiện nay, đều không phải là phương pháp để kiểm chứng một lý thuyết đã tồn tại trên thực tế.
Do vậy, trên cơ sở đặc thù và chưa có tiền lệ của việc chứng minh cho một hệ thống lý thuyết đã tồn tại,  người viết sử dụng tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một hệ thống lý thuyết khoa học, như là một phương pháp luận để chứng minh thuyết Âm Dương ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, là mục đích của bộ sách này.
Tuy nhiên, người viết cũng thừa nhận tính thuyết phục được thực chứng của những thí nghiệm thực tế. Và người viết cũng xác định rằng: Những thực chứng đó, có thể bác bỏ một hệ thống lý thuyết, nếu lý thuyết đó không tích hợp được một cách hợp lý của một thực chứng liên quan đến nó.
Nhưng người viết cũng cần xác định về có tính phương pháp luận, rằng:
Ngay cả khi thí nghiệm đúng qua thực chứng, bởi những phương tiện kỹ thuật hiện đại, phù hợp với tính tiên tri của một lý thuyết, thì điều đó không có nghĩa lý thuyết đó là một lý thuyết hoàn chỉnh. Bởi vì người ta vẫn có thể có một lý thuyết khác, bao trùm lên và giải thích một cách hợp lý những thực chứng bằng những phương tiện  khoa học hiện đại, bằng một hệ thống luận cứ khác.
Tóm lại có ba vấn đề xác lập mang tính phương pháp luận của người viết, cho mục đích chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành là Lý thuyết thống nhất, trong bộ sách này, là:

1.Chứng minh cái sai từ những khái niệm căn bản trong khoa họcđể chỉ là một cái coi là đúng hơn

2.Thiết lập những tiền đề bổ sung cho những khoảng trống tri thức trong nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại, làm cơ sở chứng minh cho một lý thuyết thống nhất. Sự tích hợp một cách hợp lý những tiền đề trong hệ thống cấu trúc của một Lý thuyết thống nhất sẽ chứng minh sự tồn tại những tiền đề này là đúng.

  1. Lấy tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để chứng minh một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Chúng tôi sẽ chia bộ sách này thành 3 tập

Tập 1 có tựa là: Những vấn nạn của lý thuyết khoa học hiện đại.

Trong tập một sẽ chia nhiều phần và mỗi phần chia nhiều chương, mỗi chương có nhiều mục chuyên đề để mô tả nội dung.Trong tập này, chúng tôi sẽ chỉ ra những sai lầm trong nội hàm trong khái niệm về các vấn đề đang  được quan tâm, như:  Không gian Ba chiều hay nhiều chiều;, phân biệt khái niệm mô tả tư duy trừu tượng và nhận thức thực tại .
Trên cơ sở hiệu chỉnh và định nghĩa lại những khái niệm căn bản trong nền tảng tri thức khoa học hiện đại, người viết chứng minh các sai lầm của các lý thuyết khoa học hiện đại trong các phần tiếp theo. Trên cơ sở này, đề cập đến những tiền đề được xác lập.
Mục đích của tập này là chứng minh những sai lầm của khoa học hiện đại, liên quan đến nhận thức và khái niệm; đặt ra những tiền đề để chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất

Tập 2 có tựa là: Cội nguồn và lich sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch.
Trong tập hai sẽ chia nhiều phần và mỗi phần chia nhiều chương, mỗi chương có nhiều mục chuyên đề để mô tả nội dung.
Nội dung chủ yếu của tập này, là:
Chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, là ba bộ phận của một học thuyết thống nhất, hoàn chỉnh, nhất quán. Nó không thuộc về nền văn minh Hán, mà thuộc nền văn hiến Việt huyền vĩ với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương.

Tập 3 có tựa là:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành – lý thuyết thống nhất vũ trụ.
Trong tập ba sẽ chia nhiều phần và mỗi phần chia nhiều chương, mỗi chương có nhiều mục chuyên đề để mô tả nội dung.
Nội dung chủ yếu của tập này, là:
Chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là Lý thuyết thống nhất mà những tri thức tinh hoa của nhân loại đang mơ ước. Đồng thời cũng chứng minh về sự tồn tại của một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ, đã có trước lịch sử nền văn minh của chúng ta. Nền văn minh đó, chính là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Trong bộ sách này tất cả phần chính văn của người viết sẽ thể hiện kiểu chữ Time new romance .size 12. Những phần trích dẫn sẽ thể hiện kiểu chữ Arial 10.
Trong sách có thể hiện những thuật ngữ mới, danh từ mới thì chúng tôi sẽ có định nghĩa ở cuối sách, hoặc ngay cuối mỗi chương về nội hàm khái niệm đó, hoặc sẽ mô tả những danh từ chỉ có trong ngôn ngữ tiếng Việt, mà không thể dịch ra bất cứ ngôn ngữ nào.
Cùng bạn đọc thân mến.
Đây là một đề tài cực khó khăn, khi cả một nền văn minh nhân loại mới chỉ đặt một vấn đề về lý thuyết thống nhất và còn hoài nghi nó có tồn tại thật hay không?!
Người viết đã không tự lượng sức mình, khi đặt một vấn đề rất khó khăn này. Nhưng người viết cũng hy vọng với nhiệt tình, cùng sự chân thành đi tìm và chia sẻ một chân lý, thì sẽ được sự cảm thông của bạn đọc; nếu như có gì còn sai sót và khi vấn đề được mô tả trong bộ sách này, chưa thật sự hoàn hảo.
Xin chân thành cảm ơn sự chia sẻ và quan tâm của bạn đọc.
Sài Gòn . Ngày mùng 1 Tết Kỷ Hợi Việt lịch.
Nhằm ngày mùng 5. 2. 2019.
Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

Để lại phản hồi

SAI LẦM CỦA MỘT NỀN VĂN MINH.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

Thưa quý vị và các bạn.

Ngày hôm qua, trong khi soạn những tư liệu để chuẩn bị quay video clip, làm lại bài thứ VIII, trong loạt 8 bài giảng của tôi về “Khái niệm cơ bản về Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt”, có chủ đề: “Thuyết Âm Dương ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ”, tôi đã xác định một cách chắc chắn hơn, rằng: Những tri thức tinh hoa của nền văn minh chúng ta, như: SW Hawking, Eistein,,,và những quan niệm về vũ trụ trong Lý thuyết Dây, thuyết Bất Định hoàn toàn sai.
Sai lầm này bắt đầu từ những khái niệm tiền đề của nó. Đó la2 những kiến thức nền của nền văn minh hiện nay. Họ đã hiểu sai bản chất khái niệm. Tất nhiên, tôi sẽ chứng minh rất kỹ điều này trong video đang thực hiện. Nhưng tạm thời tôi tóm tắt ở đây để qúy vị và các bạn tham khảo.
1/ NHỮNG SAI LẦM VỀ NỘI HÀM KHÁI NIỆM.
A/Nội hàm khái niệm “Không gian ba chiều”.
Trong cuốn sách nổi tiếng của ngài SW Hawking, đã thể hiện sai lầm khi nói đến giới hạn của một vũ trụ với “Không gian ba chiều”. Ngài Hawking cho rằng: Chính giới hạn này, khiến cho sự phát triển của Lý thuyết Dây trở nên khập khiễng. Ngài cho rằng: Lý thuyết Dây cần tối thiểu 26 chiều không gian.
Sai lầm này, bắt nguồn từ sai lầm về cách hiểu nội hàm khái niệm “Không gian ba chiều”. Thực ra, “Không gian ba chiều” chỉ là khái niệm quy ước. Mục đích của nó nhằm mô tả những động tử chuyển động theo “vô cực chiều” trong không gian. Thực  tếvũ trụ là “không gian vô cực chiều”. Hay mô tả cách khác: Không có giới hạn cho các chiều không gian.
B/ Nội hàm khái niệm “Chiều Không gian”.
Quan niệm về “chiều không gian” chính là tiền đề cho “không gian ba chiều”, hoặc “đa chiều”. Bản chất khái niệm này cũng mang tính quy ước về một quỹ đạo bất kỳ của một chuyển động trong không gian, và được mô tả trong một không gian quy ước gồm “Ba chiều”. Nếu một “Động tử” quan sát, được mô tả bằng “một điểm” và tạo ra một quỹ đạo trong không gian, thì đó chính là “chiều” của động tử đó trong không gian. “Đường” mô tả chiều không gian của động tử đó, được vẽ bằng những “Điểm” quy ước liên tiếp.
Như vậy, bản thân khái niệm “chiều không gian” chuyển động của một “điểm” qua một đường, được mô tả trong không gian ba chiều, cũng chỉ mang tính quy ước. Và nó không có thật trên thực tế.
c/ Nội hàm khái niệm “Điểm” trong toán học.
Đây cũng là một khái niệm hoàn toàn mang tính quy ước – hệ quả của tư duy trừu tượng của con người quan sát vũ trụ và mô tả nó bằng những khái niệm. “Điểm” là một khái niệm không có thật. Mặc dù nó là tiên đề của toàn bộ tri thức Toán học của nền văn minh.
Khái niệm “Điểm” không có định lượng.
BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

Để lại phản hồi