CAO KHÚC BẤT NHƯ QUẢNG HỌA.

Câu chuyện dưới đây, có nội dung tương tự như Bá Nha Tử Kỳ, nguồn gốc của câu thành ngữ “Tri âm, tri kỷ”. Dịch viết: “Tiếng Hạc cao trên chín tầng mây, tiếng không vọng xuống mặt đất”, Hay như Nữ Si Ngân Giang viết:
“Truyện không hợp ý cười thêm gượng.
Đời thiếu tri âm, sống cũng thừa”.
Khi tiếng đàn đạt tới đỉnh cao, người nghệ sĩ sẽ chỉ còn độc tấu một mình mình nghe. Vì không còn ai có thể ngang bằng mà họa theo đàn. Đây cũng chính là bi kịch lãng mạn và đỉnh cao chót vót của câu “Truyện tình Trương Chi”.
Tiếng sáo Trương Chi đâu phải chỉ mình công chúa Mỵ Nương nghe được. Nhưng đồng điệu với tiếng sáo Trương Chi chỉ có một Mỵ Nương thấu hiểu. Nàng yêu tiếng sáo đến phát bệnh. Trương Chi tìm được người tri âm. Nhưng không thể chung sống, gần gũi vì người hiểu minh lại là một Mỵ Nương, chứ không phải là Lang, là Hoàng tử. Hai thân xác không thể hòa nhập, vì chàng quá xấu. (Chứ không phải vì”tính giai cấp”, như những kẻ dốt nát trên thế gian nhìn nhận).
Đời thiếu tri âm, sống cũng thừa” Trương Chi tự sát. Nhưng trái tim khắc khoải đi tìm tri âm của Trương Chi, đã hóa đá như thách thức với thiên thu, để đợi chờ sự đồng điệu của tâm hồn Mỵ Nương. Nàng khóc, khi nghe lại tiếng sáo Trương Chi. Nước mắt rời vào chén ngọc. Tâm hồn Trương Chi tưởng như hóa đá với Thiên Thu, tan đi thỏa mãn với sự tri âm đồng điệu của Mỹ Nương, cho dù Âm Dương cách biệt.
Một triết lý nhân sinh tuyệt vời của câu chuyện Việt, vượt thời gian. Con người vốn cô đơn. Và cô đơn hơn khi đạt tới một đỉnh cao mà không thể chia sẻ. Sự cô đơn tận cùng của Trương Chi chính là hình ảnh đầy chất nhân bản của câu truyện này, khi so sánh với tình người trên thế gian. Trong hàng vạn năm luyến ái của con người, câu truyện tình Trương Chi trong văn hiến Việt, là câu chuyện vượt thời gian, không thể so sánh với những câu truyện tình  khác của văn chương nhân loại. Câu truyện nhắc nhở với tha nhân:
“Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người”.
Văn Cao.
“Chàng ơi! Điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch…Ngôi Trời bóng lẻ soi.
Ngân Giang Nữ Sĩ.
“Ta về giữa cõi vô thường.
Đào trong kỷ niệm, tìm hương cuối mùa”.
Thiên Sứ.
TRI KỶ….
Ngày xưa có một phú ông rất thích trà, phàm là người đến nhà dùng trà, dù là người nghèo hay giàu thì ông đều sẽ sai gia nhân chiêu đãi.
Một hôm, có một tên ăn mày rách rưới đứng trước cửa, không xin cơm, chỉ xin bát trà. Gia nhân cho hắn vào nhà, đun trà cho hắn. Tên ăn mày nhìn nhìn rồi nói: “Trà không ngon”. Gia nhân nhìn hắn lấy làm lạ, rồi cũng đổi một bát trà khác ngon hơn.
Tên ăn mày ngửi ngửi, nói: “Trà này ngon, nhưng nước vẫn chưa được, phải dùng nước suối trong.” Gia nhân ngạc nhiên nhìn hắn, liền vội đi lấy nước suối cất trữ từ sáng sớm ra để pha trà.
Tên ăn mày nhấp thử một ngụm, nói: “Nước rất tốt, nhưng củi sao trà không được, củi phải dùng củi sau danh sơn. Bởi vì củi phía đón nắng của núi chất củi xốp, còn sau danh sơn kia chất củi chắc cứng.”
Gia nhân thấy người này không hề tầm thường, rất tinh thông trà đạo, liền dùng loại củi tốt đun nước pha lại trà, rồi mời lão gia ra tiếp.
Sau khi trà được mang lên, phú ông và tên ăn mày đối ẩm một bát. Tên ăn mày nói: “Ừm, bát trà lần này, nước, củi, lửa đều tốt, chỉ có ấm pha trà không ổn”. Phú ông nói: “Đây là chiếc ấm tốt nhất của ta”.
Tên ăn mày lắc đầu, cẩn thận lấy từ trong tay áo ra một ấm trà bằng đất tử sa đen bóng cao trà, đưa gia nhân pha lại trà. Phú ông vừa nhấp thử, kinh ngạc trước mùi vị ngào ngạt, mê hoặc của trà, lập tức chắp tay thi lễ: “Kính nể, ta xin mua lại chiếc ấm này. Lão cho giá đi, bao nhiêu cũng được”.
Gã ăn mày nhất định không bán, dứt khoát trả lời: “Không được, chiếc ấm này là cuộc sống của ta, ta không thể bán” rồi vội vàng rót trà ra, cất lại chiếc ấm, vội vàng bước đi
Phú ông ngăn lại, nói: “Ta đổi một nửa gia sản để lấy chiếc ấm của ngươi” Tên ăn mày vẫn bước tiếp. Phú ông nôn nóng: “Ta xin đổi toàn bộ tài sản để lấy chiếc ấm của ngươi.” Tên ăn mày nghe vậy, mỉm cười nói: “Nếu không phải tôi tiếc chiếc ấm này thì cũng không lâm vào bước đường như hôm nay.” Nói xong quay mặt bỏ đi.
Phú ông sốt ruột: “Như vầy đi, ấm là của ngươi, ngươi hãy ở lại nhà ta , ta ăn gì ngươi ăn đó, nhưng có một điều kiện, chính là ngày nào cũng phải cho ta nhìn chiếc ấm, thế nào?”. Giật mình trước lời đề nghị, lão nhíu mày: cũng vì miếng ăn qua ngày mà túng quẫn, chuyện tốt như vậy sao lại không nhỉ?
Vậy là hắn ở lại. Ngày qua ngày tên ăn mày ăn cùng ở cùng phú ông, ngày ngày cùng nâng niu chiếc ấm trà, chia sẻ với nhau tâm tư, thưởng trà ẩm rượu vô cùng ăn ý. Cứ thế hơn mười năm qua đi, hai người trở thành hai lão già tri kỷ thấu hiểu nhau.
– Thời gian trôi mau, phú ông và tên ăn mày cũng ngày càng già đi. Một hôm phú ông nói: “Ông già hơn tôi, không có con cháu nối dõi, không có ai thừa kế chiếc ấm trà, chi bằng một mai, khi ông khuất núi, để tôi giúp ông bảo quản, ông thấy thế nào?” Lão ăn mày rưng rưng đồng ý.
Không lâu sau, lão ăn mày thanh thản ra đi, phú ông thỏa ao ước có được chiếc ấm tử sa. Lúc đầu, ông chìm trong cảm giác vui sướng, cho đến một ngày, lúc phú ông đang ngắm nghía trên dưới trước sau chiếc ấm, đột nhiên cảm thấy bản thân như thiếu thứ gì đó, cảm thấy lẻ loi. Lúc này trước mắt ông hiện lên hình ảnh ngày trước cùng lão ăn mày vui vẻ thưởng trà. Chợt hiểu, lão lạnh lùng ném mạnh chiếc ấm xuống đất…
SUY NGHIỆM :
Theo dòng thời gian, có rất nhiều thứ đổi thay, tình nghĩa giữa lão và tên ăn mày đã vượt qua cái giá trị ban đầu của ấm trà, thứ dù có tốt đến đâu nếu không có ai cùng thưởng thức thì cũng mất đi ý nghĩa của nó, thứ đáng giá đến đâu cũng không đáng giá bằng tri kỷ.
Trong cuộc sống có được một người bạn tri kỷ là quá đủ! Đây là điều mà bao người từng trải đúc kết được! Tình tri kỷ, như một thứ ấm áp không lời, một sự đồng hành vô hình.
Tri kỷ thật sự, là hiểu, là thân thiết, là đồng điệu. Giống như một chén trà xanh, chan chát mà thấm vào tận trong tim. Có những khi chỉ cần một cái ôm, một ánh mắt, là hiểu tất cả mà không cần dùng đến lời nói; có những khi chỉ cần một đoạn tin nhắn là có thể cảm động mãi sau này.
Tri kỷ, không cần che đậy, cũng không cần giải thích, tự nó đã hiểu, tự nó cảm nhận. Không cần dốc hết sức, cũng không cần chuẩn bị, tự nó sẽ đem đến niềm vui, tự nó sẽ như ý thơ. Không tác động vào thế giới mỗi người, chỉ đồng hành trong tâm hồn; không trở ngại cuộc sống mỗi người, chỉ mang cùng tiếng nói tâm hồn.
(Copy từ FB Tôn Nữ Mai Hoa )
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

SỰ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ TRẮNG TRỢN VỚI ÂM MƯU THÂM ĐỘC.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.
THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Trong chính sử của các triều đại phong kiến Việt Nam, ghi rất rõ:
Nước Văn Lang lập quốc năm Nhâm Tuất, Năm thứ 8 vận 7 Hội Ngọ (Tức năm 2879 trc CN); gồm 15 bộ, phía Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn; Tây giáp Ba Thục và Đông giáp Đông Hải. Nước Văn Lang dưới thời trị vì của các Vua Hùng truyền được 18 Thời Đại và kết thúc vào năm 257 Trc CN.
Đây là bản văn của chính sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Không hể mơ hồ như truyền thuyết và huyền thoại, để có thể hoài nghi như bọn bần tiện và mạt hạng phủ nhận cội nguồn Việt sử rêu rao.  Sử Ký Tư Mã Thiên ghi rõ: Nam Dương Tử là nơi Bách Việt ở. Dân Việt ở Nam Dương Tử còn gọi là Bách Việt, hay Lạc Việt. Thủy Kinh Chú viết:
Vua còn gọi là Lạc Vương, dân là Lạc Dân và ruộng gọi là Lạc điền. Giúp việc cho vua “Lạc Vương” – Tức Hùng Vương – còn có Lạc Hầu, Lạc Tướng, Bồ chính, con trai gọi là Lang, con gái là Mị Nương.
Các nhà sử học kể cả Trung Quốc – có hẳn một Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt – những di sản văn minh Lạc Việt từ lâu, đã xác định một nền văn minh ở Nam Dương tử, mà họ gọi là “nước Ba”. Gần đây hơn, họ đã phát hiện nhiều di chỉ khảo cổ – đặ biệt ở Tam Tinh Đôi –  khiến cho chính các nhà nghiên cứu lịch sử trung Quốc , phải xác định: Lịch sử Trung Quốc phải viết lị.
Quý vị và các bạn có thể đọc bài theo các đường link dươi đây; hoặc lên Google gõ từ khó ‘di chỉ Tam Tinh Đôi’ để tham khảo.
https://dkn.news/van-hoa/lich-su-can-viet-lai-di-chi-tam-tinh-doi-day-len-tranh-luan-ve-nguon-goc-van-minh-nhan-loai.html
Đặc biệt, một pho tượng nổi tiếng tìm được trong di chỉ này là một người mặc áo cài vạt bên trái.
Quý vị và các bạn xem hình dưới đây:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thưa quý vị và các bạn.
Tôi đã chứng minh rằng: Toàn bộ các dân tộc dưới sự trị vì của các thế hệ thuộc triều đại Hùng Vương, người Nam đều cài áo bên trái.
Cũng chính các nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cũng xác nhận: nền văn minh Hán vào thời nhà Chu – phân loại thuộc cuối thời Chiến Quốc – biên giới chưa vượt quá Nam Dương tử.
Quý vị và các bạn xem hình trích dẫn dưới đây, trong cuốn “Lịch sử Trung Quốc 5000 năm” Tập I, Nxb VHTT 1997.Tác giả Lâm Hán Đạt – Tào Dư Chương, để thấy rõ điều này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Qua hai bản đồ trên, chúng ta thấy rất rõ: Người Han vào thời nhà Chu tính đến năm 221 Trc CN ranh giới thuộc nhà Chu – từ thởi Xuân Thu đến hết thời Chiến Quốc – không vượt quá Nam Dương Tử. Đây là bằng chứng cho thấy các sách cổ thư Tàu, như Sử Ký, Lã Thị Xuân Thu đều xác nhận: Nam Dương Tử là nơi Bách Việt ở. Tức là ít nhất đến 257 Trc CN> Khi nền văn hiến Việt sụp đổ ở Nam Dương Tử thì vẫn thuộc về Văn Lang (Trước khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc là 257 – 221 = 36 năm.
Đây là cơ sở cho luận chứng thứ nhất, nhằm xác định: Nước Văn Lang: Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục. Lập quốc từ năm 2879 Trc CN.

Chúng ta cần xem lại cuộc chiến Tần – Ba Thục trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia và so sánh với những gì truyền thuyết và các bản văn cổ còn lại nói tới.
Trích:

[“Chiến tranh Tần-Ba-Thục.
Chiến tranh Tần-Ba-Thục
(316 TCN) là cuộc chiến tranh diễn ra vào giữa thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc với sự tham gia của bốn quốc gia là Tần, BaThục ().

Hai nước Ba và Thục nằm ở miền đất hẻo lánh phía tây Trung Quốc[1], cách xa với các chư hầuTrung Nguyên, trong khi nước Tần cũng thuộc vùng phía tây nhưng gần với Trung Nguyên hơn. Sau khi thi hành biến pháp Thương Ưởng, thế lực của Tần trở nên lớn mạnh, nhiều lần xảy ra xung đột với Thục, lấn sâu vào biên giới nước Thục, tiến vào khu vực sông Hán Thủy.
Sau khi liên tiếp giành được thắng lợi trước các nước chư hầuTrung Nguyên, nước Tần có kế hoạch tiêu diệt Ba, Thục để mở rộng lãnh thổ.
Năm 316 TCN, hai nước Ba và Thục xảy ra xung đột. Thục vương cử quân đánh chiếm nước Tư, đồng minh của Ba. Tư hầu sai sứ đến nước Ba cầu cứu. Hai bên giao tranh với nhau. Nước Ba cử sứ đến Tần khuyên vua Tần cử binh giúp, trong khi đó vua Thục cũng đến xin cầu cứu. Tần Huệ Văn vương muốn nhân cơ hội đó, xuất quân vào Ba Thục, nhưng ngại đường sá hiểm trở, nhỏ hẹp khó đi, cùng với việc quân nước Hàn đến xâm lấn. Tướng quốc Trương Nghi bàn nên đánh quân Hàn trước, rồi kết thân với Ngụy, Sở, tiến thẳng tới diệt nhà Chu để mượn lệnh của thiên tử ra lệnh cho chư hầu, làm nên nghiệp bá. Song quan tư mã nước TầnTư Mã Thác lại bàn rằng nếu làm theo kế của Nghi thì chỉ mang tiếng là tham lam, chi bằng đem quân đánh diệt Thục, có thể mở đất, lại được tiếng tốt là trừ bạo[2][3].
Vua Tần Huệ Văn nghe theo kế hoạch của Tư Mã Thác, sai Tư Mã Thác, Trương Nghi và Đô úy Mặc tiến quân vào vùng đất Ba Thục, mười tháng sau thì chiếm được cả Ba, Thục lẫn Tư, bắt được vua nước Ba. Nước Thục đành phải đầu hàng, đổi tước hiệu từ vương xuống hầu. Nước Tần cử Trần Trang (người Tần) ở lại Thục làm tướng quốc, nhưng không lâu sau thì phế, đưa công tử Thông làm Thục hầu. cử Trương Nhược làm Thái thú Thục quận và tổ chức di dân ở vùng Quan Trung vào Ba Thục lập nghiệp, xây dựng “Đại thành” và “Thiếu thành” tại Thành Đô.
Với việc tiêu diệt Ba, Thục, lãnh thổ của nước Tần đã được mở rộng đáng kể, tạo được chỗ đứng vững ở phía tây, uy hiếp nước Sở. Thêm nữa, việc chiếm được nguồn tài nguyên của vùng đất Ba Thục cũng giúp nước Tần mau chóng giàu mạnh, phong phú, tiến lên lấn át các chư hầu.
Sau khi liên tiếp giành được thắng lợi trước các nước chư hầuTrung Nguyên, nước Tần có kế hoạch tiêu diệt Ba, Thục để mở rộng lãnh thổ.
Năm 316 TCN, hai nước Ba và Thục xảy ra xung đột. Thục vương cử quân đánh chiếm nước Tư, đồng minh của Ba. Tư hầu sai sứ đến nước Ba cầu cứu. Hai bên giao tranh với nhau. Nước Ba cử sứ đến Tần khuyên vua Tần cử binh giúp, trong khi đó vua Thục cũng đến xin cầu cứu. Tần Huệ Văn vương muốn nhân cơ hội đó, xuất quân vào Ba Thục, nhưng ngại đường sá hiểm trở, nhỏ hẹp khó đi, cùng với việc quân nước Hàn đến xâm lấn. Tướng quốc Trương Nghi bàn nên đánh quân Hàn trước, rồi kết thân với Ngụy, Sở, tiến thẳng tới diệt nhà Chu để mượn lệnh của thiên tử ra lệnh cho chư hầu, làm nên nghiệp bá. Song quan tư mã nước TầnTư Mã Thác lại bàn rằng nếu làm theo kế của Nghi thì chỉ mang tiếng là tham lam, chi bằng đem quân đánh diệt Thục, có thể mở đất, lại được tiếng tốt là trừ bạo[2][3].
Vua Tần Huệ Văn nghe theo kế hoạch của Tư Mã Thác, sai Tư Mã Thác, Trương Nghi và Đô úy Mặc tiến quân vào vùng đất Ba Thục, mười tháng sau thì chiếm được cả Ba, Thục lẫn Tư, bắt được vua nước Ba. Nước Thục đành phải đầu hàng, đổi tước hiệu từ vương xuống hầu. Nước Tần cử Trần Trang (người Tần) ở lại Thục làm tướng quốc, nhưng không lâu sau thì phế, đưa công tử Thông làm Thục hầu. cử Trương Nhược làm Thái thú Thục quận và tổ chức di dân ở vùng Quan Trung vào Ba Thục lập nghiệp, xây dựng “Đại thành” và “Thiếu thành” tại Thành Đô.
Với việc tiêu diệt Ba, Thục, lãnh thổ của nước Tần đã được mở rộng đáng kể, tạo được chỗ đứng vững ở phía tây, uy hiếp nước Sở. Thêm nữa, việc chiếm được nguồn tài nguyên của vùng đất Ba Thục cũng giúp nước Tần mau chóng giàu mạnh, phong phú, tiến lên lấn át các chư hầu”].

Thưa quý vị và các bạn.
Rất rõ ràng – bài viết trên Thư Viện Mở hết sức lộn xộn về mô tả địa danh mà đạo quân Tần tiến đánh. Lúc đầu địa danh là ‘Ba Thục”. Sau là “Thục” > đến đấy có thể châm chế được vì một học dởm nào đó, muốn viết tắt “Ba Thục” > “Thục”. Nhưng đến khi chiến dịch hoàn tất, thì nước Tần được mô tả chiếm tới 3 nước, gồm – quý vị xem lại d9aon5 trích dẫn sau đây:
“mười tháng sau thì chiếm được cả [Ba, Thục lẫn Tư], bắt được vua nước Ba. Nước Thục đành phải đầu hàng, đổi tước hiệu từ vương xuống hầu”.
Với tôi, đây là một dạng vô trách nhiệm khi viết sử. Trong Sử Ký chỉ nói đến vua Tần tấn công nước Ba Thục. Điều này trùng khớp với chính sử của cac triều đại phong kiến Việt Nam khi xác định: “Biên giới nước Văn Lang, phía Tây giáp Ba Thục”. Tất nhiên, không có nước “Ba”, nước “Tư” nào ở đây cả. Tất nhiên, sau hơn 2000 năm lịch sử – tính từ khi Văn Lang lập quốc 2879 trước CN, đến 316 Trc CN – lịch sử quốc gia có thể thay đổi. Nước Ba Thục trước kia, có thể bị tách làm ba nước: Thục/ Ba/ Tư. Nhưng nếu vậy thì phải có chứng minh qua tư liệu lịch sử.
Nhưng đây không phải chủ để chính của bài viết này. nên tôi xin tạm dừng ở đây.
Vấn đề mà tôi muốn trình bày và chia sẻ với quý vị là nội hàm khái niệm “Bách Việt” là gì? Nó có mập mờ theo kiểu: Mân Việt, Điền Việt, Dạ Lang…hay không?

Thưa quý vị và các bạn.
Sự kiện đầu tiên tôi muốn lưu ý quý vị và các bạn, chính là khoảng cách thời gian Tần tấn công Ba Thục – 316 Trc CN – và nền văn minh Văn Lang thuộc thời đại các vua Hùng chấm dứt vào năm 257 TCN. Tức gần tròn 60 năm. Rất nhiều biến cố lịch sử của cả Tàu & Việt trong khoảng thời gian này.
Việt sử và truyền thuyết ghi nhận: Tướng Tần là Đồ Thư đem quân xâm chiếm Văn Lang. Thục Phán là một thủ lĩnh địa phương chống Tần, diệt được tướng Đồ Thư, bảo vệ được đất nước. Sau đó, là một cuộc chiến tranh trong nội bộ giữa Thục Phán và vua Hùng. Cuối cùng, vua Hùng nghe theo lời Đức Thánh Tản Viên, chấp nhận nhường ngôi cho Thực Pháp. Thời đại Hùng Vương chấm dứt vào năm 257 trước CN. Thục Phán lên ngôi trị vì Văn Lang, xưng An Dương Vương và đổi tên nước là Âu Lạc.
Như vậy, trong thời gian 60 năm đó (316 – 258), là thời gian liên quan đến lịch sử nhà Tần – Ba Thục và Văn Lăng.

TƯ LIỆU:

Trận Trường Bình là trận đánh lớn giữa nước Tầnnước Triệu thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc diễn ra từ năm 262 TCN đến năm 260 TCN. Cả hai bên đều thay chủ tướng chỉ huy quân đội và kết quả quân Tần đánh bại quân Triệu, giết hơn 45 vạn quân Triệu. Đây là một trong những chiến thắng quyết định, khẳng định sức mạnh của nước Tần và làm suy yếu nghiêm trọng nước Triệu, mở ra quá trình thống nhất hoàn toàn Trung Quốc của nước này mà sau này Tần Thuỷ Hoàng hoàn thành vào năm 221 TCN.[3]

 

 

***

Mân Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Vương quốc Mân Việt (chữ Hán giản thể: 闽越; chữ Hán phồn thể: 閩越; Bính âm: Mǐnyuè) là một vương quốc cổ đặt tại nơi mà ngày nay là tỉnh Phúc Kiến, miền nam Trung Quốc. Vương quốc này tồn tại từ năm 334 trước Công Nguyên đến 110 trước Công Nguyên, cuối thời Chiến Quốc tới thời Tây Hán, với người dân là người của các bộ tộc Bách Việt. Theo Sử ký, những người sáng lập vương quốc này là thành viên hoàng tộc của một gia đình những người thuộc 1 trong các bộ tộc Bách Việt đã trốn chạy khỏi các cuộc tấn công của nước Sở và nước Tề năm 334 trước Công nguyên.

Mân Việt bị chiếm đóng một phần bởi nhà Hán vào cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Tuy nhiên, do địa hình được bao bọc bởi núi non, nhà Hán không thể hoàn toàn kiểm soát được vùng này. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên thì cháu 7 đời của Vô Cường (vua cuối cùng nước Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc) là Vô Chư vì có công chống Tần nên được Hán Cao Tổ cho phép phục quốc và phong làm Mân Việt Vương. Mân Việt bị thôn tính bởi Nam Việt dưới thời đại Triệu Đà và sau đó, chịu sự cai quản của Nam Việt từ năm 183 đến 135 trước Công Nguyên, cuối cùng bị xâm chiếm bởi nhà Hán năm 110 trước Công Nguyên.

Một thành phố cổ bằng đá trên những dãy núi ở Phúc Kiến được cho là thủ đô của nước Mân Việt, tên là Đông Dã (Dongye- 東冶). Gần đó là các mộ thể hiện truyền thống tang lễ giống với những lăng mộ của nước Việt ở tỉnh Chiết Giang. Do đó, người ta cho rằng, thành phố này chính là trung tâm của nước Mân Việt xưa.

Một phân nhóm dân tộc tên là Huệ An Nữ (tiếng Hoa: 惠安女) tự nhận họ là con cháu của những người Mân Việt xưa. Ngày nay, theo phân loại dân tộc của Trung Quốc, nhóm Huệ An Nữ được xếp làm một nhánh của dân tộc Hán.

 

Bài viết này trên web dangnho.com đã có sự xuyên tạc trắng trợn cội nguồn Việt sử khi cố ý tách Lạc Việt chỉ là một bộ phận của Bách Việt với một sự nhập nhèm mà họ gọi là Mân Việt, Âu Việt, Dạ lang, Điền Việt
https://dangnho.com/kien-thuc/phan-tich-nhan-dinh/nguon-goc-bach-viet-phai-chang-co-den-hang-tram-toc-viet.html?fbclid=IwAR1l7Wkq26HSVY-Xg606Z_vknkietxBOsDwfoO3HPD1Mdlkp4SZnWqepLq4

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

NGŨ HÀNH HAY TỨ HÀNH?

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Một học trò của tôi đã đưa một phản biện khoa học, cho rằng hành Thổ phải có vai trò ngay từ khởi nguyên của vũ trụ. Và việc tôi bác bỏ hành Thổ là sai. Đây là một sự phản biện mang tính học thuật và tôi luôn tôn trọng những phản biện này. Chính vì vậy, tôi công khai đưa lên đên để biện minh.
Tiêu chí khoa học phát biểu rằng:
“Một Lý thuyết hoặc một giả thuyết khoa học bị coi là sai, chỉ cần người ta chỉ ra một mắt xích sai trong toàn bộ hệ thống luận điểm của nó, mà lý thuyết đó không thể biện minh được”.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi có thể né tránh vấn đề hành Thổ trong Ngũ hành. Vì nó chỉ là một tiểu tiết – nói theo ngôn ngữ khoa học thì nó chỉ là một phần tử trong toàn bộ hệ thống lý thuyết thống nhất vũ trụ, hết sức đồ sồ. Và tất nhiên tôi sẽ không bị phản bác. Nhưng như vậy, tôi sẽ không trung thực với chính tôi và với nhận thức chân lý. Trong trường hợp như vậy, thì lý thuyết ADNh &Kinh Dịch sẽ không thể hoàn hảo và tất nhiên, sẽ không thể là một Lý thuyết thống nhất hoàn hảo.
Tất nhiên, sự trung thực với chính mình và với chân lý thì tôi cũng sẽ phải nghĩ tới sự phản biện. Nhưng với tôi chỉ chấp nhận sự phản biện có tính khách quan, trung thực với hiểu biết của mình và có luận cứ. Với những phản biện cực đoan, tôi sẽ delete ngay và không cần lý do.
Dưới đây là sự phản biện của một học trò của tôi và có luận cứ, nên tôi rất trân trọng và biện minh với sự hiểu biết chân lý của tôi.
Trước khi tôi có bài biện minh sự phản biện này, xin quý vị và các bạn hãy đọc toàn bộ bài phản biện của anh Lãng Tử Thiết Phong – Ab Chiến dưới đây:
Trích toàn văn trong ngoặc vuông và ngoặc kép:
*
[“BÀN
V HÀNH TH TRONG NGŨ HÀNH
Thuyết Âm Dương Ngũ Hành, là cơ s lý thuyết nn tng cho toàn b lý hc đông
phương, đây là điu không cn bàn cãi. Tuy nhiên ai là ch nhân đích thc ca nó, ni
hàm và các tiên đ ca nó là đ tài thách thc các hc gi nhiu ngàn năm nay.
Nhà nghiên cu Thiên S Nguyn Vũ Tun Anh (cũng là sư ph ca ngưi viết, sau đây
xin đưc gi là Ngài Thiên S trong tiu lun này), mt nhà nghiên cu li lc vi mc đích
khôi phc lch s 5000 năm văn hiến ca dân tc Vit, đã dành nhiu tâm huyết cho vic
phc dng li lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành đưc cho là xut phát t dân tc Vit.
Qua s phân tích tính mâu thun trong các c thư vi các thc tế ng dng bng nhng
lý lun hết sc logic và thuyết phc, Ngài đã phc dng, hiu chnh và h thng hoá li các
nn tng lý thuyết và mô hình ng dng ca thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Trong cun sách “Tìm v ci ngun Kinh Dch “ (nhà xut bn Hng Đc 2020), Ngài đã
dành chương 4 : XÁC ĐNH V TRÍ HÀNH TH TRONG THUYT ÂM DƯƠNG NGŨ
HÀNH. S HIU CHNH VÀ PHC HI T NN VĂN HIN VIT (p.351 ~ 374) đ bàn vbn cht ca HÀNH TH.
Bng các lun c và dn chng c th Ngài Thiên S đã “Loi suy hành Th ra khi Ngũ
Hành mà các bn văn c ch Hán đã mô t” (p.372). Đng thi, đi vi các khái nim gi
là Th trong các ng dng trong bng Lc Thư Hoa giáp, hoc Thp thiên can…Ngài Thiên
S nêu quan đim rng “Nhng Khái nim gi là Th như trên, không mang tính là mt tp
hp hàm cha nhng phn t cùng thuc tính đưc phân loi như T Hành,.., mà nó ch
mô t mt trng thái vt cht riêng r “ (p.373).
Tuy nhiên, vic Loi Suy Khi Hành Th khi Ngũ Hành như các bn văn c thư, thì vic
đnh v li nó cn phi làm rt ráo. Cái trng thái !”Vt cht riêng r khái nim Th
t đó là trng thái vt cht như thế nào ? Nó khác vi các trng thái vt cht mà t Hành
(Kim Mc Thu Ho) mô t kia ra sao ? Và vì sao cùng là trng thái vt cht mà li có s
phân bit như vy ? Và nếu có trng thái Vt cht riêng r cn ti 1 khái nim Th đ
t, thì thuyết âm Dương “T Hành” có tr nên Bt Toàn nếu hành Th b Loi Suy ra khi
Ngũ Hành?
Sau đây, ngưi viết xin đưc nêu quan đim ca mình trong cách hiu v Hành Th, và
làm rõ hơn v đc tính, khái nim ca hành Th trong Ngũ Hành.

1. S cn thiết ca Hành Th trong thuyết Âm Dương Ngũ Hành
Chúng ta có th loi suy Hành Th ra khi các MÔ T TRONG VĂN BN C THƯ,
nhưng chc chn chúng ta không th loi suy s Tn Ti Ca Khái Nim Th, và Ngài
Thiên S cũng công nhn điu này. Bng chng là Ngài đã đưa quan đim ca mình rng
đó là “mô t mt trng thái riêng r”. Như vy chúng ta có th thy rng, có mt (hoc
nhiu) trng thái riêng r mà T Hành (Kim mc thu ho) không th mô t. Và chính vì s
tn ti ca trng thái riêng r đó mà Cn mt khái nim mô t nó, và đó chính là s cn
thiết ca khái nim Hành Th, tuy khái nim này không mô t mt tp hp hàm cha các
phn t có cùng đc tính như các Hành Khác.
Yếu t th hai, v s quan trng ca Hành Th trong các ng dụng cụ thể của thuyết
Âm Dương Ngũ Hành, với yếu tố quan trọng đầu tiên chính là luật Ngũ Hành Tương Sinh
và Ngũ Hành Tương Khắc. Cùng với phân loại về Âm Dương, hai định đề về Tương Sinh
và Tương Khắc của Ngũ Hành, chính là nền tảng quan trọng xây dựng tất cả các cơ sở
ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ Hành, từ Đông Y, Tử Vi, Phong Thuỷ, Bốc Dịch…Nếu
loại suy Hành thổ khỏi Ngũ Hành, thì 2 định đề quan trọng trên sẽ bị phá vỡ hoàn toàn, và
toàn bộ cơ sở ứng dụng của thuyết âm dương ngũ hành bị sụp đổ. Trong Đông Y, Tỳ thuộc
thổ -> sẽ phân loại mới như nào, lục thập hoa giáp sẽ không còn là Lục Thập nữa, vì chỉ có
tứ hành 12 năm thì chỉ có Nhị Thập Tứ Hoa Giáp, Phi tinh Huyền không sẽ không có Trung
Cung để quái Cấn nhập vào… Rõ ràng, với thực tế tồn tại của các môn ứng dụng của
thuyết Âm Dương Ngũ Hành, thì việc tồn tại Hành Thổ trong Ngũ Hành là điều không thể
thiếu.
Yếu tố thứ 3 là để đảm bảo cho tính hợp lý trong nội hàm học thuyết Âm Dương Ngũ
Hành, cụ thể là phân biệt Âm Dương, và các đặc tính Âm Dương như lý thuyết này mô tả.
Thì chính học thuyết này cũng phải MÔ TẢ ĐƯỢC CHÍNH NÓ bằng các định đề của mình.
Trong Lý Thuyết này thì Âm Dương và Ngũ Hành là 2 , trong đó Âm Dương là tính phân
biệt, đối chiếu còn Ngũ Hành là Sự Phân Loại ra các nhóm tập hợp hàm chứa các phần tử
có cùng đặc điểm. Như vậy sự Phân Biệt (tư duy) thuộc Dương nên nội hàm của nó có 2
nhân tố (âm/dương), là độ số chẵn thuộc ÂM. Và sự Phân Loại (hành động) thuộc Âm, có
5 nhân tố (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ), là độ số lẻ thuộc Dương. Đây chính là thể hiện tính
hợp lý của định đề trong âm có dương, trong dương có âm của học thuyết này. Nếu không
có hành Thổ để có tập hợp Ngũ Hành, thì thuyết Âm Dương Ngũ Hành sẽ bị mâu thuẫn
ngay trong việc các định đề của nó không giải thích được chính lý thuyết sinh ra nó.
2. Gợi ý từ vị trí của Thổ cục trong thiên bàn Tử Vi
Trong chương 4 : XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ HÀNH THỔ TRONG THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ
HÀNH. SỰ HIỆU CHỈNH VÀ PHỤC HỒI TỪ NỀN VĂN HIẾN VIỆT (p.351 ~ 374), Ngài
Thiên Sứ đã dẫn chứng rằng, trong “Tam Mệnh Thông Hội” hay trong ứng dụng thực tế
của Thiên Bàn Tử Vi, hành thổ không được coi là 1 hành độc lập. Xin trích dẫn lại hình
bên dưới:


H.1 Ngài Thiên Sứ chỉ ra vai trò của Thổ trên Thiên bàn Tử Vi
Bằng dẫn chứng cụ thể trong ứng dụng của thiên bàn Tử Vi, Ngài Thiên Sứ đã chỉ ra
rằng “hành Thổ là sự kết thúc của Tứ Hành” (p.368). Điều này là rõ ràng không bàn cãi.
Tuy nhiên ở đây, người viết thấy 1 hình ảnh trực quan, đó là sau “Thổ” thì lại là sự Khởi
Đầu của 1 Hành được Hành trước đó tương sinh, hay nhìn một cách trực quan, nó là
trung gian giữa 2 hành. Ví dụ cục Thuỷ, sinh ở Hợi, vượng tại Tí Mộ tại Sửu (Thổ) , sau
Sửu tới Dần là Sinh của cục Mộc …
Do sự vận động của Vũ Trụ là vòng tương sinh liên tục, nên người viết cho rằng Thổ là
trạng thái biến đổi chuyển tiếp giữa 2 trạng thái vật chất trong Tứ Hành, là nơi 1 hành mộ
và chuẩn bị cho các khởi đầu của hành tương sinh tiếp theo.
3. Hành Khí của Lưỡng Nghi là hành Thổ
Trong các bản văn cổ thư nói về sự hình thành của vũ trụ đã ghi lại định đề “Thái Cực
Sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi Sinh tứ tượng”. Xuyên suốt trong các nghiên cứu của mình,
Ngài Thiên Sứ đã chỉ ra rằng tứ tượng chính là Tứ Hành (bạn đọc có thể tham khảo từ các
xuất bản Hà Đồ Trong Văn Minh Lạc Việt, NXBTH TPHCM 2006, Tìm Về Cội Nguồi Kinh
Dịch, NXB Hồng Đức 2020..).
Từ sự vận động có tính quy luật, tuần hoàn và liên tục của vũ trụ, với gợi ý từ ứng dụng
của hành Thổ trong thiên bàn Tử vi nêu ở phần trên. Người viết xác định rằng Hành Thổ
vừa là nơi kết thúc của tứ hành cũng là nới khởi đầu của tứ hành trong chu kì vận động
tiếp theo. Nếu quay ngược lại cho tới trần thời gian, khi tứ tượng (tứ hành) được xác lập
do Lưỡng Nghi Sinh, thì để đảm bảo tính thống nhất cho một lý thuyết, trước tứ Tượng
phải là hành Thổ. Và người viết xác định rằng hành khí của Lưỡng Nghi chính là hành Thổ.
Và nó mô tả tình trạng Hỗn Độn của vũ trụ cũng chính là trạng thái của khí Tiên Thiên, từ
giây 0 đến trần thời gian.
Với xác định hành khí của lưỡng nghi là Hành Thổ, và với mô tả của cổ thư “ Lưỡng Nghi
Sinh Tứ Tượng “ thì tính hợp lý của yếu tố Ngũ Hành trong thuyết Âm Dương Ngũ Hành
được xác lập. Bởi khi có Lưỡng Nghi là đã tồn tại Khí do đã có sự tương tác, xuất hiện của
cái nghi thứ 2 so với Thái Cực, tuy không xác định được cụ thể (Nghi) nhưng đã có sự tồn
tại của lưỡng nghi, thì bản thân Thuyết ADNH phải mô tả, phân loại được cái nghi đó.
Trong khi tứ tượng xuất hiện sau lưỡng nghi, nó không thể phân loại được lưỡng nghi vào
1 trong 4 tượng (hành này). Nên tập hợp Phần Bù của 4 Hành (tứ tượng) còn lại chính là
phạm trù của Hành Thổ.
Trong cổ thư, về thần thoại Nữ Oa Vá Trời và Thần Bàn Cổ có chép “ Khi hỗn độn mới
phân, khí nhẹ và trong bay lên thành trời, khí nặng và đục tụ xuống thành đất “. Như vậy
trong tình trạng Hỗn Độn kia phải chứa đựng cả 2 trạng thái Khí Nhẹ-Trong, và Khí Nặng-
Đục, ở trạng thái vận động bất quy tắc để rồi sau đó có sự vận động điều hướng rồi hình
thành nên sự vận động có tính quy luật của hậu thiên.
Như vậy Thổ không chỉ là sự kết thúc của Tứ Hành, mà còn là nơi chuyển hoá ra tứ hành.
Và trạng thái của sự chuyển hoá này là bất quy tắc, hỗn độn.
Cũng chính vì sự bất quy tắc của phần tử thuộc tập hợp hành Thổ mà nó không thể có
phép toán để mô tả trạng thái này. Điều này giải thích cho yếu tố vì sao trong Bát Quái
không có Quái mô tả hành Thổ. Nhưng trong mọi ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ
Hành, thì Hành Thổ vẫn đi cùng với Tứ Hành được Bát Quái mô tả. Ngay chính mô hình
Hà Đồ Phối Hậu Thiên Lạc Việt, là mô hình nguyên lý căn bản của ứng dụng học thuyết
Âm Dương Ngũ Hành cũng thể hiện vị trí Hành Thổ là Trung Tâm. Nếu không có sự tồn tại
của Hành Thổ thì mô hình này không thể hoàn thiện được.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Và với sự định vị Hành Thổ là bắt đầu cho các Hành, là hành khí của Lưỡng Nghi, nó cũng là hành khí của giai đoạn từ giây 0 đến trần thời gian, mà việc phân loại hành khí của thời gian trở nên hợp lý với sự bắt đầu của Giáp Tý và Ất Sửu thuộc Kim, vì Thổ sinh Kim.
Người viết xin được khép lại tiểu luận này, với việc định vị hành Thổ là 1 hành Đặc Biệt
trong Ngũ Hành, nó là phần bù của với tập hợp tứ hành còn lại, và không mô tả cụ thể một
trạng thái tương đồng của các phần tử trong nó, và không mô tả được vì đó là sự vận động
bất quy luật, hỗn độn, là sự chuyển hoá giữa tứ hành còn lại. Nhưng chính vì có sự tồn tại
của Hành Thổ mà học thuyết Âm Dương Ngũ Hành trở nên nhất quán với lý thuyết của nó,
và phải chăng nhờ đó mà nó vượt trội hơn các học thuyết khác ví dụ như tứ đại trong giáo
lý của Phật.
Phải chăng sự hỗn loạn trong tiên thiên chính là các diễn biến của quá trình tương khắc
của các hành, mà ở đó được mô tả bởi mô hình Lạc Thư, và sự bất định, hỗn loạn của các
phần tử trong nội hàm hành Thổ là bản chất của sự Sai Số trong các phép ứng dụng Dự
Đoán của thuyết Âm Dương Ngũ Hành ? Đây là một nghi vấn mà người viết sẽ tiếp tục suy
sét trong các nghiên cứu sau này.
Tokyo ngày 20/12/2021
Lãng Tử Thiết Phong – Ab Chiến”]
*
Thưa quý vị và các bạn.
Quý vị và các bạn cũng đã đọc toàn văn bài phản biện của anh Ab Chiến. Trên Fb , anh Ab Chiến đã xác nhận nguyên văn tôi đưa lên đây là chính xác về nội dung.
Thưa quý vị và các bạn.
Quý vị và các bạn đã đọc cuốn “Tìm về cội nguồn kinh Dịch” của tôi. Nxb Hồng Đức năm 2020. Trong đó tôi xác định về bản chất khởi nguyên của vũ trụ sau giây “O” chỉ có Tứ hành. Đương nhiên, khi tôi xác định điều này, thì tôi cũng biết rất rõ hành Thổ có nguồn gốc từ đâu và ứng dụng như thế nào trong bảng Lạc Thư Hoa giáp (Sách Tàu là Lục Thập hoa giáp và tôi cũng bác bỏ, do tính mâu thuẫn về nội dung của bảng này), trong các phương pháp ứng dụng liên quan đến hành Thổ, như: Khôn, Cấn thuộc Thổ nhập Trung, hoặc trong Tử Vi có đến 6 mạng Thổ gồm: Thành Đầu Thổ; Ốc Thượng Thổ. Bích Thượng Thổ, Sa trung Thổ, Lộ bàng Thổ và Đại Dịch Thổ. Và trong hai mô hình có tính nguyên lý căn để theo sách Tàu là Lạc Thư và sách Việt theo tôi là Hà Đồ đều có hành Thổ nhập trung. Tôi biết những điều này và gần như thuộc lòng, từ khi tôi mới 19 tuổi bắt đầu tập tọng xem Tử Vi và tìm hiểu về Lý học Đông phương. Để rồi 30 năm sau đó, bắt đầu từ năm 1998 > do những nhân duyên dẫn tới việc chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, đã dẫn đến việc tôi nhận thấy những sai lầm và mâu thuẫn có tính hệ thống của toàn bộ những di sản của thuyết ADNh & Kinh Dịch còn lưu truyền trong cổ thư chữ Hán. Và tứ đó, tôi chứng minh những sai lầm, sự rời rạc thiếu tính hệ thống của những di sản trong cổ thư chữ Hán. Tôi đã xác định rằng: Toàn bộ nền Lý học Đông phương mà nền tảng là thuyết ADNh &Kinh Dịch thuộc về nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử. Tất nhiên, nó xóa sổ từ trong tiềm thức, từ hơn 2300 năm qua của thế nhân vốn mặc định – cội nguồn văn minh Đông phương thuôc về văn minh Hán > Sau khi nền văn hiến Việt sụp đổ vào năm 257 Trc CN. Tất nhiên tôi nhân danh khoa học và chân lý,  thực hiện đúng các chuẩn mực khoa học cho hệ thống luận cứ của tôi. Tôi cũng hiểu rất rõ rằng sẽ có rất nhiều ý kiến phản bác, phủ nhận và cả chống đối.
Hệ thống luận cứ đó đã đứng vững trên 20 năm và tôi xác định rằng: Không dễ gì phản bác. Tôi cần phải thành thật mà nói rằng: Nếu tôi sai thì quan điểm Việt sử gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử sẽ bị hoài nghi và có thể sụp đổ. Do đó. Thiên Sứ không được phép sai. Nhưng như tôi đã trình bày:
“Một Lý thuyết hoặc một giả thuyết khoa học bị coi là sai, chỉ cần người ta chỉ ra một mắt xích sai trong toàn bộ hệ thống luận điểm của nó, mà lý thuyết đó không thể biện minh được”.
Đương nhiên, với những kẻ chống đối, tôi sẽ delete ngay lập tức và không cần lý do. Nhưng với những phản biện trên tinh thần khoa học và có luận cứ, tôi rất hoan hỉ biện minh và luôn công khai. Vậy Thiên Sứ có sai không khi không thửa nhận hành Thổ > Nhân danh nền văn hiến Việt > trong giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ? Những kiến thức của tôi liên quan đến hành Thổ trong Lý học Đông phương, tất nhiên chắc cũng không ít hơn những hiểu biết của thế nhân về hành Thổ. Do đó, một khi tôi đã bác bỏ hành Thổ trong khởi nguyên của vũ trụ, thì trước hết nó phải cân đối với hiểu biết ngay trong tư duy của chính tôi về sự hiện diện và ứng dụng của hành Thổ trong thuyết ADNh & Kinh Dịch.
Dưới đây là sự biện minh của tôi và chỉ rõ sai lầm của anh Ab Chiến.
Thưa quý vị và các bạn.
Tất cả những ai đã đọc Kinh Dịch từ bản văn chữ Hán, đều biết rõ rằng trong Hệ Từ ghi:
“Thái Cực sinh Lưỡng Nghi; Lưỡng Nghi sinh TỨ TƯỢNG, Tứ Tượng sinh BÁT QUÁI”. Tôi đã sửa câu này nhân danh nền văn hiến Việt:
“Thái Cực sinh Lưỡng Nghi; Lưỡng Nghi sinh TỨ TƯỢNG, Tứ Tượng BIẾN HÓA VÔ CÙNG”.
Nhưng trong bài biện minh này của tôi, chỉ bàn đến đoạn “Lưỡng Nghi sinh TỨ TƯỢNG”.
Chúng ta có quyền hoài nghi câu trên trong Hệ Từ viết sai, mà đúng nó phải là : Lưỡng Nghi sinh NGŨ TƯỢNG”, để cho khớp với bản văn của Kinh Thượng Thư, thiên Hồng Phạm > Tức Kinh Thư> theo truyền thuyết cũng do Khổng Tử viết lại từ thời vua Đại Vũ> Được xác định là hơn 2000 năm trc CN và trước thời Khổng Tử khoảng 1500 năm. Vậy ngài Khổng Tử đã bớt mất một Tượng trong kinh Dịch, hay vua Đại Vũ sai? tất nhiên, chân lý chỉ có một. Cho nên Hệ Từ trong kinh Dịch đúng thì vua Đại Vũ sai và ngược lại, hoặc cả hai đều sai?
Trên cơ sở những di sản còn lại của nền văn hiến Việt và trên cơ sở tổng hợp tất cả những vấn đề liên quan, từ các di sản còn lại của các nền văn minh cổ đại…cho đến tri thức khoa học hiện đại > Đã dẫn trong cuốn “Minh triết Việt trong văn minh Đông phương” .Nxb Hồng Đức 2019 và “TV Cội nguồn kinh Dịch”. Nxb HD 2020, tôi đã xác định rằng: Hệ từ trong kinh Dịch đã mô tả đúng đoạn “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng” và chỉ hiệu chỉnh đoạn cuối của câu này – nhân danh nền văn hiến Việt – “Tứ Tượng biến hóa vô cùng”.
Tôi cũng đã đối chiếu với sự minh triết trong Phật giáo và các triết gia cổ Tây Phương và Ấn Độ, để thấy sự khởi nguyên của vũ trụ sau Lưỡng Nghi chỉ có Tứ Hành, gồm :Kim/ Mộc/ Thủy/ Hỏa. Ngay trong Địa Lý Âm trạch, tôi cũng đã dẫn sách cổ: Không có Thổ Long. Vậy hành Thổ sinh ra từ đâu?
Như tôi đã trình bày: Hành Thổ là mộ của Tứ hành trong quá trình vận động và tương tác của nó, trong lịch sử hình thành vũ trụ được mô tả trong thuyết ADNh & Kinh Dịch, được tổng hợp trong ba giai đoạn vận động và tương tác là “Sinh> Vượng> Mộ.
Xin xem lại hình minh họa dưới đây:

Điều này đã được giải thích trong cổ thư với nguyên lý nổi tiếng “Vạn vật quy ư Thổ”.
Tôi có lẽ cần nhắc lại là: Chúng ta đang nghiên cứu và tìm hiểu một lý thuyết mô tả một thực tại, chứ không phải chúng ta đang dùng các phương tiện kỹ thuật để kiểm định một thực tại, rồi từ đó hình thành nên một lý thuyết tổng hợp những thực tại đã biết. Do đó, nó cần những tiêu chí khoa học để thẩm định một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Chứ không phải bằng kính thiên văn Huber để xác định sao Thổ và xác quyết hành thổ là có thật qua chính sao Thổ; hay tệ hơn là dùng kính hiển vi để soi ký hiệu quái Càn trong Bát quí để xem nó đúng hay sai.
Do đó câu “Vạn vật quy ư Thổ”, tức là khi vạn vật được phân loại theo Tứ Hành thì luôn hết thúc ở hành Thổ về mặt Lý thuyết và chuyển hóa sang hành khác. Chứ không thể : con lợn thuộc quái Càn hành Âm Kim đới Thủy (hoặc hành Kim theo sách Tàu), khi chết biến thành Thổ; Cây có lõi cứng và to thuộc quái Khảm/ hành Thủy khi chết thành Thổ….Vậy các loại Thổ, gồm: Thành Đầu Thổ; Ốc Thượng Thổ. Bích Thượng Thổ, Sa trung Thổ, Lộ bàng Thổ và Đại Dịch Thổ, sẽ biến thành cái gì? Thổ lại thành Thổ sao? Vậy khi trái Đất và cả sao Thổ… đến tất cả vũ trụ này tan rã thì nó trở lại với hành Thổ sao? – trong bài phản biện trên – khi kết thúc sự tồn tại của vũ trụ nó lại thành Thổ sao? Trong khi đó, hành Thổ không có sự phân loại  van vật như bát quái trong kinh Dịch thuộc Tứ hành, như: Càn là trời, là cha, là cửa khuyết…
Chính xác ra, không thể gọi là “HÀNH” Thổ, mà chỉ nên coi và gọi đúng tên của nó là trạng thái MỘ của chu kỳ TỨ HÀNH để tiếp tục chuyển hóa – tương sinh ra hành khác sau đó. Thí dụ: Hợi /Thủy. sinh Tý/ Thủy> Mộ ở Sửu (Mộ của hành Thủy sinh Dần/ Mộc). Nhưng, nếu coi Thổ là một hành, thì không lẽ Sửu Thổ sinh Dần/ MỘC? Hoặc Thìn Thổ sinh Tỵ Hỏa?…Nếu như vậy, bản thân thuyết Ngũ hành và sự phân loại của nó đã sai ngay từ tính hệ thống nội tại của nó. Vì Sửu Thổ, không thể sinh Dần Mộc; Thìn Thổ không thể sinh Tỵ Hỏa.
Với một học thuyết nó phải có tính hoàn chỉnh và nhất quán có tính hệ thống. Việc bỏ hành Thổ là hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Cho nên nó được xác định là đúng, khi đối chiếu với tiêu chí khoa học, để thẩm định một lý thuyết. Dù anh có tán thành hay không.
Tôi đã nhiều lần lưu ý các học viên của tôi rằng:
Ngay cả khi học chương trình phổ thông, tức là học những tri thức mang tính nền tảng và  phổ biến của nền văn minh hiện đại – thì trong cùng một lớp học, cũng có học sinh học giỏi và học sinh học dốt đến mức độ phải bỏ học đi làm nghề. Mặc dù kiến thức phổ thông đó thì bạn bè trong lớp và các bậc phụ huynh trong nhà, có thể kèm cặp và chia sẻ. Huống chi, học Lý học thuộc về một nền văn minh khác, khó có thể tìm ngươi chia sẻ như học phổ thông.  Và nó đòi hỏi một tư duy trừu tượng phát triển với tư duy logic hoàn chỉnh. Cho nên, nếu có những học sinh của tôi không hiểu bài thì tôi cũng không ngạc nhiên.
Trên thực tế, đã có những học viên Địa Lý Lạc Việt chủ yếu là những thời kỳ đầu, trước và sau khi thành lập TTNC LHDP. Sau khi theo học DLLV, nhưng thực hành lại theo sách Tàu. Tất nhiên, khi rơi vào trường hợp sai lệch giữa Tàu và Việt trong ứng dụng và làm cho thân chủ phá sản. Cũng may là người bị phá sản này cũng biết tôi là thày của người làm phong thủy cho họ. Nên nhờ tôi xem giúp và đến lúc đó tôi mới biết anh ta học tôi, nhưng khi thực hành lại theo sách Tàu. Sự sai lệch rơi đúng vào trường hợp Đoài/ Ly. Tức người Tây trạch thành Đông trạch, nên bố trí PT sai bét, dẫn đến thân chủ của anh ta phá sản. Tôi sửa lại theo Địa Lý Lạc Việt và vị thân chủ đó, đã trả nợ được ba tỷ thoát nạn. Do có người cho mượn tiền không lấy lãi.
Qua đó, tôi muốn chứng minh rằng: Học môn này > đơn giản nhất là ngành Địa Lý Lạc Việt ứng dụng > tức là chỉ cần học thuộc bài và ứng dụng với tư duy logic tối thiểu. Cũng đã khó như thế nào. Cho nên vấn đề để khám phá sự huyền bí của Lý học Đông phương, mà nền tảng là thuyết ADNh & Kinh Dịch, phải căn cứ vào tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để xác định một hệ thống lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.
Bây giờ trên cơ sở này tôi phân tích những đoạn chủ yếu của anh Ad Chiến sai ở những chỗ nào, trong toàn bộ bài phản biện của anh ấy, mà tôi đã trích dẫn công khai ở trên.
Anh Ad Chiến viết:
[Tuy nhiên, việc Loại Suy Khỏi Hành Thổ khỏi Ngũ Hành như các bản văn cổ thư, thì việc
định vị lại nó cần phải làm rốt ráo. Cái trạng thái !”Vật chất riêng rẽ” mà khái niệm Thổ mô
tả đó là trạng thái vật chất như thế nào ? Nó khác với các trạng thái vật chất mà tứ Hành
(Kim Mộc Thuỷ Hoả) mô tả kia ra sao ? Và vì sao cùng là trạng thái vật chất mà lại có sự
phân biệt như vậy ? Và nếu có trạng thái Vật chất riêng rẽ cần tới 1 khái niệm Thổ để mô
tả, thì thuyết âm Dương “Tứ Hành” có trở nên Bất Toàn nếu hành Thổ bị Loại Suy ra khỏi
Ngũ Hành?]
Về điều này, tôi đã phân tích một cách có hệ thống trong cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch (Nxb HD 2020) và nói sơ qua ở phần trên trong bài viết này. Đó là: Trong bát quái – dù phối với Lạc Thư hay Hà Đồ – thì nó cũng chỉ có 9 cung trong đó có 8 cung biên phối Bát quái, gồm 4 hành trên Lạc Thư hoặc Hà Đồ. Trung cung ở giữa được coi là hành Thổ thì không có quái nào. Và trong kinh Dịch, tất cả 8 quái, đều được mô tả là một tập hợp bao gồm các loại mà anh Ad Chiên gọi là những trạng thái vật chất riêng rẽ, thí dụ: Càn là trời, là cha, là vua, là kinh đô, là cửa khuyết…Tương tự như vậy với 7 quái còn lại. Nhưng không có quái nào được coi nằm ở Trung Cung tương ứng với hành Thổ có sự phân loại như trên.
nếu nói theo sách Tàu quái Cấn  là Thổ và Khôn cũng là Thổ thì:
1/ Căn cứ vào đâu để xác định Cấn/ Khôn thuộc Thổ? Trong khi chính bản văn kinh Dịch cũng không có một chữ nào nói Bát quái Hậu Thiên phối với Lạc Thư cả.
2/ Với các loại Thổ như: Thành Đầu Thổ; Ốc Thượng Thổ. Bích Thượng Thổ, Sa trung Thổ, Lộ bàng Thổ và Đại Dịch Thổ –  thì Thổ nào nằm ở cung Cấn, Thổ nào nằm cung Khôn?
3/ Nếu nói rằng: Trong ứng dụng phong thủy Tàu thì Cấn/ Khôn nằm ở trung cung nên thuộc Thổ. Vậy thì Văn Vương sai khi theo truyền thuyết chỉ tạo ra Bát quái, khi ứng dụng Phong Thủy thành Thập quái chăng? Và ngay trung cung của Lạc Thư theo sách Tàu chỉ có một số 5, Vậy Cấn 8, vào Trung cung theo ứng dụng Phong thủy Tàu sao lại số 8. Và Khôn theo phong thủy tàu trên Lạc Thư là số 2 sao vào Trung Cung lại số 5?
Về điều này, tôi đã chứng minh ngay trong cuốn TVCNKD của tôi trong cả 3 lần xuất bản về “Nguyên Lý quái Cấn ở Trung Cung”. Điều mà tất cả các bản văn cổ chữ Hán chưa hề nói tới.
4/ Hành Thổ  trong Kinh Dịch theo sách cổ Tàu chẳng có một chữ nào mô tả nó là một tập hợp gồm các trạng thái như tôi mô tả ở trên. Trong kinh Dịch, chính các nhà nghiên cứu  hiện đại của Tàu và của Việt, thừa nhận: “Nói về Âm Dương, nhưng không nói về Ngũ Hành” và “thuyết ADNh hòa nhập vào thời Hán”. Vậy thì làm gì có vấn đề như anh Ad Chiên phát biểu :”Cái trạng thái !”Vật chất riêng rẽ” mà khái niệm Thổ mô tả đó là trạng thái vật chất như thế nào?”. Tôi đã xác định: Không có hành Thổ trong hệ thống Lý thuyết ADNh & Kinh Dịch trong sự khởi nguyên vũ trụ, nhân danh nền văn hiến Việt, thì tôi ko cần phải mô tả các trạng thái vật chất trong tập hợp của nó.
Nhưng đến đoạn này thì tôi không thể chấp nhận được cách lập luận của anh Ad Chiến. Quý vị và các bạn chịu khó đọc lại đoạn này. Bởi vì anh ta vẫn xác định Lạc Thư là cơ sở nguyên lý căn để của thuyết ADNh theo sách cổ Tàu:
*
[
3. Hành Khí của Lưỡng Nghi là hành Thổ
Trong các bản văn cổ thư nói về sự hình thành của vũ trụ đã ghi lại định đề “Thái Cực
Sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi Sinh tứ tượng”. Xuyên suốt trong các nghiên cứu của mình,
Ngài Thiên Sứ đã chỉ ra rằng tứ tượng chính là Tứ Hành (bạn đọc có thể tham khảo từ các
xuất bản Hà Đồ Trong Văn Minh Lạc Việt, NXBTH TPHCM 2006, Tìm Về Cội Nguồi Kinh
Dịch, NXB Hồng Đức 2020..).
Từ sự vận động có tính quy luật, tuần hoàn và liên tục của vũ trụ, với gợi ý từ ứng dụng
của hành Thổ trong thiên bàn Tử vi nêu ở phần trên. Người viết xác định rằng Hành Thổ
vừa là nơi kết thúc của tứ hành cũng là nới khởi đầu của tứ hành trong chu kì vận động
tiếp theo. Nếu quay ngược lại cho tới trần thời gian, khi tứ tượng (tứ hành) được xác lập
do Lưỡng Nghi Sinh, thì để đảm bảo tính thống nhất cho một lý thuyết, trước tứ Tượng
phải là hành Thổ. Và người viết xác định rằng hành khí của Lưỡng Nghi chính là hành Thổ.
Và nó mô tả tình trạng Hỗn Độn của vũ trụ cũng chính là trạng thái của khí Tiên Thiên, từ
giây 0 đến trần thời gian.
Với xác định hành khí của lưỡng nghi là Hành Thổ, và với mô tả của cổ thư “ Lưỡng Nghi
Sinh Tứ Tượng “ thì tính hợp lý của yếu tố Ngũ Hành trong thuyết Âm Dương Ngũ Hành
được xác lập. Bởi khi có Lưỡng Nghi là đã tồn tại Khí do đã có sự tương tác, xuất hiện của
cái nghi thứ 2 so với Thái Cực, tuy không xác định được cụ thể (Nghi) nhưng đã có sự tồn
tại của lưỡng nghi, thì bản thân Thuyết ADNH phải mô tả, phân loại được cái nghi đó.
Trong khi tứ tượng xuất hiện sau lưỡng nghi, nó không thể phân loại được lưỡng nghi vào
1 trong 4 tượng (hành này). Nên tập hợp Phần Bù của 4 Hành (tứ tượng) còn lại chính là
phạm trù của Hành Thổ.
Trong cổ thư, về thần thoại Nữ Oa Vá Trời và Thần Bàn Cổ có chép “ Khi hỗn độn mới
phân, khí nhẹ và trong bay lên thành trời, khí nặng và đục tụ xuống thành đất “. Như vậy
trong tình trạng Hỗn Độn kia phải chứa đựng cả 2 trạng thái Khí Nhẹ-Trong, và Khí Nặng-
Đục, ở trạng thái vận động bất quy tắc để rồi sau đó có sự vận động điều hướng rồi hình
thành nên sự vận động có tính quy luật của hậu thiên.
Như vậy Thổ không chỉ là sự kết thúc của Tứ Hành, mà còn là nơi chuyển hoá ra tứ hành.
Và trạng thái của sự chuyển hoá này là bất quy tắc, hỗn độn.
Cũng chính vì sự bất quy tắc của phần tử thuộc tập hợp hành Thổ mà nó không thể có
phép toán để mô tả trạng thái này. Điều này giải thích cho yếu tố vì sao trong Bát Quái
không có Quái mô tả hành Thổ. Nhưng trong mọi ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ
Hành, thì Hành Thổ vẫn đi cùng với Tứ Hành được Bát Quái mô tả. Ngay chính mô hình
Hà Đồ Phối Hậu Thiên Lạc Việt, là mô hình nguyên lý căn bản của ứng dụng học thuyết
Âm Dương Ngũ Hành cũng thể hiện vị trí Hành Thổ là Trung Tâm. Nếu không có sự tồn tại
của Hành Thổ thì mô hình này không thể hoàn thiện được.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Và với sự định vị Hành Thổ là bắt đầu cho các Hành, là hành khí của Lưỡng Nghi, nó cũng là hành khí của giai đoạn từ giây 0 đến trần thời gian, mà việc phân loại hành khí của thời gian trở nên hợp lý với sự bắt đầu của Giáp Tý và Ất Sửu thuộc Kim, vì Thổ sinh Kim.
Người viết xin được khép lại tiểu luận này, với việc định vị hành Thổ là 1 hành Đặc Biệt
trong Ngũ Hành, nó là phần bù của với tập hợp tứ hành còn lại, và không mô tả cụ thể một
trạng thái tương đồng của các phần tử trong nó, và không mô tả được vì đó là sự vận động
bất quy luật, hỗn độn, là sự chuyển hoá giữa tứ hành còn lại. Nhưng chính vì có sự tồn tại
của Hành Thổ mà học thuyết Âm Dương Ngũ Hành trở nên nhất quán với lý thuyết của nó,
và phải chăng nhờ đó mà nó vượt trội hơn các học thuyết khác ví dụ như tứ đại trong giáo
lý của Phật.
Phải chăng sự hỗn loạn trong tiên thiên chính là các diễn biến của quá trình tương khắc
của các hành, mà ở đó được mô tả bởi mô hình Lạc Thư, và sự bất định, hỗn loạn của các
phần tử trong nội hàm hành Thổ là bản chất của sự Sai Số trong các phép ứng dụng Dự
Đoán của thuyết Âm Dương Ngũ Hành ? Đây là một nghi vấn mà người viết sẽ tiếp tục suy
sét trong các nghiên cứu sau này.
Tokyo ngày 20/12/2021
Lãng Tử Thiết Phong – Ab Chiến”]
Theo lập luận của anh Ab Chiến thì “Và người viết xác định rằng hành khí của Lưỡng Nghi chính là hành Thổ”?
Vậy thì quý vị và các bạn biết qua về thuyết ADNh chắc biết rõ rằng: chính sách Tàu viết: “Thiên Nhất sinh Thủy”. Nếu Lưỡng Nghi là Thổ thì  Thổ lại sinh Thủy? Điều này hoàn toàn trái với nguyên lý cơ bản của thuyết ADNh.
Nếu Lưỡng nghi là hành Thổ thì Thái Cực sinh Thổ, vậy Thái cực là Hỏa sao? Còn nếu coi cả Thái Cực và Nghi II là một như anh Ad Chiên nói thì cả Thái Cực và Nghi II đều thuộc Thổ. Và như vậy thì cần gì phải Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng và lấy đâu ra Thổ là Mộ của những hành kia? Hơn nữa vơi nguyên lý “Vạn vật quy ư Thổ” sai chăng? Với lập luận của anh Ad Chiến thì phả là Vạn vật xuất ư Thổ chử nhỉ?
Anh Ad Chiên còn mô tả:
“Và với sự định vị Hành Thổ là bắt đầu cho các Hành, là hành khí của Lưỡng Nghi, nó cũng là hành khí của giai đoạn từ giây 0 đến trần thời gian, mà việc phân loại hành khí của thời gian trở nên hợp lý với sự bắt đầu của Giáp Tý và Ất Sửu thuộc Kim, vì Thổ sinh Kim”.
Đến đây, tôi lưu ý quý vị, các bạn và cả anh Ad Chiên, như sau: Bảng Lạc Thư Hoa giáp nhân danh nền văn hiến Việt và cả Lục thập hoa giáp theo sách Tàu, đều mô tả chu kỳ tuần hoàn 60 năm. Trước Giáp Tý tất nhiên là Quý Hợi. Theo Lục thập Hoa Giáp trong sách Tàu cho rằng Quý Hợi thuộc Thủy, sách Việt thuộc Hỏa. Như vậy dù theo Tàu, hoặc Viêt thì Thủy hay Hỏa, cũng không thể là sự bắt đầu tương sinh ra hành Kim của Giáp Tý được.
Vì hệ quy chiếu của Địa Lý phong thủy, theo Hậu Thiên với quái Cấn? Khôn nhập trung ở Hà Đồ, nên bảng Lạc Thư Hoa giáp mới băt đầu từ hành Kim.
Trong quá trình diễn biến tương tác và vận động của lịch sử vũ trụ với quy luật vận động và tương tác hết sức phưc tạp- theo các nhà khoa học xác định tuổi vũ trụ là 13> 14 tỷ năm, Trái đất 4 tỷ năm – từ Tiên Thiên đến Hậu Thiên là hoàn toàn không thể đơn giản. Từ Lưỡng Nghi thuộc Thổ sinh ngay ra hành Kim của Giáp Tý ứng dụng cho quy luật 60 Hoa Giáp trên Địa cầu được.
Chỉ từ mô hình Tiên Thiên sang Hậu Thiên, cũng đủ để thấy chúng mô tả hai hệ quy chiếu khác nhau. Nên không thể Lưỡng Nghi thuộc Thổ > Khởi nguyên vũ trụ thuộc Tiên Thiên >  với bao tương tác vận động phưc tạp cách gần 10 tỷ năm sau, thành Thổ sinh Giáp Tý Kim được.
Điều này xác định những hệ quy chiếu khác nhau từ mô hình Bát quái Tiên Thiên sang mô hình Hậu Thiên và khi ứng dụng trong Dịa Lý phong thủy thì còn Khôn/ Cấn nhập trung cung.
Nếu tôi có điều phải suy ngẫm lại và rút kinh nghiệm thì điều đó chính là tôi đã xem lướt một cách cẩu thả bài viết của anh Ad Chiến. Đấy cũng là thói quen của tôi đọc sách trong nhiều năm gần đây. Bởi vậy tôi đã vội vã xác định chấp nhận sự phản biện của anh này. Trình quá kém. Cho đến khi biết anh học lớp Mai Hoa Việt Dịch thì tôi rất ngạc nhiên. Đáng nhẽ ra tôi xóa bài của anh này và không chấp nhận phản biện trong lúc này. Vì với anh chị em học viện khóa MHVD, tôi đã hứa sẽ chấp nhận phản biện sau khi học xong. Nhưng xét thấy anh ta ở Nhật bản, một nới mà ngay khi xuất bản sách “TVCN Kinh Dịch” đã đặt ngay 50 bộ kèm Minh Triết Việt trong văn minh Đông phương, sau đó mua thêm  tổng số ngót cả trăm bộ. Nên tôi đã hứa biện minh vì các bạn đọc ở Nhật Bản. Tôi đã giữ lời hứa này.
Nhưng tại sao một người học lớp MHVD như anh Ad Chiến, lại có thể phản biện một cách thiếu sâu sắc như vậy? Đây là một trường hợp của sự tiếp thu không hoàn hảo của tư duy không thể tập trung. Hầu hết, con người chúng ta đôi khi cũng có những trạng thái này. Kể cả tôi. do mệt mỏi, nên khi đọc sách, hoặc học bài, nhưng vẫn bị những ý nghĩ của tư duy riêng lấn át. Tất nhiên, kết quả là không tiếp thu được nội dung của sách hoặc bài học.
Cho nên tôi chấm dứt sự biện minh ở đây.
Nhưng tôi có nghĩ đến tình thày trò và không cho rằng anh Ad Chien là kẻ phá đám, được cài vào lớp MHVD để làm rối vấn đề. Cho nên, để kết thúc bài này, tôi có lời khuyên với anh Ad Chien, cần đọc kỹ lại những bài đã học và  đọc kỹ lại sách của tôi. Nếu không đủ khả năng đọc nhiều một lúc thì đọc kỹ, hoặc đọc đi đọc lại những phân đoạn  ngắn và suy ngẫm. từ từ cũng sẽ hiểu ra vấn đề.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

Đây chỉ là một comment của một bài viết trên Fb. Nhưng họ coi là spam, nên tôi đăng vào đây.

THIÊN SỨ VIẾT:
Trích:
I/[“LÃO TỬ NÓI VỚI KHỔNG TỬ – Đại ý:
“Khi ông nói đến Đạo Đức thì cái phi Đạo Đức sẽ nẩy sinh. Khi ông nói đến cái Thiện thì cái Ác đã nảy sinh…Sao ông không sống theo tự nhiên, như nhiên …”.
Lão tử đúng – nếu đối chiếu với tự nhiên. Nhưng dù biết tất cả quy luật của vũ trụ thì thuyết của Lão Tử không phải Lý Thuyết thống nhất. Cho dù có thể tu thành Tiên> Một hệ quả xác định tính nắm bắt quy luật tự nhiên> thể hiện ở các pháp thuật của các thày phù thủy, các Đạo sĩ, Tiên Thánh…(Thuyết Vũ Trụ Toàn Ảnh, cũng đã nói đến các hiện tương pháp thuật này)”] .
Trích II – Từ bài viết trên Baomoi.com.vn (Đã giới thiệu ở phần comment):
[“Những toan tính sáng tạo của quá khứ giờ đây dường như kém thích đáng và tin cậy. {“Chúng đã bị thay bằng rất nhiều thứ mà chỉ có thể gọi là mê tín dị đoan”}, từ New Age đến Star Trek. Nhưng khoa học thực thụ có thể còn kỳ lạ hơn khoa học giả tưởng và thỏa đáng hơn rất nhiều”].
Tôi giới thiệu một pp cúng giải hạn của Đạo giáo, thuộc về bí truyền, do một bạn trên fb gửi cho tôi, để ace tham khảo. Qua đó cho thấy những khả năng huyền bí – vượt trội mà kiến thức khoa học ngày nay chưa giải thích dc. Nhưng những trí thức tinh hoa của nền văn minh hiện nay, đã phải thừa nhận khả năng tồn tại khách quan của nó – “Những toan tính sáng tạo của quá khứ giờ đây dường như kém thích đáng và tin cậy. {Chúng đã bị thay bằng rất nhiều thứ mà chỉ có thể gọi là mê tín dị đoan}, từ New Age đến Star Trek. Nhưng khoa học thực thụ có thể còn kỳ lạ hơn khoa học giả tưởng và thỏa đáng hơn rất nhiều”]
*
Còn đây là do một người bạn trên Fb gửi tôi mô tả một huyền thuật của Đạo Giáo.
Trích:
[“Cô em dâu của cháu. có 1 người anh sắp chết nằm viện. Bác sĩ nói đã bị phá hết lục phủ ngũ tạng rồi, phải thở máy. Người nhà đề nghị đưa về, để đc chết ở nhà. Cô em này có gọi cho cháu xem giúp anh trai chết vào tháng 9 hay tháng 10?
Cháu đề nghị sắm lễ để kéo dài niên thọ cho ( Lập đàn Tam phủ thục mệnh) và Di cung hoán số , phóng sinh giải nghiệp …. Khi bắt đầu lên đàn làm lễ thì ở viện báo về là tay chân có cảm giác …. lễ hơn 4 giờ mới xong … tối hôm đó thở đc … 2 ngày sau thì tự thở , rồi khỏe dần lên, người nhà đc vào thăm , cứ như vậy rồi ăn đc , ngồi dậy đc và tập đi , khoảng 15 ngày sau thì cho về tuyến dưới vì qua cơn nguy hiểm …. sau đó ra viện thày ạ !”]
Quý vị và ace thân mến.
Tất nhiên đây là một pp chỉ mang tính hiện tượng, khó có thể ứng dụng đại trà như Tây và Đông Y chữa bệnh. Nhưng rõ ràng là một sự kiện đáng chú ý. Bởi vậy, ưu tiên viết sách của tôi hính là cuốn “Đạo Đưc kinh nhìn từ văn hiến Việt”.
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

VĂN HÓA LÀ GÌ?

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH. HÔM NAY, XEM LẠI MỘT KỶ NIỆM LÀM LÃO GÀN HƠI BUỒN. Không còn cảm hứng, nên tạm dừng viết bài này.

Lên Google gõ chữ “văn hóa là gì?”. Cụ Google hiện ra cho một bài trên Bách Khoa toàn thư mở như sau:
Trích:
[“VĂN HÓA
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.[1]
Trong cuộc sống hằng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Các “trung tâm văn hóa” có ở khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận… Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa. Trong nhân loại họcxã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người [2]. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất.

Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản phẩm của người thông minh (Homo sapiens). Trong quá trình phát triển, tác động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính con người không không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo của con người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên.

Tranh tường Ai Cập cổ đại về việc cày cấy và bắt chim, khoảng 2700 năm trước Công nguyên, hiện lưu giữ ở bảo tàng Ai Cập, Cairo, Ai Cập.“]
Một định nghĩa khác tương tự của UNESCO về văn hóa như sau:
Theo UNESCO:
[‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc].
Nguồn dẫn: https://hoatieu.vn/van-hoa-la-gi-144301.
Thưa quý vị và các bạn.
Định nghĩa về văn hóa trên thư viện mở WikiVN cho thấy một cảm nhận mơ hồ về nội hàm khái niệm này. Nhưng ngay cả với định nghĩa về “Văn hóa” của cơ quan Văn hóa Liên Hiệp Quốc, cũng chưa thể hiện được ý nghĩa rốt ráo của từ này. Câu chữ trong định nghĩa trên của UNESCO cũng rất mơ hồ. Thế nào là “tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại”?
Theo như tôi được biết thì trên thế giới có hơn kém 400 định nghĩa về từ kép “Văn hóa”. Một trong những định nghĩa về văn hóa là của Gs Đào Duy Anh, viết trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương”, nổi tiếng của ông vào những năm 30 của thể kỷ trước. Theo đó, ông định nghĩa một cách đơn giàn: “Văn hóa là sinh hoạt“. Nếu so sánh đối chiếu với định nghĩa về “văn hóa” của cơ quan UNSCO thì định nghĩa của Gs Đào Duy Anh có nội hàm khái niệm khác nhau khá xa. Đấy là câu chuyện mới chỉ của hơn 80 năm trước, cách ngày nay
Từ hơn ngót 15 năm trước, trên dd lyhocdongphuong.org ,vn, tôi đã có định nghĩa về bản thể khái niệm nội hàm danh từ “Văn hóa”. Nhưng có lẽ nó không đúng thời điểm, nên chăng ai chú ý. Bây giờ tôi xin mô tả lại ở đây.
Thưa quý vị và các bạn.
Có người cho rằng: “Văn hóa” là viết tắt của từ “văn minh”, “khai hóa”. Nó tương tự như từ “kinh tế”, là viết tắt và dịch thoát ý từ cổ học Đông phương của cụm từ “Kinh bang, tế thế”.
Cũng rất có thể như vậy, Nhưng cho dù ý kiến đó đúng, thì nó cũng chỉ mô tả từ gốc và không có giá trị mô tả bản thể nội hàm khái niệm “Văn hóa”.
Có thể nói: Từ kép “Văn hóa” xuất hiện rất muộn trong ngôn ngữ Việt. Trước đó, trong hệ thống ngôn ngữ Việt không có từ “văn hóa”, mà các nhà nghiên cứu, các học giả Việt ở đầu thế kỷ trước, có từ kép tương đương là “Phong Hóa”. Cụ thể là: Tập san tạp chí “Phong Hóa”, hoặc “Nam Phong tạp chí” xuất bản vào những năm 30 của thế kỷ trước. Từ “Văn hóa” xuất hiện sau đó rất muộn. Có thể nói, vị học giả Việt Nam đầu tiên định nghĩa về “Văn hóa”, là ông Đào Duy Anh. Trong Việt Nam Văn Hóa Sử cương”, xuất bản vào đầu những năm 30 của thế kỷ XX, ông đã định nghĩa: “Văn hóa là sinh hoạt”. Tất nhiên định nghĩa này sai. Hoặc chí ít nó cũng không hoàn chỉnh. Bởi vì, sinh hoạt là một từ mô tả các hoạt động của mọi sinh vật, ngoài con người. Thế thì cần gì phải có từ “văn hóa” thay cho từ “sinh họa” nữa?
Bây giờ, chúng ta xem lại định ngĩa khái niệm nội hàm văn hóa của cơ quan UNESCO – cơ quan cao cấp nhất về văn hóa của nền văn minh hiện nay. Họ đã định nghĩa văn hóa, là:
[‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Không rõ ràng và không đầy đủ! Tôi chứng minh ngay bây giờ.

Với định nghĩa về văn hóa của UNSCO, chúng ta có thể chia làm hai vế của định nghĩa này. Vế thứ nhất: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại”. Thiếu sót ở vế này , là:
1/ Trong tương lai, các hoạt động sáng tạo có tạo ra văn hóa không? Đấy là khiếm khuyết mang tính thời gian.
2/ Thế nào là “Tổng thể sống động các hoạt động, sáng tạo“? Một bài thơ, một tiểu thuyết, một công trình nghiên cứu, một tư tưởng hoặc hệ thống tư tưởng triêt học, một lý thuyết khoa học,…Tất nhiên đó là “Tổng thể sống động các hoạt động, sáng tạo“. Nhưng có phải là “văn hóa” không? Tất nhiên là không! Bởi vì người ta có thể thay thế từ “văn hóa” với sự mô tả như trên bằng thuật ngữ: “Những hoạt động sáng tạo của con người trong nền văn minh”. Và như vậy, khái niệm “văn hóa” và “văn minh” bị lẫn lộn. Nhưng vế thứ hai của UNESCO là cứu cánh cho vế thứ nhất.
Vế thứ hai: “Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Cụm từ “Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu“, chúng ta có thể hiểu một cách mang tính thông cảm (Người Việt gọi là “du di”, bỏ qua cái tiểu tiết), là: qua thời gian. Và đoạn sau viết: “hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Tổng hợp lại nội hàm định nghĩa về Văn hóa của UNESCO chúng ta có thể cảm nhận – mang tính chủ quan về sự thông cảm – chỉ là ý muốn nói đến các sáng tạo của con người, qua thời gian chọn lọc (“Hàng thế kỷ”), trở thành các giá trị, truyền thống và thói quen, trong nếp sống (“Thị hiếu“). Và cuối cùng là: “những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Nhưng đấy là cách hiểu theo cách chủ quan, và thông cảm. Nhưng nếu chặt chẽ một chút thì ngày từ vế đầu đã không rõ ràng. Vậy thì bản chất của văn hóa là gì?
Để xác định vấn đề này, tôi cần nhắc lại tiêu chí khoa học, làm chuẩn mực để thẩm định một giả thiết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải là:
“Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri”.
Vậy thì – với một định nghĩa nội hàm khái niệm để mô tả bất cứ một cái gì, đều có thể coi như một giả thuyết khoa học về các các vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó. Và có thể thẩm định trên cơ sở tiêu chí khoa học nói trên, làm chuẩn mực để thẩm định tính đúng đắn của định nghĩa về “Văn hóa”. Trên cơ sở này, tôi định nghĩa lại về văn hóa.
Cứu cánh bắt đầu chính từ ngôn ngữ Việt.
Trong ngôn ngữ Việt – theo cách nhìn của tôi – thì từ “Văn” là một tập hợp gồm các phần tử:  Vằn, vệt, vết, viết, vẽ. Tức là một trong nhưng thuộc tính của từ “Văn”, nghĩa là chữ viết. Tât nhiên chữ viết thì không phải chỉ để viết văn. Nó có thể viết tất cả mọi thứ mà con người ngnghi4 ra để chia sẻ, truyền đạt, giao lưu trong mọi lĩnh vực.

 

 

 

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi