VĂN HÓA LÀ GÌ?

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

Lên Google gõ chữ “văn hóa là gì?”. Cụ Google hiện ra cho một bài trên Bách Khoa toàn thư mở như sau:
Trích:
[“VĂN HÓA
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.[1]
Trong cuộc sống hằng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Các “trung tâm văn hóa” có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận… Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa. Trong nhân loại họcxã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người [2]. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất.

Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản phẩm của người thông minh (Homo sapiens). Trong quá trình phát triển, tác động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính con người không không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo của con người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên.

Tranh tường Ai Cập cổ đại về việc cày cấy và bắt chim, khoảng 2700 năm trước Công nguyên, hiện lưu giữ ở bảo tàng Ai Cập, Cairo, Ai Cập.“]
Một định nghĩa khác tương tự của UNESCO về văn hóa như sau:
Theo UNESCO:
[‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc].
Nguồn dẫn: https://hoatieu.vn/van-hoa-la-gi-144301.
Thưa quý vị và các bạn.
Định nghĩa về văn hóa trên thư viện mở WikiVN cho thấy một cảm nhận mơ hồ về nội hàm khái niệm này. Nhưng ngay cả với định nghĩa về “Văn hóa” của cơ quan Văn hóa Liên Hiệp Quốc, cũng chưa thể hiện được ý nghĩa rốt ráo của từ này. Câu chữ trong định nghĩa trên của UNESCO cũng rất mơ hồ. Thế nào là “tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại”?
Theo như tôi được biết thì trên thế giới có hơn kém 400 định nghĩa về từ kép “Văn hóa”. Một trong những định nghĩa về văn hóa là của Gs Đào Duy Anh, viết trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương”, nổi tiếng của ông vào những năm 30 của thể kỷ trước. Theo đó, ông định nghĩa một cách đơn giàn: “Văn hóa là sinh hoạt”. Nếu so sánh đối chiếu với định nghĩa về “văn hóa” của cơ quan UNSCO thì định nghĩa của Gs Đào Duy Anh có nội hàm khái niệm khác nhau khá xa. Đấy là câu chuyện mới chỉ của hơn 80 năm trước, cách ngày nay
Từ hơn 10 năm trước, trên dd lyhocdongphuong.org ,vn, tôi đã có định nghĩa về bản thể khái niệm nội hàm danh từ “Văn hóa”. Nhưng có lẽ nó không đúng thời điểm, nên chăng ai chú ý. Bây giờ tôi xin mô tả lại ở đây.
Thưa quý vị và các bạn.
Có người cho rằng: “Văn hóa” là viết tắt của từ “văn minh”, “khai hóa”. Nó tương tự như từ “kinh tế”, là viết tắt và dịch thoát ý từ cổ học Đông phương của cụm từ “Kinh bang, tế thế”.
Cũng rất có thể như vậy, Nhưng cho dù ý kiến đó đúng, thì nó cũng chỉ mô tả từ gốc và không có giá trị mô tả bản thể nội hàm khái niệm “Văn hóa”.
Có thể nói: Từ kép “Văn hóa” xuất hiện rất muộn trong ngôn ngữ Việt. Trước đó, trong hệ thống ngôn ngữ Việt không có từ “văn hóa”, mà các nhà nghiên cứu, các học giả Việt ở đầu thế kỷ trước, có từ kép tương đương là “Phong Hóa”(Tập san tạp chí Phong Hóa, Nam Phong tạp chí xuất bản vào những năm 30 của thế kỷ trước). Từ “Văn hóa” xuất hiện sau đó rất muộn. Có thể nói, vị học giả Việt Nam đầu tiên định nghĩa về “Văn hóa” là ông Đào Duy Anh. Trong Việt Nam Văn Hóa Sử cương”, xuất bản vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX, ông đã định nghĩa: “Văn hóa là sinh hoạt”. Tất nhiên định nghĩa này sai. Hoặc chí ít nó cũng không hoàn chỉnh. Bởi vì sinh hoạt là một từ mô tả các hoạt động của mọi sinh vật, ngoài con người.

 

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

KHÔNG CÓ KHÔNG / THỜI GIAN.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.
Trong cuốn “Tìm về cội nguồn kinh Dịch”, Nxb Hồng Đức 2020, tôi đã chứng minh và xác định rằng:
Về bản chất của vũ trụ, không hề có Không/ Thời gian. và tôi cũng xác định rằng:
Thời gian chỉ là cảm ứng sinh học của muôn loài với sự vận động và tương tác với môi trường sống của sinh vật đó.


https://bianvn.com/khoa-hoc/hien-tai-qua-khu-va-tuong-lai-ton-tai-cung-mot-luc-ven-man-bi-mat-cua-vat-ly-luong-tu?fbclid=IwAR17c-bs6uEkrcOr6WI0cPuvdjDpHs4ihKJt4TS73pU6r-OUF6yB8hq5D2Q

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

CHƯƠNG TRÌNH ĐỘC ĐÁO GIỚI THIỆU DOANH NGHIỆP QUA BAO LÌ XÌ TẾT.

LUÔN ĐEM LẠI LỢI ÍCH CHO CÁC BẠN>
LAN TỎA VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CỦA BẠN.
THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.

Đây là một chương trình giới thiệu doanh nghiệp và các sản phẩm thuộc về doanh nghiệp đã được Cty Địa Lý Lạc Việt triển khai qua ba cái Tết, là Kỷ Hợi 2019; Canh Tý 2020 và Tân Sửu 2021. Hết sức độc đáo, có hiệu  quả cao và đem lại cho những doanh nghiệp tham gia chương trình này một sự ổn định và phát triển, ngay trong lúc kinh tế khó khăn, vì dịch bệnh đang xảy ra trên toàn cầu.
Vì tính độc đáo của chương trình này, nó có thể giới thiệu sản phẩm của các bạn là các doanh nhân, từ cá nhân hành nghề, các đơn vị nhỏ lẻ…cho đến các Đại Cty lớn, cần phát triển và ổn định thị trường.
Để tiếp tục mang lại sự phát triển tốt đẹp đến quý vị doanh nghiệp, Tết Nhâm Dần 2022, chúng tôi tiếp tục thực hiện và hân hạnh giới thiệu với quý vị và các bạn, chương trình giới thiệu doanh nghiệp qua bao Lì xì Tết.
Có thể nói:
Hầu hết các Cty doanh nghiệp lớn đều có chương trình tặng khách hàng bằng bao Lì xì Tết, như một sự tri ân, cảm ơn khách hàng. Nhưng những bao Lì xì này chỉ mang tính khuyến mãi và ít mang tính quảng cáo doanh nghiệp.
Vấn đề nằm ở phương pháp giới thiệu doanh nghiệp của chúng tôi, qua nội dung của bao Lì xì Tết với mục tiêu kép. Đó là, vẫn tiếp tục duy trì tính khuyến mãi và phát triển tính quảng cáo, giới thiệu doanh nghiệp.
Và đây là một phương pháp quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp, thỏa mãn tất cả các tiêu chí của ngành quảng cáo.
1/ Tiêu chí thứ nhất:
PHƯƠNG PHÁP QUẢNG CÁO PHẢI GÂY CẢM TÌNH VỚI SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP ĐƯỢC QUẢNG CÁO.
Ưu điểm đầu tiên của bao Lì xì Tết, chính là một đặc thù văn hóa truyền thống Đông phương. Cho nên, nó được hầu hết mọi người trên xã hội Đông phương sử dụng với sự trân trọng, vì tính chúc lành đầu năm trong ngày Tết cổ truyền. Nhưng nếu chỉ giới hạn ở đấy thì của tính văn hóa truyền thống, chỉ dừng lại ở chính bản thân sự hiện hữu của cái bao Lì xì nói chung.

Riêng bao Lì xì của chúng tôi mang đậm thêm nét truyền thống đặc thù Việt, ở chỗ in ấn những bức tranh dân gian đầy tính Minh triết và Tâm linh của văn hóa truyền thống Việt. Nó sẽ góp phần nhắc nhở thế hệ mầm non, tiếp nối văn hóa truyền thống qua những bức tranh dân gian này. Nó sẽ nhắc nhở những người cao tuổi nhìn lại quá khứ của chính mình, trong hồn dân tộc.
Do đó, việc giới thiệu doanh nghiệp của bạn trên bao Lì xì Tết với những bức tranh dân gian truyền thống, chắc chắn sản phẩm của quý vị sẽ được mọi sự yêu mến.
Ở đây chúng tôi muốn trình bày thêm với quý vị về tính ấn tượng tâm linh, gây thu hút người tiêu dùng. Vì những giá trị tâm linh của những bức tranh dân gian Việt, đã đồng hành với Việt sử, trải hàng ngàn năm văn hiến, ăn sâu trong tiềm thức người Việt.
Tính ưu việt của việc gây cảm tình trong giới thiệu doanh nghiệp của bạn, chính là nó có thêm tranh dân gian truyền thống Việt.
2/ Tiêu chí thứ hai:
TẬP TRUNG VÀO ĐỐI TƯỢNG QUẢNG CÁO.
Quý vị có thể dùng các phương pháp quảng cáo phổ biến hiện nay, như trên Tivi, trên báo, tờ rơi…và cả trên các mạng xã hội, chen vào phim ảnh..vv…Phương pháp này có thể thích hợp với các sản phẩm mang tính tiêu dùng, trong sinh hoạt hàng ngày. Do đó, luôn đúng với các đối tượng xem quảng cáo của bạn. Nhưng hạn chế của phương pháp này, lại chính là thời lượng người xem được quảng cáo của bạn, phải trùng hợp với giờ phát sóng. Trong khi đó, bạn không thể kéo dài chương trình quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, một cách triền miên. Do đó, việc giới thiệu doanh nghiệp của quý vị, trên bao Lì xì tranh dân gian Việt của chúng tôi, sẽ có hiệu quả tối đa độ phủ đối tượng quảng cáo, giới thiệu doanh nghiệp của quý vị, tiết kiệm chi phí quảng cáo và tập trung cao độ vào khách hàng tiềm năng.
Để mô tả hình ảnh sinh động về hiệu quả của tính “tập trung đối tượng quảng cáo” – tức khách hàng tiềm năng của quý doanh nghiệp – chúng tôi lấy thí dụ chỉ là một cửa hàng tạp hóa bán lẻ ở đầu làng. Khách hàng tiềm năng của họ là những người làng và vùng lân cận. Tất nhiên, với một cửa hàng bán lẻ trong làng, sẽ không có nhu cầu quảng cáo trên tivi và các phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng chỉ với việc in tối thiểu 5000 bao lì xì tranh dân gian Việt, với giá cao nhất 3, 750, 000VND; thấp nhất 3, 250, 000VND, họ có thể tặng cho 500 khách hàng, mỗi khách hàng 10 cái bao Lì xì khi đến mua tại cửa hàng của họ, Tất nhiên vì tính giá trị văn hóa truyền thống, những bao lì xì này sẽ lan tỏa trong làng và các vùng lân cận. Người này sẽ truyền người kia và giới thiệu doanh nghiệp của bạn dù lớn hay nhỏ, qua chính bao Lì xì tranh dân gian Việt này. Tất nhiên, độ phủ quảng cáo của báo Lì xì sẽ lan truyền chỉ giới hạn trong địa phương của cửa hàng tạp hóa đó.
Đấy là tính tập trung vào đối tượng là khách hàng tiềm năng. Và tất nhiên nó tiết kiệm chi phí quảng cáo với hiệu quả cao.
Với phương pháp của chúng tôi, quý vị Đại Cty có thể ứng dụng quảng cáo đến chi tiết cho từng địa chỉ Đại lý cấp ba của trên toàn quốc, đang bán các sản phẩm của quý vị. Đây cũng là tính ưu việt của phương pháp này.
Để biết thêm chi tiết, quý vị có thể tiếp tục đọc nội dung kèm theo sau đây.

I/ HẦU HẾT NHỮNG  DOANH NGHIỆP LỚN ĐỀU CÓ IN BAO LÌ XÌ TẾT.
Nhưng chúng mang tính khuyến mãi, hơn là mang tính quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp, một cách có hiệu quả.
Quý vị và các bạn có thể xem một số bao Lì xì chỉ mang tính khuyến mãi, nhưng thiếu tính quảng cáo, như sau:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II/ TÍNH ĐỘC ĐÁO TRONG GIỚI THIỆU QUẢNG CÁO DOANH NGHIỆP
TRÊN BAO LÌ XÌ CỦA CHÚNG TÔI.
Vừa mang tính khuyến mãi và tính giới thiệu doanh nghiệp.
Quý vị và các bạn có thể xem những mẫu chúng tôi đã thực hiện dưới đây:


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Với phương pháp quảng cáo và giới thiệu doanh nghiệp này, quý vị có thể giới thiệu đến từng địa chỉ ban lẻ của từng đại lý. Vì chỉ cần in tối thiểu 5000 bao Lì xì, quý vị sẽ có riêng một địa chỉ – dù chỉ là cửa hàng bán lẻ sản phẩm của quý vị. Và đó là một phương pháp rất tập trung vào khách hàng tiềm năng với một giá cực rẻ. Không chỉ dừng lại ở đây, nó còn mang tính lan tỏa và lưu truyền từ người này sang người khác, qua chính bao Lì xì này.

III/ VỀ TƯ LIỆU TRANH DÂN GIAN:
Chúng tôi có hơn 500 mẫu mã khác nhau của các thể loại dòng tranh dân gian lớn, mà quý vị và các bạn có thể lựa chọn.

IV/ THÔNG TIN VỀ GIÁ CẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH & NỘI DUNG QUẢNG CÁO:
I/ Giá mỗi bao Lì xì
I/ Loại nhỏ 16,2 x 8,2 là 650 VND/ cái.
II/ Loại lớn: 18 x 8,8 là 750 VND/ cái.
Số lượng in tối thiểu 5000 cái cho một mẫu tranh dân gian và một địa chỉ cần giới thiệu, quảng cáo.
Hay nói rõ hơn và cụ thể:
Quý vị có thể có một mẫu tranh dân gian và nội dung quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp, cho một địa chỉ cần quảng cáo.
Ngay với giá cao nhất 750VND/ Bao Lì xì của chúng tôi chỉ chiếm 2, 5% giá trị một sản phẩm cần quảng cáo, nếu giá trị của sản phẩm của các bạn là 30, 000VND. Nhưng vấn đề không chỉ dừng lại ở đấy. Mà còn là tính giới thiệu sản phẩm của bạn sẽ được nhiều người biết tới, do tính lưu truyền của bao lì xì.
2/ Mặt trước bao lì xì có dòng chữ “Chúc mừng năm mới”; hoặc “An khang thịnh vượng” và tranh dân gian. Mặt sau có logo, slogan, địa chỉ doanh nghiệp…do quý Cty đề nghị và chúng tôi thực hiện.
Xin xem hình.

Nếu quý vị có nhu cầu, chúng tôi sẽ đề xuất để quý vị có thể chọn một câu slogan để giới thiệu mục đích ứng dụng sản phẩm của quý vị.

QUẢNG CÁO GIỚI THIỆU DOANH NGHIỆP VÀ SẢN PHẨM CỦA QUÝ VỊ

LÀ VIỆC CẦN CỦA MỌI DOANH NGHIỆP.
Nó thể hiện đẳng cấp, uy tín của doanh nghiệp và sự khẳng định chất lượng của quý vị.
Thưa quý vị và các bạn:
Chương trình quảng cáo và giới thiệu doanh nghiệp trên bao Lì xì Tết của chúng tôi là một chương trình vừa mang tính khuyến mãi, vừa mang tính quảng cáo giới thiệu độc đáo và chắc chắn sản phẩm và thương hiệu của quý vị và các bạn, sẽ lan rộng trên thị trường với những kết quả tốt đẹp, vì thiện cảm của khách hàng nhận được bao lì xì này. Vì tính nhân văn của bao Lì xì và tính văn hóa truyền thống đầy minh triết và ăn sâu trong đời sống tâm linh của tranh dân gian Việt.

Cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ chương trình quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp trên bao lì xì Tết của quý vị và các bạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nếu quý vị có nhu cầu, chúng tôi sẽ đề xuất để quý vị có thể chọn một câu slogan để giới

thiệu mục đích ứng dụng sản phẩm của quý vị.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

CHỮ VĂN – TRONG “TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN”, MÔ TẢ ĐIỀU GÌ?

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Trong một trang web dạy tiếng Trung, người ta định nghĩa khái niệm “Văn” như sau:
“VĂN trong tiếng Việt sang tiếng Trung thường lấy chữ 文 (Wén) với nghĩa là: Chữ viết: Chung đỉnh văn (chữ khắc trên đồ đồng cổ)”.
Theo tôi đây là một định nghĩa chính xác. Và nó phù hợp với nguyên gốc tiếng Việt của chữ này. Chữ “Văn” trong tiếng Việt là một tập hợp gồm các phần tử:  vằn, vện, vết, viết, vẽ. Thiên Văn không có nghĩa là “chữ nói về Trời”. Mà là mô tả dấu vết trên Trời. Những chữ Văn trong “Hậu học Văn” là mô tả chữ viết. Tất nhiên nó không chỉ thuần túy với nghĩa là “văn học”; “văn chương”…Với nội hàm khái niệm được mô tả như trên, thì “Hậu học văn” có nghĩa là có thể hiểu: Học chuyên môn, mà ở bậc phổ thông gồm Toán, Lý, hóa, Văn, Sử, Địa….Nhưng trước khi học chuyên môn (“Văn”) – tức vào đời để kiếm sống – thì phải hiểu về mối quan hệ giữa con người với con người và sự tôn trọng con người.
Do đó phải “Tiên học Lễ” – tức học về sự tôn trọng con người trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, qua nghi thức thể hiện. Nhiều nền văn hóa không có ý thức về Lễ  như một hình thái ý thức xã hội. Nhưng họ vẫn có nghi lễ của họ, thể hiện sự tôn trong con người. Nghi thức thể hiện tùy theo phong tục tập quán. Bên Nhựt Bổn thì đứng nghiêm hơi cúi người về phía trước chào người mình gặp. Bên xứ Tây thì người ta bắt tay, Bên Tàu thì vòng tay trước ngực, hai bàn tay đặt lên nhau, vái người đối diện… Chung nhất trên các hình thức nghi Lễ là phép lịch sự trong quan hệ giao tiếp.
Trong ba hình thái ý thức quản lý và tổ chức xã hội thì Đức trị là cao cấp nhất. người xưa gọi Đức trị là Vương Đạo.
Muốn thế phải có một nền giáo dục cao cấp. Nền văn minh hiện nay khó đạt được điều này.

Tranh chăn trâu đọc sách - Tranh dân gian Đông Hồ
Thiên tử trọng hiền hào.
Văn chương giáo nhĩ tào.
Van bạn giai hạ phẩm.
Duy hữu độc thư cao.

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

BẢN THỂ NỘI HÀM KHÁI NIỆM PHẠM TRÙ LỄ TRONG VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG.

Thưa quý vị và các bạn.
Trong bài viết: “Vì sao phải bỏ “Tiên học Lễ, hậu học văn?” trước bài này, tôi có nhận xét cho rằng: Chẳng còn mấy ai hiểu về bản thể nội hàm khái niệm Lễ là gì? Người ta không thể bỏ, hoặc công nhận một phạm trù, do chính con người đặt ra – nhưng do thất truyền – nên không hiểu bản chất của nó là gì. Khi không hiểu bản chất của Lễ thì cũng không hiểu luôn cả giá trị tương tác của nó lên cuộc sống con người.
Bởi vậy, không quản tài hèn, tôi viết bài này phân tích về nội hàm khái niệm Lễ để chia sẻ với quý vị các bạn.
Tôi xin bắt đầu bằng nhận xét của ngài SW Hawking, một thiên tài Vật Lý Lý thuyết của nền văn minh hiện đại, đã phát biểu rằng:
“Nếu một ngày nào đó chúng ta tìm ra được Lý thuyết thống nhất, thì những hiểu biết về quy luật vũ trụ sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta”.
Thưa quý vị và các bạn.
Trong hai cuốn sách đã xuất bản của tôi: “Minh triết Việt trong văn minh Đông phương” Nxb HD 2019, và “Tìm về cội nguồn kinh Dịch” Nxb HD 2020, tôi đã xác định rằng:
Thuyết ADNh & kinh Dịch là ba bộ phận cấu thành của một hệ thống Lý thuyết hoàn chỉnh và đó chính là Lý thuyết thống nhất vũ trụ, mà nhân loại đang tìm kiếm.
Thuyết ADNh &Kinh Dịch không thuộc về nền văn minh của chúng ta. Nó thuộc về một nền văn minh có trước chúng ta, mà tôi đặt tên là văn minh Atlantic.
Tất nhiên, theo quy luật chung thì nền văn minh tìm ra lý thuyết đó, sẽ ứng dụng những quy luật vũ trụ để điều hành xã hội của họ. Và nó phải để lại những di sản của các phương pháp điều hành xã hội thuận theo quy luật vũ trụ, trong Lý thuyết thống nhất mà họ tìm ra và đã mô tả nó. Lễ chính là một phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, do nhận thức quy luật vũ trụ của con người, để điều hành xã hội trong quan hệ giữa con người với con người. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, Lễ có chức năng quản lý điều hành xã hội ngang với Luật pháp, Đạo đức. Cho nên, không thể hiểu một cách đơn giản:
Lễ chỉ là “áo thụng vái nhau”, quỳ mọp, tung hô “Hoàng Đế vạn tuế, vạn vạn tuế”; hoặc “Mởi bác ngồi chơi! Sơi nước”…Đó chỉ là “Nghi” Lễ, tức là hình thức của Lễ. Nó không phải bản thể của Lễ. Khái niệm “Nghi” cho thấy nó không phải cái tuyệt đối không thể thay đối, cứng nhắc. Nó có thể và cần phải thay đổi theo thời đại, tương ứng với sự phát triển  của mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội.
Là hệ quả ứng dụng của một học thuyết thống nhất vũ trụ (Thuyết ADNh & Kinh Dịch – nhân danh nền văn hiến Việt), tất nhiên Lễ phải có sự liên hệ với những nguyên lý căn bản của học thuyết này.
Để quý vị và các bạn chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về Lý học Đông phương, có những khái niệm căn bản và từ đó liên hệ đến ba phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, ứng dụng trong điều hành xã hội, gồm Đức trị; Lễ trị và Pháp trị; sau đây tôi sẽ trình bày những mô hình biểu kiến mô tả những nguyên lý căn bản của thuyết ADNh & Kinh Dịch.

I. NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH &KINH DỊCH.
Nguyên lý căn để mang giá trị cốt lõi cho mọi ứng dụng của nền Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử từ gần 5000 năm trước – Đó là mô hình Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Bắt đầu từ mô hình này, xóa sổ huyễn tưởng của thế nhân, từ hàng ngàn năm qua, chấp vào quan niệm: nền văn minh Đông phương có nguồn gốc từ nền văn minh Hán. Tôi đã chứng minh tính hợp lý lý thuyết của mô hình này trong hai cuốn sách giới thiệu ở trên. Nếu quý vị và các bạn chưa thể chia sẻ, hoặc công nhận nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” thì hãy tạm coi như là một tiền đề, trong hệ thống luận cứ – nhân danh nền văn hiến Việt – nhằm chứng minh tính ứng dụng của quy luật vũ trụ, trong điều hành xã hội của phạm trù Lễ, là chủ đề của bài viết này.

MÔ HÌNH NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ.

 

 

 

 

 

 

 

 

Trên cơ sở này, chúng ta có hai tập hợp được thể hiện bằng hai tam giác “Ngôi sao Davit” mô tả như sau:

 

 

 

 

 

 

 

Trong đó gồm tập hợp Tam Dương. Đây chính là mô hình chuẩn mô tả nội dung trên bản văn bằng đất sét của nền văn minh Sumer> “Trên Trời chỉ có ba”:

 

 

 

 

 

 

Và Tam Âm. Đây chính là mô hình chuẩn mô tả nội dung trên bản văn bằng đất sét của nền văn minh Sumer> “Dưới Đất chỉ có ba”:

 

 

 

 

 

 

 

Tôi cũng xin lưu ý quý vị và các bạn là: Chỉ có mô hình nguyên lý căn để “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” – nhân danh nền văn hiến Việt – mới thể hiện được mô hình hệ quả của nó  Tam Âm/ Tam Dương như đã trình bày ở trên. Mô hình “Lạc Thư phối Hậu Thiên Văn Vương” theo cổ thư chữ Hán không thể thực hiện được điều này.
Trong hệ thống 64 quẻ Dịch Hậu Thiên, có quẻ thứ 11, gọi là “Địa Thiên Thái”:
Ký hiệu của quẻ Địa Thiên Thái – trong đó có ba vạch liền phía dưới là quái Càn và ba vạch đứt phía trên là quái Khôn.

 

 

 

Đây là quẻ tốt nhất trong chu kỳ vận động và tương tác của vũ trụ đến với Địa cầu, trong toàn bộ hệ thống 64 quẻ của Hậu Thiên.
Như vậy, tôi đã trình bày xong về những mô hình mang tính nguyên lý căn để của thuyết ADNh & Kinh Dịch, được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt. Quý vị và các bạn có thể thừa nhận tính hợp lý lý thuyết của mô hình này, hoặc không thừa nhận và như tôi đã trình bày. Nhưng quý vị và các bạn có thể tạm coi như là những tiền đề (Không phải tiên đề), để tiếp tục quán xét vấn đề phạm trù Lễ – hệ quả của những tiền đề này – trong việc điều hành, tổ chức và quản lý xã hội, như ngài SW Hawking đã nói tới, mà tôi đã trình bày ở trên.
Bây giờ, tôi tiếp tục trình bày về vấn đề ứng dụng cặp phạm trù Âm Dương của thuyết ADNh & Kinh Dịch trong việc điều hành xã hội.
II/ CẶP PHẠM TRÙ ÂM DƯƠNG TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH, TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI.

II. I/ SỰ MƠ HỒ NỘI HÀM KHÁI NIỆM ÂM DƯƠNG TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN
Có thể nói: Ứng dụng khái niệm Âm Dương vào việc điều hành và tổ chức quản lý xã hội được nói tới trong Sử Ký Tư Mã Thiên, Trần Bình thế gia. Trong đó Tể Tướng Trần Bình xác định công việc của Tể Tướng là giúp vua “Cân bằng Âm Dương”.
Nhưng nội hàm khái niệm AD như thế nào cho đến thời Tống vẫn hết sức mơ hồ. Chu Đôn Di mô tả Âm Dương như một thực thể tồn tại trong vũ trụ, khi mô tả câu trong Hệ Từ hạ, là: “Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh bát quái” – như sau:
Thái cực bản Vô cực dã. Thái cực động sinh Dương, Động cực chí tịnh sinh Âm. Âm Dương sinh Lưỡng nghi và Ngũ hành.
Tôi đã chứng minh Chu Đôn Dy sai khi mô tả bản thể nội hàm cặp phạm trù Âm Dương, trong cuốn “Tìm về cội nguồn kinh Dịch” nêu trên. Nói theo cách nói của Đức Phật thì đó là “Thể Tính lẫn lộn, các pháp thế gian không thành lập được”. Sự bí ẩn của nội hàm cặp phạm trù AD trong ứng dụng điều hành xã hội, được thể hiện trong Đại Việt Sử Ký toàn thư. Trong đó quan Ngự sử Bùi Cẩm Hổ, khi Đại Việt bị thiên tai, đã chất vấn Tể Tướng Trần Khắc Chân, như sau: “Ở ngôi vị Tể Tướng, có trách nhiệm cân bằng AD. Nay để thiên tai lũ lụt là tại Tể Tướng” . Tể Tướng Trần Khắc Chân trả lời: “Mưa lũ là việc của Long Vương, không phải việc của ta”. Qua sự kiện này trong Việt sử và luận điểm của Chu Đôn Dy, cho thấy khái niệm cặp phạm trù AD rất mơ hồ.

II. II/ ĐỊNH DANH NỘI HÀM KHÁI NIỆM ÂM DƯƠNG TỪ VĂN HIẾN VIỆT.
Trong hai cuốn sách của tôi nêu trên, đã định nghĩa Âm Dương như sau:
Âm Dương là một cặp phạm trù thuộc tư duy tổng hợp của con người, mô tả tất cả mọi dạng tồn tại của vật chất trong lịch sử hình thành vũ trụ có thể phân biệt.
Có 6 nguyên lý phân biệt vật chất vận động và tương tác ứng dụng trong cặp phạm trù Âm Dương. Trong đó có nguyên lý thứ I, phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt – “Dương tịnh, Âm động”. Theo Chu Đôn Di thì ngược lại – “Dương động, Âm tịnh”. Quý vị và các bạn có thể tham khảo trong 2 cuốn sách nêu trên.

II. III/ ỨNG DỤNG CẶP PHẠM TRÙ ÂM DƯƠNG TRONG ĐIỀU HÀNH XÃ HỘI.
Trên cơ sở phục hồi nội hàm khái niệm AD – nhân danh nền văn hiến Việt – thì “Hình thái ý thức xã hội thuộc Dương”. Sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và các mối quan hệ xã hội phát triển trên cơ sở sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội thuộc Âm.
Cân bằng AD trong điều hành, quản lý và tổ chức xã hội là luôn phát triển các hình thái ý thức xã hội phù hợp với các vấn đề và sự kiện phát triển tự nhiên của cuộc sống, xã hội và con người.
Trên cơ sở này, chúng ta quay về với nội hàm khái niệm Lễ trong việc điều hành tổ chức và quản lý xã hội.

III/ PHẠM TRÙ LỄ TRONG HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI.
Trên cơ sở phục hồi bản thể nội hàm cặp phạm trù AD trong thuyết ADNh &Kinh Dịch – nhân danh nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, trải gần 5000 năm lịch sử – tôi xác đinh rằng:
Lễ là một trong ba phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, hệ quả của thuyết ADNh &Kinh Dịch ứng dụng trong việc tổ chức, quản lý và điều hành xã hội. Do đó, nó phải có nguồn gốc của nó. Bây giờ chúng ta quay trở lại với mô hình Tam Dương. Quý vị và các bạn xem lại mô hình biểu kiến Tam Dương dưới đây:

 

 

 

 

 

 

Mô hình trên mô tả Tam Dương trong Lục Khí là thực tại tương tác của vũ trụ với Địa Cầu. Trên cơ sở phân loại AD mà tôi đã trình bày tóm tắt ở trên thì mô hình Tam Dương này ứng dụng phân loại thành ba phạm trù mô tả hình thái ý thức xã hội. Ba phạm trù đó là:
1/ Luật pháp> còn gọi là Pháp trị.
2/ Đạo Lý> còn gọi là Đức trị.
3/ Hình thái ý thức xã hội thứ 3, chính là Lễ trị. Một đề tài tranh luận sôi nổi trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nhiều ngày qua.
Cổ thư viết: Dùng Pháp trị thịnh thì con người trở nên lạnh lùng tàn nhẫn, nên phải thay bằng Đức trị; Đức trị thinh, con người trở nên thật thà, chất phác dễ bị lừa dối, nên phải thay bằng Lễ trị; Lễ trị thịnh con người sống hình thức, gia dối, nên lại dùng Pháp trị.
ba hình thái ý thưc xã hội này thay nhau tuần hoàn > “Quân tử tùy thời biến Dịch” > để quản lý, tổ chức và điều hành xã hội thuận theo quy luật của tự nhiên. Thuộc Dương; nên gọi là “Tam Dương khai thái”, trong nguyên lý tổng hợp > “Cân bằng Âm Dương”.
Đây cũng là nội dung một bức tranh dân gian nổi tiếng của làng Đông Hồ Hanoi.

 

 

 

 

 

 

 

 

Còn theo cổ thư chữ Hán thì “Tam Dương khai thái” là ba con dê.

 

 

 

 

 

 

 

 

“Tiết dê hòa rượu vô cùng bổ Dương”. Ấy là cụ Tú Mỡ bảo thế.
Hình thức của Lễ là phong cách giao tiếp trong mọi quan hệ giữa con người với con người và xã hội. Bản thể của Lễ lấy sự tôn trọng con người là căn bản. “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” là Lễ. Vì là một hình thái ý thức xã hội, nên Lễ cũng phải hiệu chỉnh, thay đổi để phù hợp với sự phát triển các mối quan hệ xã hôi.
Nhờ có Lễ mà những kẻ có sức mạnh không thành hung bạo.
Nhờ có Lễ mà những kẻ có trí không thành kiêu mạn.
Nhờ có Lễ mà những kẻ có quyền lực và giàu có không hống hách, ngạo mạn.
Vào thời cải cách Nhật Hoàng Minh Trị. Khi Nhật Hoàngg cùng các quan Đại thần khánh thành đường sắt đầu tiên của nước Nhật. Họ bước lên toa tàu. Theo Lễ giáo Nhật thì khi vào phòng phải bỏ giầy dép bên ngoài. Nhưng khi xuống sân ga thì tất cả đều…chân không. Ch0 nên sau đó bỏ tục để giầy dep ở bên ngoài những nơi công cộng.
Đây là một thí dụ về sự cân bằng của Lễ với các mối quan hệ xã hội phát triển.
“Tiên học Lễ, hậu học văn” là người xưa muốn khuyên chúng ta phải biết tôn trọng con người, trước khi bước vào đời.
Dịch viết:
“Trí thì cao siêu, Lễ thì khiêm hạ. Cao là bắt chước Trời, thấp là bắt chước Đất”.
Qua đó, quý vị và các bạn thấy rằng: Lễ là một ứng dụng quy luật vận động (Dịch) của vũ trụ (Trời/ Đất), thuận theo tự nhiên của con người.
“Nếu một ngày nào đó chúng ta tìm ra được Lý thuyết thống nhất, thì những hiểu biết về quy luật vũ trụ sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta”.
SW Hawking

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi