THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC TÌM VỀ CỘI NGUỒN KINH DỊCH

CỘI NGUỒN KINH DỊCH VÀ CÁC VẤN ĐỀ CỦA TƯƠNG LAI.

Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

Văn hiến Việt Nam, chìa khóa khám phá chân lý cuối cùng của vũ trụ, cho sự phát triển bền vững.

Kính thưa quí vị

Hôm nay, chúng ta họp mặt nơi đây, để trao đổi và khám phá bản chất và cội nguồn của kinh Dịch với hệ thống ký hiệu quen gọi là Bát quái. Chúng ta cũng dễ dàng thống nhất ý kiến về tính bí ẩn huyền vĩ của bộ sách gọi là Chu Dịch này, vốn được coi là “tứ đại ký thư” của nền văn minh Đông phương. Vào thế kỷ trước, chính phủ Trung quốc, vốn tự nhận là cội nguồn của văn minh Đông phương, đã phổi hợp với UNESCO cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc, bốn lần tổ chức hội thảo  quốc tế về kinh Dịch, nhưng vẫn chưa thể khám phá được bản  chất và cội nguồn của nó.
Nhưng để tìm ra bản chất đích thực của sự kiện và vấn đề thì quy mô tổ chức không phải là yếu tố quyết định. Mà nó còn lệ thuộc vào phương pháp tiếp cận, khám phá bản chất hiện tượng.Cho nên, mặc dù với quy mô nhỏ hơn và bất cập về nhiều phương diện, chúng ta vẫn đủ tự tin để tổ chức một cuộc hội thảo về những bí ẩn của nền văn minh Đông phương.
Nếu cuộc hội thảo khoa học về kinh Dịch lần này của chúng ta thành công với những kết luận của nó, thì đây chính là một đóng góp quan trọng, vì làm sáng tỏ bản chất của nền văn minh Đông phương kỳ vĩ và đầy huyền bí, đang sừng sững thách đố trí tuệ của toàn thể nhân loại.

Ra ngoài khoa học, bà Vanga nhà tiên tri nổi tiếng người Bungari đã nói:

Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại trong tương lai.

Lý thuyết cổ xưa đó nằm ở đâu trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại và nó có thật hay không? Phải chăng đó chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ còn tiềm ẩn trong lịch sử văn minh nhân loại, mà con người chưa khám phá ra?
Từ những vấn đề được đặt ra, chúng tôi tin tưởng vào ý nghĩa của việc tìm kiếm những bí ẩn của nền văn minh Đông phương huyền vĩ. Mà một trong những bí ẩn lớn nhất chính là “Cội nguồn kinh Dịch”,  để chúng ta có mặt nơi đây ngày hôm nay.

Chúng ta cũng đã biết rằng: mục tiêu của những khoa học gia hàng đầu, vẫn quan sát và tìm kiếm để tạo ra một lý thuyết thống nhất cho con người nắm bắt và làm chủ được cuộc sống của mình. S.W Hawking đã giúp lý giải cho động cơ của các nhà khoa học:

“Nếu chúng ta thực sự tìm ra được một lý thuyết tối hậu về vũ trụ, thì điều đó có ý nghĩa như thế nào? Chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn hoàn toàn rằng quả chúng ta đã tìm ra được một lý thuyết hoàn chỉnh. Song nếu lý thuyết chặt chẽ về mặt toán học và luôn đưa ra được những tiên đoán phù hợp với quan sát, thì chúng ta có thể tin một cách hợp lý rằng đó là một lý thuyết đúng đắn. Nó sẽ kết thúc một chương dài và vinh quang trong lịch sử đấu tranh trí tuệ của con người để tìm hiểu vũ trụ. Đồng thời nó cũng cách mạng hóa sự hiểu biết các định luật vũ trụ của con người bình thường“.

Tuy nhiên, cũng chính Hawking đã viết

“Đến thời điểm này, đa số các nhà khoa học quá bận rộn vào việc phát triển những lý thuyết để trả lời câu hỏi như thế nào và chưa bận tâm tới câu hỏi vì sao? Mặt khác, những triết gia là những người mà công việc là đặt ra câu hỏi vì sao, lại không đủ điều kiện để thông tuệ được các lý thuyết hiện đại.”

Và để tiếp tục cho những vấn được đặt ra, tôi xin được bắt đầu trình bày với tiêu mục:

I.Thế giới tìm hiểu những giá trị của văn minh Đông phương.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu và hội thảo về Kinh Dịch trên khắp thế giới, nhưng kết quả vẫn là sự huyền bí kỳ vĩ của nền văn minh Đông phương, sừng sững thách đố trí tuệ nhân loại,  trong sự hội nhập của lịch sử các nền văn minh..

Giáo sư Lê Văn Sửu – một học giả có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa cổ Đông phương của Việt Nam – đã nhận xét trong tác phẩm “Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông” của ông như sau:

“Gần đây có rất nhiều nhà khoa học ở đủ mọi ngành và ở nhiều nơi trên thế giới, với các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay, họ đã và đang nghiên cứu nền tảng của di sản văn minh phương Đông này. Thế nhưng, sự tiếp cận thực chất của nó còn đang là một khó khăn to lớn”.

Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.
Cái sai lớn nhất, chính là con người trong lịch sử nền văn minh đã mặc định kinh Dịch thuộc về nền văn minh Hán. Chính vì sự mặc định này, cho nên hệ quả tất yếu của nó là: Mặc nhiên xác định những yếu tố cấu thành nên nội dung của những giá trị phương Đông là những thành tựu của nền văn minh này và coi là đối tượng nghiên cứu, không cần biết đúng hay sai, ngay trong nội hàm của nó. Hay nói cách khác: Sự hiểu sai về nguồn gốc của nền tảng tri thức, tạo nên một hệ thống tri thức sản phẩm của nó là kinh Dịch, đã tạo ra sự bế tắc – khi không thể hiểu được những phạm trù, thuật ngữ khái niệm… cấu thành nên hệ thống tri thức của kinh Dịch. Tất nhiên, khi ngay cả nội hàm những cấu trúc và câu từ mô tả trong kinh Dịch, còn mờ mịt khó hiểu thì không thể có khả năng hiểu toàn bộ hệ thống.
Cái sai thứ hai chính là phương pháp nghiên cứu. Nhận định của Giáo sư Lê Văn Sửu trong cuốn “Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông” của ông, đã cho thấy định hướng một phương pháp nghiên cứu sai.
Kinh Dịch là sản phẩm của tư duy tổng hợp trừu tượng, những quy luật tương tác của tự nhiên, vũ trụ, cuộc sống và con người có thể tiên tri. Hay nói rõ hơn: Kinh Dịch là sản phẩm của hệ thống tư duy trừu tượng và là thành tố trong một cấu trúc của một thống lý thuyết. Trong khi đó, tất cả các phương tiện kỹ thuật, chỉ hỗ trợ cho sự nhận thức trực quan những trạng thái tồn tại của vật chất của con người.
Hay nói rõ hơn: Chúng ta không thể đi tìm bản chất các ký hiệu Bát quái bằng kính hiển vi. Dù đó là kính hiển vi hiện đại nhất.

Và đó là nguyên nhân để những phương tiện kỹ thuật hỗ trợ cho nhận thức trực quan của việc khám phá cấu trúc thế giới vật chất, không phải là điều kiện đủ để thẩm định một hệ thống lý thuyết đúng hay sai.

Chúng tôi xác định rằng:
Bất cứ một học thuyết, một hệ
thống lý luận nào, dù nhân danh khoa học hay tôn giáo, đều phải có những điều kiện cho sự hình thành và phát triển của nó.

Những tiêu chí xác định một học thuyết, một hệ luận thuộc về nền văn minh nào phải gồm tối thiểu ba yếu tố sau đây:


1/ Lịch sử phát triển và hình thành học thuyết được mô tả một cách hợp lý thuộc về lịch sử của nền văn minh đó.


2/ Tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán và hợp lý nội tại của một học thuyết hình thành trong một nền văn minh.


3/ Nền tảng tri thức của một nền văn minh là cơ sở cho sự hình thành một học thuyết thì nó phải có khả năng phục hồi lại học thuyết đó.

 

Trên cơ sở những tiêu chí này, chúng tôi trình bày lần lượt các vấn đề liên quan để chứng minh quan điểm của chúng tôi và là cơ sở để tìm về cội nguồn kinh Dịch và bản chất của nó.

 

II Cội nguồn kinh Dịch từ những tiêu chí khoa học.

Chúng tôi xin bắt đầu từ tiêu chí thứ 1:

 

II/ I. Lịch sử phát triển và hình thành học thuyết mô tả một cách hợp lý thuộc về lịch sử của nền văn minh đó.

 

Bắt đầu từ tiêu chí thứ nhất, chúng tôi lần lượt trình bày lịch sử kinh Dịch mô tả qua bản văn chữ Hán và rất phổ biến từ hàng ngàn năm qua, như sau:

 

  1. I. 1/ Hà Đồ và Thiên thiên Bát quái.

Theo truyền thuyết được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán:

Vua Phục Hy – được coi là xuất hiện vào khoảng 6500 cách ngày nay – đi tuần bên sông Hoàng Hà, thấy con Long mã xuất hiện. Trên lưng Long Mã có những vòng xoáy. Căn cứ vào vòng xoáy trên lưng Long Mã, vua Phục Hy làm ra Hà Đồ và tạo ra Tiên thiên bát quái.

Tuy nhiên đồ hình Hà Đồ và Tiên Thiên Bát quái chính thức xuất hiện vào cuối thời Tống – 1000 năm cách ngày nay – do Thiệu Khang Tiết công bố. Tức là nó chỉ chính thức xuất hiện vào 5500 năm sau khi được coi là do vua Phục Hy phát hiện theo truyền thuyết.

 

II.I. 2/ Lạc Thư.

Theo truyền thuyết được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán:

Vua Đại Vũ – được coi là 4000 năm cách ngày nay, (tức 2500 năm sau vua Phục Hy phát minh ra Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái)  – đi trị thủy ở sông Lạc Thủy, thấy một con rùa thần, trên lưng , đầu tứ chi và đuôi có những chấm lạ. Dựa trên những chấm này, vua Đại Vũ phát minh ra đồ hình Lạc Thư và làm ra Hồng Phạm cửu trù. Trù thứ nhất chính là sự mô tả Ngũ hành.

 

II.I. 3/ Hậu Thiên bát quái và bản văn Chu Dịch.

Theo truyền thuyết được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán:

 

A/ Vua Văn Vương – được coi là 3000 năm cách ngày nay , (Tức sau vua Đại Vũ 1000 năm và vua Phục Hy 3500 năm) – bị vua Trụ Vương giam ở ngục Dữu Lý 7 năm (Có sách chép 2 năm). Trong thời gian bị giam giữ, đã căn cứ vào đồ hình Lạc Thư của vua Đại Vũ, phát minh ra Hậu Thiên Bát quái và viết Soán Từ mô tả tính chất 64 quẻ Dịch Hậu Thiên bát quái.

 

B/ Con của Chu Văn Vương là Chu Công Đán soạn ra Hào Từ.

 

C/ Khổng tử – được coi là 2500 năm cách ngày nay , (Tức sau vua Phục Hy 3500 năm; sau vua Đại Vũ 1500 năm và cha con Chu Văn Vương 500 năm – soạn ra Thuyết quái, Thập Dực, Thoán từ thượng hạ truyện. Đến đây cuốn Chu Dịch được coi là hoàn tất theo truyền thuyết được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán.

 

  1. I. 4/ Một điều rất đáng lưu ý là: Theo những bản văn cổ sưu tầm được thì cả những đồ hình như “Tiên Thiên Bát quái phối Hà Đồ” (Được coi là do vua Phục Hy sáng tạo từ trên lưng Long Mã); “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” (Được coi là do vua Văn Vương sáng tạo từ Lạc Thư trên con rùa thần), đều chỉ được công bố vào đời Tống do các Đạo gia thực hiện.

Tức là khoảng cách thời gian, từ khi ghi nhận sự sáng tạo của Phục Hy và Văn Vương, đến khi những đồ hình này được chính thức công bố vào đời Tống, lần lượt là:

A/ Đồ hình Tiên Thiên Bát quái phối Hà Đồ (Do vua Phục Hy sáng tạo), đến thời Tống là hơn 5000 năm (?!).

B/ Đồ hình Hậu Thiên Bát quái phối Lạc Thư (Do vua Văn Vương sáng tạo), đến thời Tống là hơn 2500 năm (?!).

 

  1. II. Lịch sử hình thành kinh Dịch theo bản văn chữ Hán – Những vấn đề được đặt ra.

Như vậy, ở phần II. I, chúng tôi đã trình bày lịch sử kinh Dịch theo truyền thuyết và các văn bản cổ chữ Hán. Trên cơ sở này chúng tôi ứng dụng tiêu chí thứ nhất để phân tích các vấn đề liên quan

Những vấn đề được đặt ra cho lịch sử kinh Dịch mà nền văn minh Hán tự nhận là của họ, có những điều hoàn toàn không thể thuyết phục dưới bất cứ một góc nhìn nào, là:

II .II,1/ Nguyên nhân sự phát hiện ra Bát quái – căn nguyên của kinh Dịch, lại bắt nguồn từ hai linh vật thần thoại là con Long Mã trên sông Hoàng Hà và con Thần Quy trên sông Lạc Thủy.

II.II,2/ Khoảng cách thời gian lịch sử quá dài cho tính ứng dụng và lưu truyền, là:

A/ Từ thời vua Phục Hy đến thời Chu Văn Vương là hơn 3000 năm, đồ hình Tiên thiên Bát quái phối Hà đồ đã dùng để làm gì trong cuộc sống và xã hội, để có điều kiện tồn tại vượt thời gian như vậy?

B/ Từ thời kinh Dịch được coi là hoàn chỉnh vào thời Khổng tử, đến khi hai đồ hình ‘Hà đồ phối Tiên Thiên Bát quái” và “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”, lại chỉ chính thức xuất hiện vào thời Tống. Tức là cách thời Không Tử đúng 1500 năm. Vậy từ thời Khổng Tử cho đến Tống, người ta dùng kinh Dịch để làm gì, ngoài việc bói toán?

C/ Cho đến tận ngày hôm nay, khi tôi đang ở đây trình bày với quý vị với bản tham luận này thì ngay các học giả Trung Hoa và các nhà nghiên cứu trên thế giới, vẫn chưa thể xác định được: “Mục đích ra đời của kinh Dịch”.

Và một vân đề đau đầu cho các nhà nghiên cứu cổ kim, là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời vào lúc nào trong lịch sử văn minh Hán? Khi mà thuyết Ngũ hành được cho rằng ra đời vào đời vua Đại Vũ – 4000 năm cách ngày nay – thì từ thời Hoàng Đế – hơn 5000 năm cách ngày nay, tức trước cả vua Đại Vũ hơn 1000 năm – thuyết Âm Dương Ngũ hành đã ứng dụng trong cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”- vốn là một cuốn sách lý luận kinh điển của Đông Y?! Hay nói rõ hơn: Sự ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành với hệ Can Chi ra đời trước khi lý thuyết này được phát hiên hàng Thiên Niên kỷ.

 

Kính thưa quý vị.

Như vậy, chúng ta có thể xác định ngay rằng: Lịch sử hình thành kinh Dịch theo truyền thuyết và các bản văn chữ Hán, hoàn toàn mơ hồ và không đủ tin cậy.

Bây giờ, chúng ta xét đến tiêu chí thứ II:

 

III. Tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán và hợp lý nội tại của một học thuyết hình thành trong một nền văn minh.
Đây là tiêu chí thứ 2, mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Chúng ta tiếp tục xét nội hàm của Kinh Dịch theo các bản văn chữ Hán theo tiêu chí này. chúng tôi xin phép được trình bày như sau:

 

III.I.  Mâu thuẫn tính chất Ngũ hành của các quái trong Bát quái Tiên Thiên và Hậu Thiên trong tương quan đồ hình tích hợp với nó là Hà Đồ và Lạc Thư.


Để mở đầu cho phần này, chúng tôi xin dẫn lời của nhà nghiên cứu học giả Nguyễn Hiến Lê trong cuốn: “Kinh Dịch – Đạo của ngươi quân tử”, trong phần nói về Hà đồ, Lạc thư, đã viết như sau:

 

Nhất là so sánh hai hình đó (Hà Đồ và Lạc Thư) với bát quái, thì dù giàu tưởng tượng tới mấy, cũng không thể bảo rằng bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được.

 

Có thể học giả nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê hiểu theo cách của ông. Nhưng tôi xin trình bày với quý vị góc nhìn của tôi trình bày tiếp theo, như sau:

 

III. II. Mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc kinh Dịch theo bản văn chữ Hán.
Tất cả những ai đã đọc kinh Dịch, đều thấy rất rõ rằng Bát quái có thuộc tính được mô tả trong Thuyết Quái truyện do Khổng Tử san định như sau: Càn là Trời, Khảm là Thủy, Cấn là Núi,là Thổ,  Chấn là Mộc, Khôn là Thổ, Ly là Hỏa, Tốn là Mộc, là gió, Đoài là Kim, là đầm trạch….Nhưng trong kinh Dịch thì không có một chữ nào nói tới Ngũ hành.

III. II. 1/ Cũng theo sách Hán thì chúng được tích hợp trong hai mô hình là Tiên Thiên Bát quái phối Hà Đồ và Hậu Thiên Bát quái Văn Vương phối Lạc Thư.

Xin quý vị xem hình dưới đây:

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

NGÔN NGỮ VIỆT

Thưa quý vị.

Bài viết này đã thể hiện trên trang lyhocdongphuong.org.vn. 

http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/33232-ngon-ngu-viet/?fb_action_ids=10204471126729245&fb_action_types=og.likes

Nay tôi đưa vào trang web riêng của mình để những quí vị quan tâm không vào Fb sẽ tham khảo ở đây.

NGÔN NGỮ VIỆT
Tôi xin được mở đầu bài viết thể hiện cái nhìn của tôi về ngôn ngữ Việt, qua sự trích dẫn quan điểm của ông Phạm Công Thiện trên thư viện mở Wikipedia:

Ngoài ra cũng có thể nhắc đến những quan niệm của ông về tiếng Việt: “Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hegel hay Karl Marx, không cần phải đọc Khổng Tử và Lão Tử, không cần phải đọc Upanishads và Bhagavad Gita, chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nói lại tiếng Việt Nam và bỗng nhiên nhìn thấy rằng tất cả đạo lý triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sẵn trong vài ba tiếng Việt đơn sơ như CON và CÁI, như CHAY, CHÁY, CHÀY, CHẢY, CHẠY và còn biết bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta đã bỏ quên một cách ngu xuẩn.”

Cái nhìn của ông Phạm Công Thiên đúng hay sai, được “khoa học công nhận” chưa thì chưa bàn vội. Tôi giới thiệu đoạn trích dẫn này chỉ như là một hiện tượng xác định sự minh triết của ngôn ngữ Việt từ ông Phạm Công Thiện – một nhân vật được giới thiệu trên thư viện mở – chắc hẳn phải thông minh hơn nhiều so với Thiên Sứ tôi.
Một hiện tượng thứ hai tôi dẫn ra đây là cái tên cổ của đường Thanh Niên bên Hồ Tây và hồ Trúc Bạch ở Hanoi. Cái tên ấy bây giờ người ta gọi là “Cố (cố gắng) – Ngự (phòng ngự)”. Nhưng trước đây từ đời cụ kỵ của tất cả những người dân Hanoi sinh ra ở cõi Tràng An, đều gọi là “Cổ (Cổ xưa) Ngư (Cá)”. Vậy tại sao nó là thành “cố ngự”?
Cái sự tích nó là thế này:
Vào cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, có một vị sĩ phu Bắc Hà nào đó (lâu quá tôi quên mất tên vị này) phán rằng: Cổ Ngư thực ra là hiểu nhầm từ văn bản tiếng Pháp vốn ghi âm tiếng Việt không có dấu nên ghi là “Co ngu” và các cụ Nho nhà ta đã phiên âm là “Cổ Ngư”. Chứ thật ra nó là “Cố Ngự” . Căn cứ vào một số nhà ngâm cứu thì cái đường gọi là “Cổ Ngư” đó, thực chất ngày xa xưa là một quãng đê. Vậy chắc chắn nó là “Cố ngự” rồi. Tức là quãng đê này cố gắng chống lại Hà Bá sông Hồng , mỗi khi ngài dâng nước nổi cơn thịnh nộ. Chà! Có lý! Thế là từ đó người ta cứ thế mà phang khi nói đến tên cổ của đường Thanh Niên là “cố ngự” như là một sản phẩm của kiến thức hàn lâm, đã được “khoa học công nhận”.
Ngày ấy, tôi chỉ là một gã thanh niên mới lớn, đọc báo thì biết vậy, chứ cũng chẳng đủ hiểu biết để ý kiến , ý cò gì. “Cổ Ngư” hay “cố ngự” thì cũng chẳng làm phai mờ mối tình đầu dang dở của tôi. Lúc ấy, như nhiều gã thanh niên mới lớn, tôi quan tâm đến mối tình của tôi hơn nhiều thứ trên đời. Nhưng bây giờ, tình đã nhạt phai, ngồi ngẫm lại về ngôn ngữ Việt, tôi mới thấy tính hệ thống và nhất quán của ngôn ngữ cao cấp nhất trong văn minh nhân loại, chính là ngôn ngữ Việt. Và phải bắt đầu từ một địa danh này.
Tôi xin bắt đầu từ “Co Ngu”. “Co ngu” là phiên âm tiếng Tây từ tiếng Việt thì đúng quá rồi. Nhưng nếu thêm dấu để nó thành “Cố Ngự” thì có thế thêm dấu thành rất nhiều chữ khác. Thí dụ:
“Cò (Con cò) ngủ”; “Cỗ Ngự”; “Có Ngu” và tất nhiên là có cả “Cổ Ngư” nữa.

Bây giờ, theo cái nhìn của tôi thì cần đặt lại vấn đề đường Thanh Niên bây giờ có phải ngày xửa, ngày xưa là con đê chắn nước không?
Theo tôi hoàn toàn không! Bởi vì đê chắn sóng sông Hồng thì phải chạy dọc theo sông Hồng. Cho dù ngày xưa, rất xưa Hồ Tây được coi là một nhánh của sông Hồng thì cũng chằng ai mần một con đê chắn ngang Hồ Tây và chia đôi nó thánh Hồ Trúc Bạch cả. Khi mà con đê sông Hồng chạy sờ sờ bên kia Hồ Tây.
Hơn nữa, tôi nhận thấy rằng: Chùa Trấn Quốc có từ trước cả thế kỷ XV. Trước đây nó vốn là hành cung của vua Lê. Sau này, dùng làm nơi để đưa những cung nữ có lỗi ra đấy. Cuối cùng nó mới thành chùa (Theo Doãn Kế Thiện – “Cổ tích và thắng cảnh Hanoi” Nxb Văn Hóa 1959). Vậy thì cái đê “cố ngự” ấy lập nên để làm gì khi con đường vào chùa Trấn Quốc phải có từ rất lâu, ít nhất từ hàng trăm năm trước vào thời Lê Trịnh. Chứ không lẽ bơi thuyền vào cung? Giả sử nó thật sự là con đê gì đó thì nó cũng chỉ là đê phụ sau đê sông Hồng, Nhưng đê phụ thì phải trước mặt đê chính chứ không thể sau đê chính để “cố ngự” cả.
Hơn nữa, cái vô lý nó ở chỗ này: chẳng bao giờ cùng một danh từ mô tả một địa điểm, lại nửa nôm, nửa Nho như cái tên “Cố Ngự” cả.
Vấn đề này tôi xin liên hệ với một hiện tượng là nữ sĩ Hồ Xuân Hương khi lập am ở Hồ Tây thì bà lấy tên là “Cổ Nguyệt” – Trăng xưa.
Những địa danh ở quanh vùng đất Thăng Long xưa, có rất nhiều địa danh mang chữ đầu là “Cổ”, như: Cổ Bi, Cổ Lễ, Cổ Nhuế, Cổ Mễ…. Vậy vùng đất Thăng Long xưa có dịa danh “Cổ Ngư” hoàn toàn hợp lý trong sự nhất quán và tính hệ thống với các địa danh gần gũi liên quan.
Và quan trọng hơn cả, khi cụ Doãn Kế Thiện – người sống qua hai thế kỷ XIX và XX – trong tác phẩm của mình vẫn gọi là “Cổ Ngư”. Vậy Tây nó phiên âm tiếng Việt từ chữ “Cổ Ngư” hay “cố ngự”? Khi chính cụ – một học giả cổ xưa vẫn gọi là “Cổ Ngư”. Tức là địa danh Cổ Ngư đã có từ trước cả thời Tây xâm lược nước ta và “co ngu” không thể là “Cò ngủ”, “có ngu”, hoặc “Cố ngự”, mà chính là “Cổ Ngư
Với địa danh “Cổ Ngư” vừa mang tính nhất quán về tính hệ thống của chữ Nho trong địa danh “Cổ” – xưa cũ, “Ngư” – cá. Chứ không như cái địa danh suy luận không có “cơ sở khoa học” là “cố ngự”, nửa nôm, nửa Việt Nho – Thói quen gọi là từ Hán Việt – này.
Vấn đề được đặt ra mà tôi muốn trình bày với bạn đọc là: tính nhất quán và tính hệ thống của tiếng Việt – ngôn ngữ cao cấp nhất trong lịch sử nhận thức được của văn minh nhân loại mà tôi xin tiếp tục trình bày dưới đây, để chứng tỏ rằng: Ngôn ngữ Việt trong đó bao hàm chữ Việt, không phải thích thì đổi loạn cào cào.

Vì là người Việt, tiếp xúc với ngôn ngữ Việt, nên học bất cứ một ngoại ngữ nào thì cảm nhận đầu tiên là: các bài tập dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt đều rất dễ. Nhưng từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài rất khó. Nhưng vì đang học tiếng nước ngoài chưa thật thông thạo, nên cứ nghĩ là tại mình chưa hiểu hết, nên khó dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài.
Tuy nhiên, tôi cần phải xác định với bạn đọc về một chân lý hiển nhiên là: một ngôn ngữ cao cấp có thể dịch tất cả các ngôn ngữ khác ra ngôn ngữ đó. Ngược lại, một ngôn ngữ kém phát triển hơn thì rất khó dịch từ ngôn ngữ đó ra ngôn ngữ cao cấp hơn. Đó là nguyên nhân chính để dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt rất dễ. Ngược lại thì rất khó là vậy.
Tiếng Việt, ngôn ngữ Việt có khả năng dịch tất cả các văn bản từ các ngôn ngữ trên thế giới ra ngôn ngữ Việt, ngược lại không phải các ngôn ngữ nào cũng có thể dịch một cách hoàn hảo các bản văn tiếng Việt ra ngôn ngữ đó.
Thực tình lúc đầu khi tìm hiểu về cội nguồn Việt sử, tôi cũng chưa nghĩ đến điều này. Nhưng vào đầu năm 2000, hay 2001 gì đó, tôi làm một trang web để trình bày những luận điểm của tôi. Tôi đặt cái tựa là Việt sử 5000 năm văn hiến. và yêu cầu bên làm web có câu tiếng Anh kèm theo. Họ nói với tôi: Trong tiếng Anh không có từ văn hiến. Lúc đầu tôi cũng hơi ngạc nhiên. Bởi vì không lẽ một ngôn ngữ quốc tế bao trùm mọi lĩnh vực mà lại không có từ này? Nhưng cho đến tận ngày hôm nay, quả là tiếng Anh không có từ này thật. Cuối cùng, để dịch thoát ý từ “văn hiến”, tôi đề nghi dùng thuật ngữ là “nền văn hóa hướng thượng”.
Ngay cả tiếng Hán, một nền văn hóa mà rất không ít người ra rả như ve sầu rằng: Nền văn hóa Việt chịu ảnh hướng từ văn hóa Hán, Hay tệ hơn, họ coi là nền văn minh Hán là chủ thể của văn hóa Việt. Cả thế giới tin điều đó. Nhưng thực ra, vấn đề hoàn toàn ngược lại: Chính nền văn hóa Việt là chủ thể của nền văn hóa Hán, sau khi nền văn minh Văn Lạng sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử. Tất nhiên, nó thể hiện ngay trong ngôn ngữ Việt.
Trước hết tôi xin nói về thuyết Âm Dương Ngũ hành. Có thê nói cả thế giới tin rằng nó có cội nguồn từ văn minh Hán. Nhưng sự thực hiển nhiên và sờ sờ ra đấy , là các nhà nghiên cứu Hán hiện đại – tức là tri thức của họ tồng hợp cả một qúa trình lịch sử của một nền văn minh – lại không thể chứng minh được thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời vào lúc nào trong lịch sử văn minh Hán. Chưa hết, trong tất cả các bản văn chữ Hán từ hơn 2000 năm nay – tính từ khi nền văn minh Việt sụp đổ ở Nam Dương Tử – chưa hề có một cuốn sách Hán ngữ nào mô tả – dù chỉ là tóm tắt sơ lược nội dung của học thuyết này?! Mặc dù hệ thống phương pháp luận của nó lại thể hiện rộng khắp trên tất cả các phương pháp ứng dụng: Dự báo, gồm Tử Vi, Bốc Dịch, Thái Ất, Độn giáp….vv…hoặc kiến trúc xây dựng (Phong thủy; Y học (Đông Y)….?!
Tất cả đều rất mơ hồ và bí ẩn.
Cho nên cả thế giới hiện đại đã coi nền văn minh Đông phương vốn mặc định từ văn minh Hán, hoàn toàn là huyền bí! Ngay cả khi hai nền văn minh Tây phương và Đông phương giao tiếp thì trí thức của cả hai nền văn minh này – gồm có nền văn minh Đông phương được mặc định từ văn minh Hán với những bản văn chữ Hán từ hơn 2000 năm nay – cũng không thể phục hồi được của cái mà chính nền văn minh Hán tự nhận là của mình.
Về vấn đề này, đã nhiều năm tôi đã chứng minh rằng: Cội nguồn văn minh Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương Tử.
Bởi vì, chỉ có nền văn hiến Việt với những di sản văn hoa truyền thống của người Việt – dù đã tan nát qua hơn 2000 năm lịch sử hiện đại – mới có khả năng phục hồi và làm sáng tỏ được học thuyết này. Chỉ có chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương, mới có thể làm sáng tỏ được sự bí ẩn huyền vĩ của nó.
Đương nhiên, khi Việt tộc là chủ nhân đích thực của văn minh Đông phương thì có thể xác định rằng: ngôn ngữ Việt không thể là hệ quả của ngôn ngữ Hán.
Đây là điều hiển nhiên. Bởi vì ngôn ngữ Việt khác hẳn ngôn ngữ Hán, ít nhất là cách phát âm hoàn toàn khác nhau, như tiếng Tây với tiếng Tàu vậy. Một ngôn ngữ cao cấp trong tất cả các ngôn ngữ hiện đại, nếu nó không phải là nguồn gốc của tất cả những ngôn ngữ liên quan đến nó thì nó cũng không thể có cái gọi là “nguồn gốc” từ bất cứ ngôn ngữ nào. Cho dù người ta có thể tìm thấy mối liên hệ gần giống giữa vài cách phát âm. Cũng không ít các học giả, nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ Việt có nguồn gốc từ Mã Lai, Nam đảo gì đó, vì so sánh một vài hiện tượng cục bộ.
Nếu giả thuyết về nguồn gốc Mã Lai, Nam Đảo là đúng, vậy thì cái ngôn ngữ Hán đóng vai trò gì trong việc ảnh hưởng đến ngôn ngữ Việt trong ngôn từ? Chẳng một học giả nào tìm thấy mối liên hệ giữa ngôn ngữ Việt từ ngôn ngữ Hán. Nhưng họ lại cho rằng 70% tiếng Việt có gốc là từ Hán Việt, như là một bằng chứng cho văn hóa Việt là hệ quả của văn minh Hán. Thật là một sự mâu thuẫn đến ngược đời khi đem đặt lập luận của họ cạnh nhau.
Cụ Lê Gia thống kê có 30. 000 từ tiếng Việt có gốc Hán Việt. Cụ Lê Gia rất giỏi chữ Nho, tôi rất quý và kính trọng cụ, nhưng tôi tin cụ không giỏi tiếng Tàu. Các nhà nghiên cứu cứ bám vào số lượng từ Hán Việt từ chữ Nho để xác định văn hóa Việt là hệ quả của văn minh Hán tộc. Nhưng rất tiếc! Cách phát âm của hơn 30. 000 chữ Nho trong ngôn ngữ Việt khác hoàn toàn ngôn ngữ Hán khi cùng đọc một ký tự, mặc dù có một số những từ gần giống. Ấy là khi dịch ra tiếng Việt thì phát âm lại càng khác hẳn.
Tôi thí dụ như câu sau đây trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, đọc theo Việt Nho là:

Liệp liệp tinh kỳ hề xuất tái sầu
獵 獵 旌 旗 兮 出 塞 愁
Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oán *
喧 喧 簫 鼓 兮 辭 家 怨

Tiếng Việt khi đọc từ Việt Nho như tôi đã trình bày. Nhưng tiếng Hán lại phát âm khi đọc các từ trên như sau:

Lia lia sing khí xi xu giai shấu.
獵 獵 旌 旗 兮 出 塞 愁

Zdén zdén xeo kủ xi shứ chha ooan.
喧 喧 簫 鼓 兮 辭 家 怨

Rõ ràng cách phát âm khác hẳn nhau giữa từ Việt Nho và tiếng Hán cho cùng một ký tự. Còn dịch ra tiếng Việt lại càng khác xa về phát âm:

Lớp lớp sông cờ hề sầu ra ải
Inh ỏi tiêu trống hề oán ly gia
*

Vậy với 30. 000 từ chiếm 70 % ngôn ngữ Việt thì người Việt sao không nói luôn tiếng Hán trong suốt 1000 năm đô hộ đó, mà phải mất công Việt hóa trên 30. 000 từ để phổ biến trong tiếng Việt làm gì?! Từ đây vấn đề được đặt ra:
1/ Ngay bản thân người Hán vào đầu thế kỷ XX – tức là một xã hội rất phát triển với mọi quan hệ xã hội phức tạp, bao gồm cả đời sống sinh hoạt xã hội và quan hệ xã hội – so với hàng ngàn năm trước đó; nhưng họ chỉ cần 1000 chữ phổ thông để xóa nạn mù chữ.
Vậy xuất phát từ nhu cầu gì của người Việt để cần phải có cả một hệ thống hơn 30. 000 từ tiếng Việt Nho trong việc mô tả từ Hán?

2/ Chủ thể xuất xứ để tạo ra cả một hệ thống tiếng Việt Nho – quen gọi là từ Hán Việt ấy – là tổ chức nào trong lịch sử?
Bởi vì, để tạo ra cả một hệ thống gần 30. 000 từ đó, cần phải có một tập hợp những tri thức cao cấp, chuyên ngành làm việc một cách qui mô và có tính hệ thống trong một cơ chế tổ chức chặt chẽ.
Chưa hết, hệ thống gồm 30. 000 từ Việt Nho này còn cần những quyết định cấp quốc gia để phổ biến và lưu truyền đến ngày nay.
Nó không phải chỉ vài chữ như “bánh dầy” hay “bánh giày”, “Thúy” hay “Thúi” , “Cố Ngự” hay “Cổ Ngư” do vài nhà ngâm cứu đề xuất, mà còn rất chật vật. Đây là cả một hệ thống ngôn ngữ Việt Nho với cái mà chính những người phủ nhận truyền thống văn hiến Việt cho là : 70% tiếng Việt liên quan đến ngôn ngữ Hán. Híc!
Trong lịch sử hơn 2000 năm nay của cả Trung Quốc và Việt Nam – tức sau khi nhà nước Văn Lang của Việt tộc sụp đổ ở bờ Nam Dương Tử – không hể nói tới một tổ chức quốc gia và một tập hợp qui mô của những nhà tri thức để có hệ thống 30. 000 từ Việt Nho này. Tất nhiên, vì nó không hề xảy ra vào thời Hán tộc xâm lược và cai trị Việt tộc ở Nam Dương tử.
Chính tính qui mô của hệ thống Việt Nho và – xin lỗi – ngay thời hiện đại với tập hợp những nhà tri thức chuyên ngành với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế cũng không thể thực hiện được một cách dễ dàng. Chưa nói đến từ hàng ngàn năm trước. Điều hiển nhiên này đã bác bỏ xuất xứ Hán của hệ thống Việt Nho, không thể do người Hán tạo nên trong quá trình Hán hóa nền văn hiến Việt. mặc dù ngay từ đầu có thể không phải có ngay 30. 000 từ như vậy.
Thưa quí vị.
Nếu thời Hùng Vương chỉ là
“một liên minh bộ lạc” với những người dân “ở trần đóng khố” và “địa bản sinh hoạt chỉ vỏn vẹn ở đồng bắng sông Hồng” thì không cần thiết phải Hán hóa ký tự Hán ra ngôn ngữ Việt.

HỆ THỐNG CHỮ VIỆT CỔ CỦA NHÀ VĂN KHÁNH HOÀI
Việc công bố hệ thống chữ Việt cổ của nhà văn Khánh Hoài đã gây sự chú ý đặc biệt của dư luận. Hầu hết các nhà nghiên cứu có tên tuổi đều tỏ ý phản bác và không công nhận, khiến đến nay nó bị “chìm xuồng”. Trong các ý kiến phản bác thì đáng chú ý nhất là lập luận của Giáo sư Lê Trọng Khánh. Còn các nhà khoa học khác chỉ là phản bác chung chung, theo kiểu “chưa có cơ sở khoa học”, hoặc là “ghi nhận tinh thần yêu nước”….Đối với các nhà khoa học khác, lập luận của họ không có gì để phải tranh luận. Vì họ không hề có luận điểm phản biện rõ ràng. Trên thực tế – thể hiện qua thông tin báo chí, họ chỉ lấy cái danh vị học thuật để phủ nhận chung chung.
Những luận điểm phản bác loại này, tôi đã biện minh và phản biện trong một chủ đề riêng trên diễn đàn này, quí vị quan tâm có thể tham khảo theo đường link dưới đây:

http://diendan.lyhoc…va-chu-viet-co/
Nhưng với giáo sư Lê Trọng Khánh, ông đưa ra luận điểm học thuật là: Hệ thống chữ Khoa đẩu của nhà nghiên cứu Khánh Hoài có nguồn gốc từ hệ thống chữ Tày – Thái. Đây là vị học giả duy nhất đưa ra luận điểm học thuật dể phản biện nhà nghiên cứu Khánh Hoài.
Thực ra, trong bài viết của mình, tôi đã biện minh cho nhà nghiên cứu Khánh Hoài trước luận điểm của giáo sư Lê Trọng Khánh. Nhưng nó chưa mang tính hệ thống và tập trung. Nên tôi giành riêng bài này để thể hiện tính khoa học thật sự của hệ thống chữ Khoa đẩu của nhà nghiên cứu Khánh Hoài và chứng minh luận điểm của giáo sư Lê Trong Khánh chỉ xuất phát từ cái nhìn cục bộ.
Giáo sư Lê Trọng Khánh là người có nhiều năm nghiên cứu về chữ Khoa Đẩu và ông có nhiều công trình nghiên cứu về loại chữ này. Ông là người tôi rất kính trọng, vì chính ông đã giới thiệu tôi với cơ quan văn hóa Lào Cai, để tạo điều kiện thuận lợi trong dịp khảo sát bãi đá cổ Sapa từ 15 năm trước. Ông cũng tặng tôi nhiều sách của ông nghiên cứu về chữ Việt cổ. Trong sự tranh biện học thuật này, tôi vẫn giữ sự kính trọng với ông, khi làm sáng tỏ chân lý của vấn đề.
Trong phản biện học thuật, nhất là đối với một công trình có tính chất phục hồi những giá trị tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc như nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền với một tính thần được gọi là “yêu nước” thì tôi nghĩ nó phải là một sự phản biện nghiêm túc của những người có bằng cấp và được gọi là học giả. Một sự phản biện nghiêm túc trong học thuật là:
Người phản biện phải chỉ ra cái sai trong hệ thống luận cứ của công trình học thuật bị phản biện.
Ở đây, qua đường link thể hiện những ý kiến của những học giả tên tuổi trên phương tiện truyền thông chính thống thì chỉ là sự phủ nhận trắng trợn với thái độ vô trách nhiệm, qua sự thể hiện không quan tâm đến văn hóa cội nguồn dân tộc, mà chí ít là chính họ cho rằng: “Thể hiện lòng yêu nước” của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền.
Chẳng phải ngẫu nhiên, cá nhân tôi sử dụng chuẩn mực Việt sử 5000 năm văn hiến để đo tất cả mọi sự kiện, hiện tượng cho đến từng hành vi của con người trên thế gian.
Cá nhân tôi, không phải dễ dàng chấp nhận ngay cả những công trình nghiên cứu có xu hướng chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến – Nếu như những công trình đó có những lập luận không chặt chẽ. Rất nhiều người công bố các công trình nghiên cứu của họ, chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, liên quan đến Lý học Đông phương. Nhưng từ nhiều năm nay, tôi vẫn chỉ trung thành với những phương pháp và luận điểm của mình.
Ủng hộ một luận điểm sai về mặt học thuật, dù cùng có một mục đích, sẽ gây ảnh hướng rất lớn đến hệ thống luận điểm của tôi. Chưa nói đến việc nó thể hiện sự hồ đồ, dốt nát khi ủng hộ một luận điểm sai.
Nhưng với vấn đề chữ Việt cổ của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền, tôi chiệm nghiệm rất kỹ. Tôi theo cụ Xuyền nhiều năm, từ 2007, qua những buổi trình bày của cụ, tìm hiểu và so sánh đối chiếu từ phương pháp nghiên cứu, tư liệu, những bằng chứng cụ dẫn và những luận cứ của cụ. Tôi được cụ tặng rất nhiều sách của cụ và những tư liệu liên quan, kể cả cuốn Tự điển Việt Bồ La. Khi tôi nhận thấy hệ thống luận cứ của cụ thật sự phù hợp với tính khách quan khoa học, tôi mới tích cực ủng hộ.
Tôi bỏ sang một bên tất cả sự phản đối chung chung của những học giả vô trách nhiệm, quay lưng lại với cội nguồn văn hóa dân tộc. Ở đây, tôi chỉ trình bày sự biện minh của tôi với hệ thống chữ Việt cổ của ông Đỗ Văn Xuyền trước vấn đề được đặt ra của giáo sư Lê Trọng Khánh.

Còn tiếp
============================
* Theo wikipedia.org/wiki/Chinh_phụ_ngâm

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

CỘI NGUỒN VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

Đọc sách Minh triết Việt trong văn minh Đông phương


Đào Vọng Đức*

08:21-13/08/2014

Cuốn Minh triết Việt trong văn minh Đông phương của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ cội nguồn văn hiến của dân tộc Việt qua sự phân tích những di sản văn hóa truyền thống bằng các phương pháp mang tính khoa học.
Nhân loại đang chứng kiến thời kỳ phát triển rực rỡ của khoa học và công nghệ, được đánh dấu bởi vô số những phát minh kỳ diệu từ những lĩnh vực lý thuyết trừu tượng nhất đến những ứng dụng kỹ thuật và công nghệ rộng rãi nhất trong thực tế sản xuất và đời sống. Phần lớn những thành tựu chủ yếu đó khởi nguồn từ sự ra đời của thuyết lượng tử và thuyết tương đối, những bước tiến mang tính đột phá ngoạn mục nhất của Vật lý học thế kỷ 20. Nhận định chung cho rằng, những phát minh vĩ đại này đã tạo nên “đợt sóng thần” ngày càng dâng cao trong khoa học và công nghệ suốt thế kỷ 20-21 với những ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống con người, có tác dụng rất lớn đối với sự tồn vinh của nhân loại. Những thành tựu đó cũng đồng thời có tác dụng sâu rộng trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đặc biệt là khoa học lịch sử, gắn bó mật thiết với khoa học thông tin và khoa học dự báo. Liên quan đến Thông tin – Dự báo, một lĩnh vực khoa học có tính thời sự đang phát triển mạnh mẽ là Máy tính lượng tử – Viễn tải lượng tử Thông tin lượng tử, và một hướng nghiên cứu nảy sinh từ đó là “Viễn tải tâm linh” (Psychic teleportation) đang được quan tâm đặc biệt. Người ta chờ đợi rằng Thông tin lượng tử sẽ là một cuộc đại cách mạng trong công nghệ thông tin mà ảnh hưởng to lớn của nó là điều chưa thể dự báo. Những thành tựu của Vật lý học hiện đại rọi những tia sáng mới vào khoa học Dự báo, liên quan mật thiết đến phạm trù không gian – thời gian. Nghiên cứu bản chất sâu sắc của không gian – thời gian có ý nghĩa đặc biệt trong việc xây dựng lý thuyết Đại thống nhất.
Quote

Buổi họp báo ra mắt sách do Tạp chí Tia Sáng, NXB Tri thức, Công ty TNHH tư vấn, đầu tư tri thức, giáo dục và văn hóa Việt, và Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, đồng tổ chức tại phòng họp 215, Bộ KH&CN – 39 Trần Hưng Đạo, Hà Nội từ 15h – 17h ngày thứ bảy 16/8/2014. 

Cuốn Minh triết Việt trong văn minh Đông phương của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ cội nguồn văn hiến của dân tộc Việt qua sự phân tích những di sản văn hóa truyền thống bằng các phương pháp mang tính khoa học như trong tinh thần đã trình bày ở trên. Các kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở để có thể khẳng định rằng dân tộc Việt với bề dày lịch sử gần 5000 năm văn hiến tính từ thời Hùng Vương dựng nước là chủ nhân đích thực tạo dựng nên văn minh Đông phương mà nền tảng tri thức là lý thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cuốn sách có nội dung phong phú với rất nhiều những bức tranh dân gian, những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao, đồng dao,… trong di sản văn hóa truyền thống Việt cùng với những luận giải sáng sủa, đầy tính thuyết phục, nhằm khai sáng các nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Ngoài ý nghĩa khoa học, cuốn sách còn có tác dụng hun đúc lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, khích lệ ý chí phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của tổ tiên. Từ lâu tôi đã có nhiều dịp gặp và tiếp xúc với tác giả, trao đổi ý kiến về một số vấn đề liên quan đến các lĩnh vực tiên tri, dự báo, các khả năng tiềm ẩn của con người, và rất tâm đắc với những nội dung trong sách. Tôi tin rằng cuốn sách sẽ nhận được sự hưởng ứng của đông đảo độc giả.
———
*GS. Viện Vật lý và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH BAO TRÙM LÊN MỌI LĨNH VỰC:

VŨ TRỤ, THIÊN NHIÊN, XÃ HỘI, CUỘC SỐNG VÀ MỌI HÀNH VI CON NGƯỜI

VỚI KHẢ NĂNG TIÊN TRI.

 Thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về nền văn minh Hán, điều này đến nay – chí ít ở trong website lyhocdongphuong.org.vn là điều hiển nhiên, trở thành nền tảng tri thức căn bản để tiếp tục khảo sát, phát triển, nên không cần phải nhắc lại. Cho đến ngày hôm nay, đã có nhiều chứng lý xác định điều này.

Không thể có một nền văn minh nào trong lịch sử của nền văn minh hiện đại với nhận thức trở thành mặc định truyền thống: bắt đầu từ đồ đá cách đây 10.000 năm với bầy người nguyên thủy, những bộ lạc sơ khai, rồi đồ đồng, đồ sắt..vv…đến ngày hôm nay là chủ thể nền tảng tri thức hình thành thuyết ADNH.

Căn cứ vào tiêu chí thứ hai là chuẩn mực để thẩm định nền văn minh chủ thể của thuyết ADNh phát biểu như sau:

 2/ Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết phải chứng tỏ được nền tảng tri thức đã tạo dựng nên hệ thống lý thuyết thuộc về nền văn minh đó.

Với tiêu chí này thì ngay cả nền văn minh Lạc Việt, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử, cũng không phải chủ thể sáng tạo thuyết ADNh. Nhưng tôi xác định rằng:

Nền văn minh Lạc Việt, một thời huy hoàng ở miền nam Dương tử chính là nền văn minh lưu giữ lại những giá trị tri thức đích thực của học thuyết này, từ một nền văn minh toàn cầu huyền vĩ đã bị hủy diệt bởi thiên tai, mà tôi đặt tên là văn minh Atlantic.

Do đó, chỉ có di sản văn hóa truyền thống Việt mới có thể phục hồi những giá tri tri thức đích thực của thuyết ADNH. Điều này đã được mô tả trong cuốn sách đã xuất bản “Minh Triết Việt trong văn minh Đông phương” (Nxb Tri Thức 2014).

 

Thuyết ADNH – lý thuyết thống nhất vũ trụ, không thể là sản phẩm của một quốc gia, dân tộc, hoặc một vùng lãnh thổ nào trên trái Đất. Nó phải là sự tích hợp của cả một quá trình tiến hóa của cả một nền văn minh.

 

Tôi chưa chứng minh điều này, nên coi như là một tiền đề (Tiền có dấu huyền) (*). Từ tiền đề này, chúng ta nhận thấy rằng: hệ thống phương pháp luận của thuyết ADNH bao trùm lên mọi lĩnh vực một cách rất sâu sắc và là một thực tế đã được chứng nghiệm – không phải vài chục, vài trăm năm..mà là hàng thiên niên kỷ trong xã hội Đông phương từ thời được coi là Cổ đại đến nay. Điều này, không cần chuyên môn sâu, chỉ cần quan tâm thì có thể nói rằng: Tất cả mọi lĩnh vực từ vũ trụ, thiên nhiên, cuộc  sống và con người đều được giải thích bằng những dấu ấn, tuy rời rạc, khó hiểu, nhưng đều nằm trong hệ thống phương pháp luận của thuyết ADNH.

Có điều đặc biệt là: chỉ riêng môn Đông Y, chỉ có sự giải thích bằng hệ thống phương pháp luận của học thuyết ADNh, nhưng không thấy mô hình biểu kiến tổng hợp thực tại và mô tả tính quy luật tương tác của một thực tại, như các môn khác là: phong thủy, dự báo. Riêng môn dự báo tổng hợp rất nhiều ngành khác nhau. Trong dự báo lại có các chuyên ngành liên quan đến nhiều lĩnh vực như: Vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, cuộc sống và con người…- ít nhất trong khả năng sưu tầm của tôi nhân thấy điều này. 

Thí dụ:

A/ Trong khoa Tử Vi, để mô tả một cách tổng hợp các quy luật tương tác của vũ trụ lên Địa Cầu và con người với khả năng xét đoán đến từng hành vi có thể tiên tri, thì mô hình biểu kiến tồng hợp của nó chính là mô hình Thiên bàn Tử Vi và các đại lượng tương tác có tính quy luật. Hoặc it nhất trong ngành Bốc Dịch thì mô hình biểu kiến của nó chính là quẻ Dịch.

B/ Trong ngành phong thủy – Địa Lý Lạc Việt (*) – thì rất nhiều mô hình biểu kiến. Điều này chỉ cần quán xét cái La bàn loại 28 tầng cũng đủ thấy được một sự mô tả các quy luật tương tác cực kỳ phức tạp của vũ trụ, thiên nhiên đến ngôi gia và ảnh hưởng tới con người. Chưa kể hàng loạt những mô hình biểu kiến khác liên quan đến từng chuyên ngành nhỏ hơn của riêng ngành Địa Lý Lạc Việt.

Nhưng trong Đông y, hoàn toàn chỉ có một hệ thống phương pháp luận chuyên ngành, là hệ quả của thuyết ADNh, mô tả các trạng thái bệnh tật, sức khỏe của con người, với những mô hình mô tả một thực tại có thể kiểm chứng được. Thí dụ như mô hình hệ thống Kinh Lạc vận động trong con người.

Đây không phải là một khiếm khuyết của ngành Đông Y, trong hệ thống phương pháp luận của thuyết ADNh. Mà là tính tất yếu của một hệ thống lý thuyết bao trùm lên mọi hiện tượng và là Lý thuyết thống nhất. Bởi vì, trong việc chẩn trị bệnh, bồi dưỡng sức khỏe của từng cá thể là nhưng tác động cụ thể rất chi tiết cho một cá thể trên địa cầu, nó không thể lập thành một mô hình biểu kiến có tính tông hợp. Những thày Đông y giỏi đều kiêm thêm kiến thức về Lý học liên quan, như Tử Vi, bốc Dịch để tham khảo về diễn tiến sức khỏe. Và chính những chuyên ngành dự báo như Tử Vi, bốc Dịch cho từng số phận con người, là sự bổ sung cho ngành Đông y (**).

Như vậy, với một sự tổng hợp tất cả những thực tế liên quan đến thuyết ADNh đã phổ biến và chi phối làm nên nền văn minh Đông phương huyền vĩ, cho thấy rằng: Thuyết ADNh bao trùm lên mọi lĩnh vực và hệ quả của nó là từng chuyên ngành khác nhau với những hệ thống kiến thức chuyên môn sâu, vô cùng đồ sô cho từng chuyên ngành.

Nền văn minh này, không thể phát triển trong lịch sử văn minh Hán. Bởi vậy, đó là nguyên nhân chủ yếu để hơn 2000 năm trôi qua, kể từ khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền Nam sông Dương Tử, nền văn minh Hán không thể phục hồi lại được học thuyết này.

Đấy chính là tiêu chí thứ 2, trong hệ thống ba tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định nền văn minh chủ nhân của một học thuyết.

Quote

2/ Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết phải chứng tỏ được nền tảng tri thức đã tạo dựng nên hệ thống lý thuyết thuộc về nền văn minh đó.

 

Thưa quí vị quan tâm.

Sự mô tả của thuyết ADNh, bao trùm lên mọi lịnh vực trong không gian sống của con người và xuyên suốt thời gian của lịch sử vũ trụ là một yếu tố xác định: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất mà con người đang mơ ước. Nền văn minh Lạc Việt, mà hậu duệ chính là người Việt Nam hiện nay là chủ sở hữu đích thực của những giá tri thức của nền văn minh Đông phương. Và chỉ có nền văn hiến Việt – dù qua bao thăng trầm của Việt sử – nhưng với những di sản còn lại trong những  văn hóa truyền thống của người Việt, mới có khả năng phục hồi lại học thuyết Âm Dương Ngũ hành để đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại, trong cuộc hội nhập toàn cầu

=====================

* Trong toán học, khái niệm “Tiên đề” là không thể chứng minh được, bắt buộc phải chấp nhận. Tôi dùng khái niệm “Tiền đề” (Tiền có dấu huyền) là một định đề cho trước để tiếp tục triển khai một vấn đề diễn biến sau đó và có thể chứng minh được.

** Riêng môn Đông Y thực sự huyền diệu. Ngày xưa, nhà nước đã có một chủ trương rất chính xác là “Đông Tây y kết hợp”. Cha tôi, ông Nguyễn Văn Thành, tức Trần Quang Hy, vào năm 1957, là người trực tiếp cầm quyết định của Hồ Chủ tịch thành lập viện nghiên cứu Đông Y Việt Nam, ở phố Nguyễn Bỉnh Khiêm Hanoi. Nhưng rất tiếc! Cùng chung số phận với các giá trị khác của thuyết ADNh về tính huyền bí khó hiểu, khi kiến thức khoa học chưa phát triển, nên phương pháp nghiên cứu không định hướng rõ ràng được. Chính người Trung Quốc ngày nay, cũng phủ nhận môn Đông Y vì tính huyền bí khó hiểu của nó (Tôi đã đưa diều này trên diễn đàn). Nên đến này không thấy tồn tại Viện này nữa.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi