ANH CHỊ EM CÁC LỚP LẠC VIỆT THÂN MẾN.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

ANH CHỊ EM CÁC LỚP LẠC VIỆT THÂN MẾN.

Bài viết dưới đây của Thánh Chém Peter Pho, nói về tính chất cần thiết của sự học. Nhân bài viết này, tôi muốn chia sẻ thêm với anh chị em rằng:

Vì đời người chúng ta chỉ có 100 năm > và cũng còn là một con số lý tưởng. Cho nên dù cả một đời học, cũng không thể tiếp thu được hết Kho tàng kiến thức của nhân loại. Nó tương tự như một người nào đó, tin vào một thứ tôn giáo nào đó. Và đến lúc chết – Tử Vì Đạo . Họ vẫn tin vào hệ thống giáo lý của họ. Lịch sử đã cho thấy rằng:

Hầu hêt1 cả các tôn giáo đều có những Thánh Tử Đạo, và các tôn giáo đó chống lại nhau, giết người để bảo vệ điều mà họ cho là chân lý.

Nhưng ace đều biết rằng: Chân Lý chi có một> Làm gì có nhiều Thượng Đế như vậy trong vũ trụ này? Đây chính là nguyên nhân, để ngài Einstein xác định:

“Trong tương lai nhân loại, sẽ không có một Thượng Đế của mỗi cá nhân”.

Trong lớp Mai Hoa Việt Dịch, tôi đã xác định ngài Einstein hoàn toàn đúng, Với điều kiện> Xác định : Thái Cực >phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, chính là sự Tuyệt đối. Là Thượng Đế. Và nói theo ngôn ngữ khoa học của vế thứ II của Nghịch lý Toán học Cantor, là:

“Tập hợp lớn nhất, bao trùm mọi tập hợp và không một tập hợp nào lớn hơn nó”…

Nhưng, điều này chi được xác định với điều kiện> Nhân danh nền văn hiến Việt. Trước nền văn hiến Việt – được giới thiệu trên thế gian, không có hệ thống tri thức này. Nó là sự kiện nằm ngoài những vòng tròn giới hạn trí tuệ của con người> Theo Định Luật Bất Toàn của Godel.

Định luật Bất toàn của Godel, tương ứng với vế thứ nhất của Nghịch lý Cantor phát biểu rằng:

“Mọi tập hợp đều là phần tử của một tập hợp lớn hơn bao trùm lên nó”

Và nội dung của Định luật Bất Toàn và vế thứ nhất của Nghịch Lý Cantor, tương đồng với một nhận định cổ xưa, đã xác định rằng:

“Không thể nói chuyện trên trời với một con cá; không thể nói chuyện dưới nước với một con chim”.

Trời và nước là vòng tròn giới hạn tri thức của loài chim và cá. Nhưng con người> Có thể lên trời và xuống nước thì cái vòng tròn giới hạn trí tuệ, thể hiện ở chỗ nao?

Đó chính là sự giới hạn cùa quá trình tiến hóa của nhận thức. Trong lịch sử tiến hóa đó, con người lần lượt bước qua các giới hạn của những vòng tròn trí tuệ ràng buộc họ, để vào một vòng tròn khác lớn hơn. Vào thế kỷ XVIII, thời của Hoàng Đế vĩ đại của nước Pháp – Napoleon Bonapar – không thể tin rằng: Một con tàu bằng sắt có thể nối trên mặt nước.

Hay mô tả bằng một cách khác> Cái cõi của con chim không thể hiểu được cõi của con cá. Hệ thống trí thức bị giới hạn trong một vòng tròn Godel thì cũng không thể tin được những cái gì thuộc về tương lai của sự tiến hóa. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, ngài Enistein và SW Hawking xác định rằng:

Một Lý thuyết thống nhất phải hàm chứa Lý thuyết Bất Định.

Tôi hoàn toàn ủng hộ nhận định của hai ngài Enistein và SW Hawking về quan điểm này. Nhưng riêng cá nhân tôi nhận xét cho rằng:

Định luật bất toàn của ngài Godel, hoàn toàn tương đồng với vế thứ nhất của Nghịch Lý Toán học Cantor. Nhưng sự mô tả bản chất của vấn đề mang tính tương đồng này, thì nghịch Lý Toán học Cantor chính xác và đây đủ hơn.

Tôi đặt những vấn đề này, để muốn nói với anh chị em các khóa Lạc Việt rằng:

Chúng ta đang sống trong Không/ Thời gian của một vòng tròn giới hạn trí tuệ. Hay nói theo cách cổ điển: Chúng ta đang ở một cõi riêng của chúng ta. Cõi riêng hiện nay của chúng ta, là vòng tròn lớn nhất, bao trùm lên những vòng tròn hiểu biết của nhân loại trong lịch sử tiên hóa, nói theo cách nói của Godel. Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, là tập hợp lớn nhất, những hiểu biết của con người trong quá khứ, nói theo cách nói của Cantor.

Nhưng những hệ thống tri thức mà tôi diễn đạt và trình bầy với anh chị em trong các khóa Lạc Việt, lại là thuộc về hệ thống tri thức của một vòng tròn lơn nhất, mà không thể có một vòng tròn nào bao trùm lên nó. Nó là một hệ thống tri thực, thuộc về một cõi khác., mà tôi gọi là “văn minh Atlantic”> Đây là dỉnh cao huy hoàng mà nhân loại đã đạt được trong quá khứ. Tôi đã chứng minh điều này qua cuốn sách “Minh Triết Việt trong văn minh Đông phương”. Nếu ace chưa công nhận thì hãy coi đây là một Tiền đề. Tiền đề này xác định rằng:

Thuyết ADNh & Kinh Dịch là phát minh của nền văn minh Atlantic. Nền văn minh này đã bị hủy diệt và dân tộc Việt – với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử – chính là một trong những dân tộc còn sống sót, đã giữ lại những giá trị tri thức của học thuyết này. Nền văn minh Văn Lang sụp đổ ở miến Nam sông Dương Tử từ 2300 năm trước. Di sản của nền văn hiến Việt đã bị Hán hóa, một cách rời rạch, thất truyền và sai lệch. Thực chất, chúng chỉ còn lại những phương pháp ứng dụng không hoàn chỉnh.

Đây là nguyên nhân, để chính người Hán – tự nhận là chủ nhân của học thuyết này> Nhưng chưa một học giả tinh hoa nào trong suốt quá trình lịch sử của văn minh Hán, có thể giải thích được bản chất đích thực của thuyết ADNh & Kinh Dịch> Dù chỉ là nội hàm các khái niệm.

Do đó, tôi hy vọng và cũng mong ace hiểu rằng:

Chúng ta đang tiếp thu một nền văn minh ở một cõi khác, không thuộc nền văn minh của chúng ta. Cho nên, ace hãy tiếp thu và tự thẩm định tính chân lý trong quá trình học tập những giá tri tri thức đích thực của nền văn minh Atlantic. Trong các khóa Lạc Việt, tôi đều đã trình bày tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Trong quá trình tiếp thu những kiến thức ko thuộc nền văn minh của chúng ta> Tức từ một cõi khác> Ace hãy lấy tiêu chí khoa học để tự thẩm định, không nên vội phản biện ngắt ngang những hệ thống tri thức, không thuộc về chúng ta và chưa hiểu gì về nó.

Tôi lấy một ví dụ thực tế để ace chiêm nghiệm.
Khi tôi chính thức công bố mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”, vào năm 2001. Giới Lý học phản đối rầm rầm. Từ trong nước cho đến Hải ngoại,
Năm 2005, Tiến Sĩ Toán Việt kiều Áo Trần Quang Bình, thực hiện trên 4200 bài toán, chứng minh cấu trúc mô hình “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Cả làng Lý học ngơ ngác. Họ không có chuyên môn Toán học, nên không thể chỉ ra cái sai của Tiến Sĩ Trần Quang Bình. Sau khi chứng minh Hậu Thiên Văn Vương sai, Tiến sĩ Trần Quang Bình đưa ra mô hình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ”.

Tất nhiên, nếu mô hình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ” của Tiến Sĩ *Trần Quang Bình đúng thì tôi sai. Tuy nhiên, công trình của TS Trần Quang Bình cũng phủ nhận Hậu Thiên Văn Vương. Vì không có chuyên môn Toán học. nên tuy không thể chỉ ra cái sai của TS Trần Quang Bình. Nhưng, những tư duy cố chấp và cực đoan, ăn sâu vào đầu con người hàng ngàn năm với sự thần thánh của Hậu Thiên Văn Vương. Cho nên giới Lý học cũng không thể công nhận công trình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ”. Vậy giữa tôi và TS Trần Quang Bình, ai đúng?
Tuy không có chuyên môn Toán học, nhưng bằng Tư Duy Tổng hợp, tôi biết cái sai của TS Trần Quang Bình ở đâu. Nhưng tôi im lặng. Bởi vì ít nhất có một nhà khoa học xác định: “Hậu Thiên Văn Vương” sai> Tạm thời hãy thế đã.

Nhưng khi gặp riêng TS Trần Quang Bình ở Hanoi, khoảng năm 2006/ 2007, tôi có nói với ông: Anh sai rồi, nên hợp tác nghiên cứu với tôi. Nhưng ông ta đã tự ái và bỏ sang viết cho Talawa và các báo khoa học tiếng Anh khác. Công trình của TS Trần Quang bình gây sự chú ý không chỉ trong nước, mà cả quốc tế.

Cũng xấp xỉ năm này, nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng cũng xác định “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Và ông đưa ra mô hình “Trung Thiên Bát quái đồ”, thay thế cho mô hình Hậu Thiên Văn Vương. Công trình của nhà nghiên  cứu Nguyễn Thiếu Dũng được đưa lên báo Thanh Niên, gây chấn động dư luận giới Lý học và cả triết học Sử Đông phương.
Lại tất nhiên, nếu mô hình “Trung Thiên Bát Quái đồ” đúng thì tôi sai. Như vậy, có thêm một nhà nghiên cứu xác định: “Hậu Thiên Văn Vương” sai> Và cái quan trọng là nó được một tờ báo chính thống có tên tuổi là Thanh Niên đăng tải nhiều kỳ. Như vậy, ít nhất không phải chỉ mình tôi xác định Hậu Thiên Văn vương sai. Mặc dù chưa thể công nhận “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” của tôi đúng. Tạm thời hãy thế đã.

Đến năm khoảng 2015/ 2016 Tiến Sĩ Hà Hưng Quốc ở Hoa Kỳ công bố mô hình Hậu Thiên Văn Lang.
Lại một lần nữa tất nhiên, nếu mô hình “Hậu Thiên Văn Lang” đúng thì tôi sai. Như vậy, lại có thêm một nhà khoa học, hẳn ở Hoa Kỳ xác định: Hậu Thiên Văn Vương sai> Tạm thời hãy thế đã.

Đến năm 2017/ 2018, một Việt kiều Pháp công bố công trình mô hình Hậu Thiên > Tôi quên mất tên> Tạm đặt là “Hậu Thiên Giao Chỉ phối Lạc Thư”. Mô hình này công bố công khai tại nhà văn hóa Pháp ở Hanoi. Sau đó được in thành sách tiếng Việt.
Tất nhiên, lại một lần nữa, nếu mô hình “Hậu Thiên Giao Chỉ” đúng thì tôi sai. Nhưng tôi im lặng. Bởi vì ít nhất có thêm một nhà nghiên cứu nữa hẳn ở Pháp, xác định: Hậu Thiên Văn Vương sai> Tạm thời hãy thế đã.
Đến đây, ace cũng thấy: Có đến 4 mô hình Hậu Thiên phi “Văn Vương” và phủ nhận “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”, nếu tính cả tôi nữa là 5. Sự kiện kéo dài 20 năm , làm chấn động giới Lý học và các nhà nghiên cứu văn minh cổ Đông phương trên thế giới. Tất nhiên, giới Triết học Sử Trung Quốc không thể không biết. Không lẽ, một siêu cường chiếm 1/ 4 dân số thế giới, mà các học giả Trung Quốc không đủ khả năng để phản biện hay sao?
Anh chị em hãy đọc bài này, để thấy ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu chứng minh Hậu Thiên Văn Vương sai, đã phổ biến mang tính quốc tế như thế nào?
Bài dẫn:
Hong Nguyen

“Ký ức bị đánh cắp”

Sự phổ biến của mạng xã hội đã giúp phát hiện ra những thông tin “tuyệt mật” trước đây nằm phủ bụi trong các thư viện. Cư dân mạng nay có cơ hội đào lại các thư tịch cổ và mổ xẻ từng chi tiết trong đó. Nhờ đó họ đã bắt đầu có cách nhìn mới về những vấn đề bí ẩn trong lịch sử, đặc biệt là lịch sử liên quan đến Hán ngữ, là ngôn ngữ văn bản duy nhất còn được lưu giữ xuyên suốt từ thời cổ đại.

Hiện có một phong trào “Đại Mã Lai” đang được lan truyền nhờ việc phát hiện nhiều tài liệu lịch sử về tổ tiên của họ. Một tài khoản tên Mohamed Mahathir mới đây nêu ra một giả thuyết khá chấn động với những người nghiên cứu lịch sử nước này. Đây là bài viết của ông Mohamed:

“Đã có một lịch sử bị đánh cắp. Từ khi vua Lý Thánh Tông của Việt Nam đánh Chiêm Thành vào thế kỷ 10, người Việt đã thi hành một chính sách đồng hóa sâu sắc và có hệ thống, bao gồm đốt phá hầù hết thư tịch cổ của Chiêm Thành. Nhưng có những thứ không thể xóa bỏ được. Dựa vào ngôn ngữ, văn hóa, khảo cổ của những nhóm tộc Chiêm Thành còn sót lại (Chăm, Ê Đê, Gia Rai), ta có thể khẳng định họ chính là tổ tiên người Mã Lai. Nước Malaysia xưa rộng lớn hơn bây giờ đến 10 lần, mà trung tâm văn hóa của nó nằm tại miền bắc Việt Nam ngày nay.”

“Theo một số học giả Việt Nam có uy tín và có hàng chục ngàn người theo dõi, thì người Việt có nguồn gốc từ Mân Nam, tức là Phúc Kiến Trung Quốc ngày nay. Dựa vào những chứng cứ đáng tin cậy mà họ đưa ra, cùng với phần lịch sử mà chúng ta vừa phát hiện, thì tổ tiên của người Việt Nam là bên đất Phúc Kiến, chứ không phải đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). ĐBSH là đất tổ của người Mã Lai chúng ta, tiếc rằng nay ta đã bị xóa hoàn toàn ký ức đó.”

“Nhiều học giả Việt Nam cũng đã gián tiếp thừa nhận đất Việt Nam xưa là đất của người Mã Lai. Năm 1970 nhà văn Bình Nguyên Lộc ở Sài Gòn, Nam Việt Nam, đã viết cuốn sách “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”. Giả thuyết của ông nay đã được thừa nhận rộng rãi. Ông nêu vài ví dụ đơn giản về ngôn ngữ như “mặt trời” chính là cách đọc cổ của “mata hari”, hay “bông hoa” là “bunga”. Thực ra đó là sự nói ngược. Đất Việt Nam vốn là đất Mã Lai. Người Việt Nam ngày nay phần lớn mang máu người Nam Trung Hoa, đồng thời có hòa huyết một chút với người Mã Lai bản địa sau khi đã đồng hóa họ. Trong quá trình đồng hóa người Mã Lai, họ cũng có tiếp thu một số tinh hoa của chúng ta.”

“Một số học giả Việt Nam cũng phát hiện ra nước Lâm Ấp ghi trong sử Trung Hoa là đồng bằng sông Hồng chứ không phải Chiêm Thành, mà có lẽ sử Trung Hoa đã cố tình làm giả. Nhưng chắc họ cũng không ngờ rằng chính Việt Nam có thể đã xóa dấu vết Mã Lai trong sử của họ. Người Trung Hoa ở miền Nam Trung Quốc bị người từ phương Bắc đến đồng hóa, thì đến lượt người Mã Lai chúng ta đã bị người Nam Trung Hoa, tức là người Việt Nam ngày nay, đồng hóa.”

“Các bằng chứng khảo cổ gần đây cho thấy sọ người Đông Sơn gần với người Mã Lai hiện đại hơn là người Việt Nam hiện đại. Bạn có thể phân biệt ngưòi Việt Nam và người Hoa ngày nay không? Khó lắm, vì họ gần như cùng một gốc. Nhưng nếu nhìn xem những bức ảnh chụp Việt Nam vào thế kỷ 19 (chẳng hạn hình người Pháp tiêm ngừa cho dân thiểu số ở Sài Gòn), thì ta thấy lúc đó vẫn còn nhiều người Mã Lai cổ còn sót lại. Bạn có thể xem thông tin thêm về phục chế sọ người Đông Sơn ở đây: https://www.facebook.com/photo/?fbid=1978424645682736&set=gm.411183133874614

“Một trong những thành tựu văn hóa cổ nổi bật nhất ở đồng bằng sông Hồng là trống đồng Đông Sơn. Nếu nhìn vào những nhà sàn vút cong vẽ trên mặt trống, bạn có thể dễ dàng nhận ra đó là nhà sàn Mã Lai. Ngày nay ta cũng đào được nhiều trống đồng tương tự ở Malaysia, mà trước đây tưởng là của người Việt Nam, nhưng thực ra là do tổ tiên ta còn giữ lại được sau khi bị đánh đuổi. Những mái nhà cong đó không hề có trong văn hóa người Việt, nhưng vẫn còn thấy vài khu vực của người Ê Đê, những người còn sót lại nhờ trốn lên núi cao để tránh bị đồng hóa. Xem thêm: https://www.facebook.com/groups/246103143715948/permalink/345682547091340/

“Người Mã Lai từng có một vương triều phát triển rực rỡ ở đất Việt Nam, gọi là Phù Nam, còn gọi là vương quốc Cau. Tiếc rằng sau đó ta đã bị đồng hóa và lùi dần về bán đảo Mã Lai ngày nay, còn Phù Nam chỉ còn là dĩ vãng mờ nhạt tại đảo Pinang (đảo Cau). Sách giáo khoa của ta ngày nay chỉ nói về những vương triều thống nhất tại Mã Lai bắt đầu từ TK 13. Có lẽ đã đến lúc phải viết lại SGK. Vào thế kỷ thứ 2, ngưòi Nam Đảo chúng ta, vốn đã hoạt động giao thương biển từ thượng cổ, đã mở ra nhiều cảng biển ở khu vực Giao Chỉ ngày nay, và tại khu vực Óc Eo , Hà Tiên ở miền Nam Việt Nam ngày nay. Có nhiều tài liệu cổ La Mã khẳng định điều đó, xem https://www.facebook.com/photo/?fbid=1882287821963086&set=gm.336709854655276.”

“Bạn có biết Kinh Dịch không? Nó là cơ sở của mọi lý thuyết triết học Trung Hoa. Nhưng các nghiên cứu gần đây từ Việt Nam cho thấy nó được sáng tạo bởi người Bách Việt. Mà người Bách Việt theo mô tả của sách Trung Hoa xưa, cũng như theo khảo cổ sọ người ở Đông Sơn, thì chính là người Mã Lai chúng ta. Một di sản văn hóa khác, 12 con giáp, vốn là cơ sở cho lễ hội, chiêm tinh, bói toán,… cũng là phát kiến của người Mã Lai. Tưởng rằng ta đã bị mất hoàn toàn ký ức đó, nhưng gần đây ta đã phát hiện bản gốc của 12 con giáp, cũng như sơ đồ bát quái sơ khai tại Malaysia (xem hình). Bạn có thể tìm hiều thêm vấn đề này tại https://www.facebook.com/groups/246103143715948/permalink/352291193097142/

“Những truyền thuyết mà ngưòi Việt Nam đang gắn vào sử của mình, cũng chính là Mã Lai. Chúng ta có những câu truyện cổ theo mô tip đẻ đất đẻ nước, mà nay được người Việt/Mân tiếp thu thành lịch sử chính thống của họ, gọi là truyện trăm trứng trăm con.”

“Dĩ nhiên lịch sử các quốc gia hiện đại chỉ thừa nhận về hành chính chứ không phải theo dân tộc. Người Mỹ không bao giờ xem lịch sử Anh Quốc là lịch sử của họ, kể cả đó là đất tổ tiên của họ. Những gì đã diễn ra trên đất Trung Hoa thì là thuộc về lịch sử Trung Hoa, hay có thể nói là thuộc về những người Trung Hoa đã bị đồng hóa. Tương tự vậy những gì trên đất Việt Nam là lịch sử của Việt Nam. Nhưng dù sao những phát hiện mới này vẫn cho chúng ta lòng tự hào về lịch sử và văn hóa lâu đời của dân tộc mình.”

“Ngày 1/4/2022

Mohamed Mahathir”

Qua đó, ace thấy rằng: Vấn đề Kinh Dịch – và với tôi luôn cả thuyết ADNh – đều thuộc về nền văn hiến Việt. Điều này, đã thành một sự kiện quốc tế của nhiều lĩnh vực> Lịch sử; Triết học và vần đề chủ thể nền tảng tri thức của nền văn minh cổ Đông phương. Những rất rõ ràng> Các học giả Trung Quốc đã im lặng trên thực tế. Họ gần như không phản ứng. Không chỉ giới hạn ở đấy. Có thể nói, các học giả quốc tế ngoài Trung Quốc, cũng gần như không có ai lên tiếng. Vấn đề được đặt ra:
Đây là một vấn đề lớn, không dễ gì phản bác. Bởi vì, như tôi đã nói: Đây là kiến thức của một nền văn minh khác. Nằm ngoài nền tảng tri thức của cái vòng tròn giới hạn của nền tảng tri thức của nền văn minh chúng ta. Những di sản còn lại chỉ là những phương pháp ứng dụng. Nó không phải là cơ sở tri thức của nền văn minh đã tạo ra các phương pháp ứng dụng này.
Anh chị em hãy suy ngẫm> Một bà ve chai trúng mánh, vẫn có thể sở hữu một công cụ ứng dụng tiên tiến nhất của nền văn minh hiện nay, là cái điện thoại thông minh đời mới nhất. Nhưng điều đó không có nghĩa bà ve chai này, hiểu biết bản chất nền tảng tri thức của nền văn minh để tạo ra cái DT thông minh này. Từ đó, anh chị em sẽ dễ dàng suy ra: các thày bói đầu đình xó chợ, các thày Địa Lý, Tử Vi…cũng chỉ là những người sử dụng công cụ. Và điều đó không có nghĩa rằng: Họ biết sử dụng công cụ là những phương pháp ứng dụng, thì có nghĩa là họ hiểu biết bản chất của nền tảng trí thức đã tạo ra nó. Sai, Tất cả các loại thầy bà có thể rất giỏi trong chuyên môn của mình> Nhưng cũng chỉ như bà ve chai, cho đến Viện Sĩ Viện Hàn lâm dùng DT Thông minh thôi. Và đó chính là một trong những yếu tố quan trong, để nền văn minh Đông phương cổ huyền bí đến tận ngày hôm nay. Vấn đề tiếp tục được đặt ra:
Trong 5 Hậu Thiên phi văn Vương> Căn cứ vào đầu, để xác định đúng sai?
Xin lỗi, cái nền tảng tri thức của nền văn minh này, đang bị  giới hạn trong trong vòng tròn Kim Cô của Godel, nên nó chưa đủ trình độ để xác định Hậu Thiên nào đúng nào đúng?! Ngay cả bài viết của ông Mohamed Mahathir,cũng chỉ nói chung là các học giả Việt, đã chứng minh Kinh Dịch là của Việt Nam, nhưng của ai mới được> Khi xác định và thừa nhận rằng:
Các học giả Việt đã chứng minh rất thuyết phục “Kinh Dịch” là của Việt Nam. Nhưng lại không nói cụ thể là ai đúng. Nhân tiện một học viên trong lớp – Nick Tâm An –  ảo tưởng  có thể chứng minh dễ ợt, khi đưa ra mô hình Hậu Tiên của anh ấy> và xác định với tôi, là> Anh ta cũng muốn đi tím chân lý. Tôi rất hoan nghênh tất cả nhửng ý tưởng đi tìm chân lý, Nhưng đã theo học tôi, thì tất cả những ý tưởng gọi là đi tìm chân lý, mà đưa ra một mô hình khác với “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”> Chứng tỏ rằng: Không hề hiểu biết bản chất của vấn đề> Thế thì theo học làm gì? Vừa tốn cơm, vừa tốn sức của tôi. Tôi yêu cầu anh ta công khai mô hình này trên Fb. Đã tự tin mô hình Hậu Thiên của anh ta đi tìm chân lý, thì phải công khai chứ nhỉ? Chỉ công bố riêng trong lớp có mục đích gì? Tôi khẳng định: Nếu anh ta không dám công khai, tôi dẹp luôn khóa DLLV. Tóm lại, tôi buộc anh ta phải công khai. Tất nhiên> vì tính chính danh của anh ta> Đi tìm chấn lý, nên anh ta đã công khai mô hình Hậu Thiên của anh ấy, theo đề nghị của tôi> Tôi cũng nói thẳng luôn> Với tôi> tất cả các sáng tạo đi tìm chân lý của các kiểu Hậu Thiên đều sai! Và thời hạn im lặng của tôi đã hết hạn sử dụng? Tôi cho đi hết các thể loại Hậu Thiên với một kết luận không thể ngắn gọn hơn> Đó là:
Một mô hình biểu kiến được coi là đúng – troong trường hợp đối với mô hình Bát quái Hậu Thiên – thì nó phải tiếp tục giải thích tất cả những vấn đề liên quan đến Lý học Đông phương> Như Địa Lý Lạc Việt, Tử Vi, bốc dịch….Chứ không thể chỉ dừng lại ở việc tạo ra một mô hình Hậu Thiên, ngớ ngẩn nào đó, rồi gọi nó là “một khám phá” mới. Ở đây> Chỉ có Hậu Thiên Lạc Việt là được điều này. Không chỉ dứng lại ở đấy. Mà nó còn đủ tư cách để phục hồi lại tất cả những giá trị tri thức nền tảng của thuyết ADNh, mà còn giải thích mở rộng ra toàn bộ sự vận đông của vũ trụ từ giây 0 cho đến mọi vấn đề liên quan đến nó.

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

TÔI VẪN ỦNG HỘ THUYẾT  TIẾN HÓA.
BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

https://www.facebook.com/108648414984677/videos/301492485228682

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

GIẢI MÃ NGÀY MÙNG 5 THÁNG 5 TRONG DI SẢN VĂN HIẾN VIỆT.

Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

Kính thưa quí vị và anh chị em quan tâm .

Ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm là một ngày lễ hội truyền thống không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước Đông phương khác là Triều Tiên và Trung Quốc . Đã có nhiều bài viết nghiên cứu về ngày 5 – 5 của nhiều tác giả. Thiên Sứ tôi cũng đã có bài viết về để tài này từ 2004 trên tuvilyso.com và trên ktcn.net. Hôm nay, nhân dịp có một người bạn hỏi về nguồn gốc của ngày này, nên tôi xin được trình bày lại ý nghĩa đích thực của ngày Tết Đoan Ngọ 5 – 5, trong di sản văn hiến Việt .

Tết Đoan Ngọ tồn tại từ lâu trong văn hoá dân gian Đông Phương và có một ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt văn hoá của một số nước Đông phương. Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương.  Ngày này cũng còn gọi là ngày giết sâu bọ. Vì người ta tin rằng: Khi ăn món ăn đầu tiên trong ngày này thì sâu bọ; giun sán trong người sẽ bị chết hết.

Truyền thuyết về lịch sử ngày mùng 5 tháng năm thì lưu truyền rằng:

Một truyền thuyết thứ hai nữa là:

Khuất Nguyên là một vị trung thần nước Sở, ông còn là một nhà văn hoá nổi tiếng với bài Ly Tao và Sở Từ, thể hiện tâm trạng buồn về sự suy vong với họạ mất nước. Can vua không được, ông tự tử trên dòng sông Mịch La. Dân chúng trọng nghĩa ra sông tưởng nhớ anh linh của ông, cúng rất nhiều sản vật. Ngày đó, theo truyền thuyết là ngày mùng 5 tháng 5.

Như vậy, theo truyền thuyết trên thì ngày 5 – 5 có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa.

Nhưng điều đáng lưu ý là – Hàn Quốc cũng coi ngày 5 – 5 là ngày lễ theo truyền thống văn hoá của họ . Trong bài báo “Đừng đối đãi với di sản văn hoá như bánh mì” đăng trên báo Tuổi Trẻ trang 16, ngày 22 tháng 6 năm 2004, đã đưa tin:

“Hàn Quốc đề nghị Liên Hiệp Quốc công nhận tết Đoan Ngọ vào ngày 5 tháng 5 là “di sản văn hoá phi vật thể” của Hàn Quốc”.

Bài báo cũng cho biết có nhiều tờ báo Trung Quốc xem đó là việc làm xâm phạm văn hoá, nhiều hoc sinh thành phố Nhạc Dương (Hồ Nam) ký tên bảo vệ tết Đoan Ngọ. Nhiều người Trung Quốc kiến nghị chính quyền đăng ký bản quyền di sản văn hoá… Bài báo có đoạn viết:

“Dẫu mọi việc chẳng có gì để ầm ĩ; nhưng nhân vụ việc này người Trung Quốc mới thấy giá trị của văn hoá dân gian.”

Nhưng trong văn hoá Việt thì ngày mùng 5 tháng năm lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Trong dân gian đã lưu truyền câu ca dao:

“Tháng Năm ngày tết Đoan Dương.

Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang”.

Như vậy, theo di sản văn hóa truyền thống Việt thì đây là một ngày tết có nguồn gốc từ văn hoá Việt. Nhưng tại sao ngày mùng 5 tháng 5 lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ? Điều này có liên hệ gì với ngày 10 tháng 3 lại là ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương của giống nòi Lạc Việt?

Là những người nghiên cứu nguyên lý học thuật cổ Đông Phương, chắc chúng ta đều biết đến đồ hình Hà Đồ. Có lẽ ai cũng biết rằng trung tâm Hà Đồ là ngôi Hoàng Cực biểu tượng của sự thống trị tối cao; tức quyền uy của nhà vua. Trung tâm Hà Đồ có độ số 5 thuộc Dương và 10 thuộc Âm. Phần trung tâm Hà Đồ được miêu tả như sau:

ĐỒ HÌNH HÀ ĐỒ

Posted Image

Chúng ta cũng biết rằng: Trong nguyên lý Âm Dương thì Dương có trước và Âm có sau. Dương là giá trị trừu tượng, Âm là giá trị hiện hữu. Như vậy, tháng có trước thuộc Dương và ngày có sau thuộc Âm (Ngày là con của tháng). Ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương (Giỗ Cha) được chọn là ngày 10 tháng 3 vì:

Tháng 3 là tháng Thìn/ Rồng biểu tượng của Vương quyền chính là tháng thứ 5 kể từ tháng Tý (Lịch Kiến Tý). Đó chính là biểu tượng của 5 vòng tròn trắng ở trung tâm Hà Đồ thuộc Dương (Tháng có trước thuộc Dương). Ngày là con của tháng thuộc Âm, nên chọn ngày mùng 10. Đó đó chính là biểu tượng của 10 vòng tròn đen thuộc Âm trên Hà đồ.

Xin xem hình minh hoạ dưới đây:

TRUNG CUNG HÀ ĐỒ VỚI ĐỘ SỐ DƯƠNG 5 VÀ ÂM 1O

Posted Image

Cũng trên nguyên lý độ số Âm của Hà Đồ là sự hiện hữu, nên chọn là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Ngày mùng 5 tháng 5 chính là biểu tượng của hai dãy mỗi dẫy 5 vòng tròn đen ở trung tâm Hà Đồ (Xin xem lại hình trên) . Chúng ta cũng lưu ý rằng: Ngày mùng 5 / 5 là ngày rất gần tiết Hạ Chí, tức là ngày nóng nhất trong năm theo thực tế thời tiết; hay nói theo thuyết Âm Dương Ngũ hành: Là ngày cực Dương thuộc Hoả khí (Trong Hậu Thiên Lạc Việt, Ly Hoả thay thế vị trí Càn trong Tiên Thiên). Bởi vậy, lấy số ngày và tháng cực Âm về biểu tượng là mùng 5 / 5 (Cân bằng Âm Dương). Vì là ngày cực Âm nên biểu tượng bằng ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. (Cha thuộc Dương / Mẹ thuộc Âm).

Như vậy, nền văn hiến Lạc Việt qua ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương và Quốc Mẫu Âu Cơ, đã giải thích nguyên uỷ hai ngày này bằng chính nền tảng của nguyên lý học thuật cổ Đông phương, chứ không phải bằng những truyền thuyết mơ hồ nói trên.

Đây là một yếu tố sắc sảo nữa chứng minh rằng: Nguồn gốc của văn minh Đông phương thuộc về nền văn minh Lạc Việt một thời huy hoàng kỳ vĩ từ hàng ngàn năm trước ở miền nam sông Dương Tử. Nền văn minh này đã sụp đổ từ thế kỷ thứ III trước CN, nhưng dấu ấn của nó vẫn còn lưu giữ trong những giá trị văn hóa truyền thống ở nhiều quốc gia liên quan đến nền văn minh này.

Kính thưa quí vị quan tâm.

Những giá trị của thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự nhận thức những thực tại của con người làm nên nó, là hệ quả tổng hợp của cả một nền văn minh phát triển tích lũy và kế thừa trong quá trình tiến hóa của nó, trải nhiều ngàn năm. Bởi vậy, khi một nền văn minh tạo ra nó đã sụp đổ thì sẽ kéo theo tất cả những mối quan hệ tri thức và hạ tầng cơ sở vật chất liên quan đến tinh hoa tri thức mà nó tạo ra. Do đó, để hiểu được bản chất những giá trị tinh hoa của nền văn minh này – Thuyết Âm Dương Ngũ hành – không thể là một tư duy dễ dãi, mà phải là sự tổng hợp những gì còn sót lại của nó và biết được một thực tại nào là cơ sở nhận thức đã tạo ra nó. Nền văn minh Lạc Việt với những dấu ấn còn lại trong những giá trị văn hóa truyền thống, có rất nhiều hiện tượng phù hợp với những giá trị nguyên lý của học thuyết này, mà không một nền văn hóa gần gũi nào liên quan có thể có được. Bởi vậy, những giá trị văn hóa phi vật vật thể chính là một bằng chứng rất rõ nét chứng minh cho cội nguồn văn hóa Việt là nền tảng của giá trị văn minh Đông phương cổ.

Cảm ơn sự quan tâm của quí vị!

Thiên Sứ”

 

Edited 8 Tháng 6, 2008 by Phoenix

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

HÌNH TƯỢNG HUYỀN THIÊN TRẤN VŨ – ĐỀN QUAN THÁNH HANOI.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.
THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.

 

Mặc dù được tháp tùng Sư phụ đi tham quan nhiều chùa, đình, miếu và được Sư phụ giảng nhiều nhưng đối với đền này có nhiều cái khác lạ và đặc trưng và có nhiều chi tiết và liên kết các thứ đó với nhau như thế nào con chưa hiểu nên con đưa câu hỏi về đây mong được Sư phụ giảng giải giúp để anh chị em cùng học luôn ạ.

Con cám ơn Sư phụ nhiều nhiều ạ.

THƯA QUÝ VỊ VÀ CAC BẠN
https://vnexpress.net/chuyen-it-biet-ve-pho-tuong-than-tran-vu-3355544.html
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

NGÔN NGỮ VIỆT VÀ THƠ ĐƯỜNG.

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Từ 500 năm trước, trong một cuộc hội thảo khoa học về Kinh Dịch tại Hanoi, lão Gàn lớn tiếng phát biểu:
– Tiếng Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong lịch sử văn minh nhân loại.
Cử tọa, toàn là giáo sư tiến sĩ, đủ các kiểu cười ồ! Tất nhiên, lão biết trước điều này. Nhưng vì nói chuyện với toàn những nhà khoa học, nên lão rất tin rằng họ sẽ định tâm hơn, so với số đông dân làng Fb Vũ Đại, gần đủ các thành phần> Chí Phèo Bá Kiến…Nên lão dõng dạc nói tiếp với một trong những luận cứ căn bản, để chứng minh:
– Thưa quý vị. Bằng chứng đây: Tiếng Việt có thể dịch bất cứ ngôn ngữ nào ra tiếng Việt một cách hoàn chỉnh. Nhưng ngược lại, không phải bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng dịch được tiếng Việt ra ngôn ngữ của họ.
Cử tọa im lặng. Ngay cả ông Nguyễn Khắc Viện, dịch chuyện Kiều ra tiếng Pháp – là ngôn ngữ thứ 2 của ông. Bản dịch cũng rất khó khăn. Và nó không còn hồn thơ huyền vĩ của truyện Kiều từ ngôn ngữ Việt.
Trong khóa MHVD, tôi cũng chứng minh và xác định với anh chị em học viên là: Một trong ba yếu tố quyết định sự phát triên, để hình thánh một học thuyết, là: “Phải có một nền tảng ngôn ngữ tương ứng để mô tả được nó” (Hai yếu tố còn lại, là: 1/ Nền tảng trí thức của nền văn minh; 2/ Sự phát triển của phương pháp tư duy tổng hợp trừu tượng). Từ đó, xác định rằng:
Chỉ có ngôn ngữ VIỆT, mới đủ đẳng cấp để mô tả một hệ thống LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT.
Thưa quý vị và các bạn.
Bài thơ có gốc là phương pháp thơ Đường Luật – mà tôi hân hạnh giới thiệu với quý vị và các bạn dưới đây – một lần nữa làm sáng tỏ luận điểm của tôi> Không thể dịch ra bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào mà giữ được hai yếu tố: Chất thơ và sự huyền vĩ của ngôn ngữ.
Thưa quý vị và các bạn.
Từ rất lâu, tôi đã xác định rằng: THƠ ĐƯỜNG và phương pháp thể hiện > Không phải có xuất xứ từ đời nhà Đường bên Tàu. Mà nó có nguồn gốc chính từ nền văn hiến Việt vào đời Đường Ngu của nền văn hiến Việt, dưới sự trị vì của các vua Hùng với đất nước Văn Lang. Sự Hán hóa đến gần 1000 năm sau, vào đời nhà Đường bên Tàu, các thi nhân gốc Việt mới tìm cách chuyển thể sang tiếng Hán và chữ Hán. nhưng họ không thành công. Thơ thể thất ngôn, bát cú
bằng ngôn ngữ Hán, rất hiếm. Gần như không đạt chuẩn thơ Đường.
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán.
Thi tự Thẩm Miên, lạt Thịnh Đường.
Hoàng đế Tự Đức.
Nếu có ai đó phát biểu rằng:
Thời Nghiêu Thuấn (Tức Đường Ngu) tất cả các văn bản còn lại bằng tiếng Tàu, đều nói thuộc về sử Tàu. Ông Thiên Sứ Gàn náy nói láo! Xin lỗi! Tôi delete ngay vì sự ngu xuẩn trong phương pháp nghiên cứu, mà không cần chứng minh phương pháp đó ngu như thế nào…
Văn hiến thiên niên quốc.
Xa thư vạn lý đồ.
Hồng Bàng khai tịch hậu.
Nam phục nhất Đường Ngu.
Bài thơ trong điện Thái Hòa Kinh thành Huế.
MỘT BÀI THƠ KỲ LẠ
Tiếng Việt của chúng ta thật tuyệt vời !
Phải nói là bái phục bài thơ lạ kỳ này. Bài thơ được chia sẻ từ nhà nghiên cứu Dân tộc học và Việt học Đinh Trọng Hiếu ở Paris đăng trên “Khuôn Mặt Văn Nghệ”.
Không biết tác giả là ai, nhưng khi đọc bài thơ này ta vô cùng khâm phục tác giả của bài thơ, càng thêm yêu quý và càng phải giữ gìn vẻ đẹp của tiếng Việt.
Bây giờ ta hãy chiêm ngưỡng vẻ độc đáo của bài thơ này :
1. Bài thơ gốc:
Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.
2. Đọc ngược bài gốc từ dưới lên :
Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.
3. Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
(Sẽ có một bài ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng) :
Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.
4. Bỏ 2 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta sẽ được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng) :
Mắt ai bóng thướt tha
Đàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.
5. Bỏ 3 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc :
Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.
6. Bỏ 3 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta đọc ngược từ dưới lên :
Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.
7. Bỏ 4 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc :
Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Đàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.
8. Bỏ 4 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, ngược từ dưới lên :
Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta ./.
(Khuyết danh)
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi