TẾT TRUNG THU BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU

 

– Vì sao Tết Trung Thu được VN gọi là Tết Trẻ em?

– Vì sao lại múa Lân là chính, không múa rồng?

– Vì sao lại có Ông Địa trước con Lân đang múa?

– Vì sao Tết Trung Thu và tất cả các loại Tết đều có nguồn gốc từ Việt sử, trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử?

 

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.

THẤY TRÊN CÁC BÁO MẠNG VÀ TRÊN MẠNG XÃ HỘI, CHÉM GIÓ VỀ NGUỒN GỐC TẾT TRUNG THU DỮ QÚA. Nhưng lại chẳng có bài nào thật sự thuyết phục. Thí dụ như bài của báo TN dưới đây.

https://thanhnien.vn/he-lo-nguon-goc-tet-trung-thu-khien-nhieu-nguoi-giat-minh-post1498069.html?fbclid=IwAR13gltVd_AC3GfDuETBT4_JgBe-hpc9vMpWfs0ta7figwEMzvDF8KL9tVg

 

Thưa quý vị và các bạn.

Đọc bài trên báo Thanh Niên theo đường linh như trên cho thấy tác giả bị “Ngộ độc xì dầu”. Cũng trên báo Thanh Niên, có đăng bài của Hoàng Triều Hải, xác định Tết Trung Thu của Việt Nam. Nhưng cũng không đủ sức thuyết phục. Ít nhất so với bài theo đường link nêu trên, xác định Tết Trung Thu của Tàu. Bởi vậy, nó có thể phản tác dụng.

Vậy bản chất Tết Trung Thu có nguồn gốc từ nền văn minh nào?

Trước hết, tôi bác bỏ luôn quan điểm cho rằng Tết Trung Thu là do Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện, rồi ra lệnh treo đèn kỷ niệm, là nguồn gốc của Tết Trung Thu. Hoặc một truyền thuyết khác cho rằng Tết Trung Thu được tạo ra, vì nó là ngày sinh của Đường Minh Hoàng…vớ vẩn cả. Bởi vì: 

1/ Phong tục Á Đông không có kỷ niệm này sinh nhật. Nếu vì là ngày sinh của Đường Minh Hoàng thì với hàng chục vua Đường sinh ngày nào thì đều…”tết” cả hay sao? Chưa nói đến tự dưng Đường Minh Hoàng dở chứng theo Tây, kỷ niệm sinh nhật? Hơ.

2/ Việc Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện chỉ là một truyền thuyết không có “cơ sở khoa học”, vì không thể kiểm chứng được. Tiêu chí khoa học phát biểu rằng:

Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tế có thể kiểm chứng được“.

Tết Trung Thu nếu là mô hình biểu kiến của giấc mơ “Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện”, rõ ràng không thể kiếm chứng được. Trước và sau Đường Minh Hoàng du Nguyệt Điện, chỉ có thằng Cuội của văn hóa truyền thống Việt du trên đó. Hơ.

Chưa hết, bài viết theo đường link trên báo TN, còn viết:

Trích:

[“Khái niệm Trung thu (中秋) xuất hiện lần đầu tiên trong sách Chu Lễ và Lễ Ký (thiên Nguyệt Lệnh) của Khổng Tử thời Chiến Quốc”]

Thưa quý vị và các bạn.

Từ Tết/ Tiết Trung Thu phản ánh một thực tại về không thời gian vào Tiết Trung Thu. Nay dẫn chứng sách Tàu nó có từ mô tả về một thực tại là Tiết trung Thu, thì Tết Trung Thu là của Tàu. Vậy nếu sách Tàu có từ mô tả mặt trăng, mặt trời,…thì mặt trăng, mặt trời cũng của Tàu hết sao?

Thưa quý vị và các bạn.

Tôi cần xác định ngay với quý vị và các bạn rằng: Tết Trung Thu có nguồn gốc từ nền văn hiến Việt, với gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử. Nó có cơ sở từ thuyết ADNH & Kinh Dịch thuộc về nền văn hiến Việt.

Để chứng minh điều này, tôi dẫn chứng rất cụ thể như sau:

1/ Vì sao tết Trung Thu là Tết Trẻ em.

Quý vị và các bạn đều biết tháng 8 Âm lịch luôn là tháng Dậu theo Địa Chi 12 con Giáp. Tháng Dậu thuộc Kim, chính vị của cung Đoài chính Tây. Theo Dịch học thì Đoài là Thiếu Nữ> Tức trẻ em. Quý vị xem hình dưới đây.

HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT

Quý vị và các bạn cũng thấy Quái Đoài/ Dậu ở chính Tây. Sách Tàu cũng ghi nhận quái Đoài/ Dậu chính Tây, chỉ khác là độ số 7, vì phối với Lạc Thư.

Tính chất 8 phương vị của Bát quái thì cung Đoài là “Con cái”. (Sách Tàu cũng thừa nhận chính Tây / Đoài / Dậu là cung “Con cái”)

                            

Đây là nguyên nhân đầu tiên và là cơ sở để thấy rõ rằng: Văn hóa truyền thống Việt xác định Tết Trung Thu là Tết của Trẻ em. Nó có cơ sở từ hệ thống Lý thuyết ADNH & Kinh Dịch thuộc về nền văn hiến Việt. Sinh nhật vua Đường Minh Hoàng kỷ niệm vào năm ông ta lên mấy tuổi nhể? Vớ vẩn.

2/ Vì sao Tết Trung Thu múa Lân?

Thưa quý vị và các bạn.

Trong Tứ Linh của nền văn minh Đông phương – thuộc về nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương Tử – chắc ai cũng biết. Đó là: Long, Lân, Quy, Phượng. Trong Địa lý phong thủy quy định các biểu tượng trên như sau: Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ, Hậu Huyền Vũ (Quy/ Rùa Đen), tiền Chu Tước (Phương hoàng) với mô hình chuẩn: Tọa Bắc, triều Nam. Vậy thì phía Tây chính là Bạch Hổ> Hóa Thân của Kỳ Lân.

Đây là nguyên nhân và cơ sở để vào dịp Tết Trung thu> trong văn hóa truyền thống Việt, các nhóm trẻ em thường tổ chức múa Lân. Vì Lân quản phương chính Tây/ Dậu đã nói ở trên. Trên cung trăng, Hằng Nga và thằng Cuội, không có múa Lân cho Đường Minh Hoàng xem.

 

 

 

 

 

 

 

3/ Vì sao Tết Trung Thu trẻ em lại rước đèn ông sao?

Cái này thì cần phải hiểu sâu về bản chất của khái niệm AD là gì. Vào đúng rằm Trung Thu, mặt trăng sáng rực rỡ và các ngôi sao đều mờ đi. Bởi vậy, việc rước đèn Ông sao chính là sự cân bằng Âm Dương.

 

 

 

 

 

 

 

 

4/ Vì sao trước con Lân trong đám múa Lân thường có hình ảnh Ông Địa?

Trước hết là Ông Địa Thuộc Thổ sinh Đoài Kim. Muốn Kim Vượng và là sự bắt đầu tốt đẹp cho một chu kỳ mới với thế hệ trẻ em và tài lộc thì cần phải có Ông Địa. Xin lưu ý: Đoài Tây Kim Theo “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” có độ số 9 (Độ số của Kim. Tàu là 7, độ số của Hỏa?). Độ số 9, cũng là độ số cao nhất của mô hình nguyên lý Cửu Cung để chuyển hóa sang một giai đoạn mới.

 

 

 

 

 

 

 

 

5/ Trong chính cuốn Kinh Lễ, được coi là “Tử” viết, cũng xác định Tết Cả/ Tết Nguyên Đán, là Tết của người Việt. Tết Cả đã là Tết của người Việt thì đừng nói Tết con là của Tàu. 

Nguồn gốc của tết vẫn còn đang được tranh cãi đó, nhưng hầu hết thông tin đều cho rằng ngày tết Nguyễn Đán có nguồn gốc từ Trung Quốc và được du nhập về Việt Nam trong 1000 năm bắc thuộc. Nhưng theo sự tích “Bánh chưng bánh dày” thì người Việt đã ăn tết từ trước thời vua Hùng, nghĩa là trước 1000 năm Bắc thuộc.

Có thể thấy tết ở Việt Nam đã có từ rất lâu, trước thời Tam Hoàng Ngũ Đế. Khổng Tử đã viết trong cuốn Kinh Lễ: “Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết “Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca, ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới,không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang, Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này”. Như vậy có có thể nói Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ Việt Nam.

Thưa quý vị và các bạn.

Đây là hai cuốn sách chứng minh rằng: Thuyết ADNh &Kinh Dịch thuộc về nền văn hiến Việt, với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến. một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử.

 

 

 

 

 

 

 

 


Qua đó để thấy rằng: Chính những nguyên lý của thuyết ADNh & Kinh Dịch, là cơ sở để hình thành nội dung của Tết Trung Thu, mà tôi đã hân hạnh trình bày ở trên. SW Hawking đã viết trong cuốn Lược Sử Thơi gian của ông: “Nếu một ngày nào đó, chúng ta tìm được Lý thuyết thống nhất, thì những quy luật vũ trụ được phát hiện sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta”.

Thưa quý vị và các bạn.

Tết Trung Thu với nội dung của nó, chính là sự ứng dụng quy luật vũ trụ trong sinh hoạt đời sống của nền văn hiến Việt.

Cảm ơn quý vị và các bạn quan tâm, chia sẻ.

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ VÀ CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ VÀ

CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN

 Thiên Sứ – Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Thưa quý vị và các bạn.

Người Việt rất hay kiêng cữ. Nếu thống kê thì người Việt kiêng cữ nhiều nhất so với các dân tộc khác trong lịch sử văn minh nhân loại. Kiêng “ra ngõ gặp gái”; kiêng “chim sa, cá nhảy”; kiêng…kiêng….kiêng đủ thứ.

Tác giả Thích Tâm Hiệp đã đặt vấn đề rất chính xác:

[“Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng“].

Và tác giả cũng phê phán sự ấu trĩ, khoác áo khoa học:

[“Thế mà, một thời, do cái thói tư duy chủ quan, tự cho mình có “khoa học” hơn người trước, nên chúng ta đã bôi bẩn, hủy hoại bao giá trị văn hóa của tiền nhân“].

Tôi cảm ơn tác giả và ủng hộ cách đặt vấn đề của ông. Nên tôi mới chia sẻ bài này. Tuy nhiên, tôi trình bày nguyên nhân cốt lõi của tục kiêng cữ của người Việt – theo cách hiểu của tôi – và chia sẻ với các bạn để cùng suy ngẫm.

Theo tôi có hai hình thức kiêng cữ.

  1. Kiêng cữ những hiện tượng xảy ra mang tính khách quan. Thí dụ: Kiêng chim sa, cá nhảy; kiêng gương vỡ; kiêng chuyển giường khi phụ nữ mang bầu….
  2. Thực hiện những nghi lễ truyền thống có tính kiêng cữ. Cúng 49 ngày, cúng 100 ngày, cúng cơm người mất, kiêng nói những điều xui xẻo….

Tất cả nhưng điều này, đúng như tác giả viết:

[“Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng“].

Tất cả những nguyên nhân vì sao ông cha ta kiêng, đều xuất phát từ một nguyên nhân chính yếu: Đó chính là xuất phát từ hệ thống nhận thức vũ trụ và thế giới, cũng như cuộc sống, xã hội và con người, của một dân tộc đã tồn tại với danh xưng văn hiến trải gần 5.000 năm lịch sử, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử.

I .        KIÊNG CỮ NHỮNG HIỆN TƯỢNG XẢY RA MANG TÍNH KHÁCH QUAN:

Theo tôi, tất cả các tục kiêng cữ của người Việt đều có nguyên nhân thực tế.

Thí dụ: 1/ Kiêng gương vỡ.
Khoa học đã chứng minh rằng: Gương phản chiếu lại tất cả mọi bức xạ. Do đó khi gượng vỡ, các mảnh gương tạo ra hiệu ứng bức xạ không đồng đều tương tác lên người soi gương. Đặc biệt là cài đều (Gương mặt người soi gương) sẽ có những bức xạ khác nhau chiếu vào. Nó sẽ gây rối loạn ổn định cấu trúc não. Nó sẽ tạo ra những phản xạ kém, dẫn tới đụng xe, hoặc cau gắt vô cớ làm mất đoàn kết trong  người thân…
2/ Kiêng chuyển giường phụ nữ mang thai gần ngày sinh.
Chính là sự thay đồi tính tương tác ổn định của Khí trong môi trường chỗ nghỉ ngủ. Người phụ nữ khi mang thai thường yếu. Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của họ.
3/ Hoặc khó hiểu hơn: Kiêng chim sa, cá nhảy.
Đó là do  sự tương tác của trường khí môi trường cụ thể, khi người nào đó đi ngang, bị chim sa, cá nhày lên bờ. Do trường khí thay đổi, nên chim đột ngột sa xuống, hoặc cá nhảy lên bờ. Đương nhiên là trường khí xấu, Và nó sẽ ảnh hưởng tới người đi qua môi trường đó….Tương tự như vậy, với các hiện tượng kiêng cữ.

Đương nhiên, với cách giải thích này, đã xác định, những tri thức tinh hoa của tổ tiên người Việt phải hiểu rất rõ về tương tác của “Khí” trong môi trường cuộc sống. Và khái niệm “Khí” cho đến hôm nay – trừ nhân danh nền văn hiến Việt – vẫn còn là một khái niệm bí ẩn trong hệ thống tri thức của nền văn minh Đông phương.

  1. NHỮNG NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG CÓ TÍNH KIÊNG CỮ

Ngoài những hiện tượng khách quan và phải kiêng cữ theo truyền thống, thì ông cha ta còn có những nghi lễ mang tính kiêng cữ. Thí dụ – được đề cập đến ngay trong bài viết của ông Thích Tâm Hiệp về nghi lễ Tang ma, như: lễ 49 ngày, 100 ngày. Căn cứ vào đâu để có nghi lễ này? Tại sao không 21 ngày, 36 ngày…? Mà cứ phải đúng 49 và 100?

Hoặc tại sao “Mùng 5, 14, 23” Âm lịch lại kiêng? Tại sao đám tang phải mặc áo sô trắng, con trai đội mũ rơm? Vì sao mẹ mất phải đi giật lùi trước quan tài, bố mất đưa đằng sau quan tài, đúng với câu “cha đưa, mẹ đón”? ,,,vv….

Những nghi lễ này mang tính chủ quan, do con người quy định. Vậy nó xuất phát từ cái gì để có nhận thức và quy định đó, trong các nghi lễ của con người?
SW Hawking đã xác định:
“Nếu chúng ta tìm được Lý Thuyết thống Nhất, thì chình những quy luật tự nhiên sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta”.

Rất nhiều kẻ tự nhận mình là trí thức, là hiểu biết, thậm chí có học hàm, học vị và cả quyền lực học thuật, một thời ra rả như ve rằng: Văn hóa Việt ảnh hưởng của Tàu. Nhưng chính người Tàu lại không hiểu gì về nguyên nhân ứng dụng của nó (?!). Ví dụ như kiêng ngày Tam Nương, được giải thích do ba người đàn bà nổi tiếng Trung Hoa vào cung cấm, là Bao Tự, Đát Kỷ và Điêu Thuyền (Có vài dị bản khác nhau).

Vấn đề kiêng cữ trong truyền thống dân gian Việt, nhiều đến nỗi có hẳn những cuốn sách dày cộp viết về đề tài này. Do đó, nếu giải thích hết thì không thể là việc của một cá nhân và hoàn toàn không tưởng; hoặc phải mất cả đời, như cụ Lê Gia giải thích bản chất nội hàm các câu thành ngữ, tục ngữ, phương ngôn….Việt Nam.

Nhưng tôi hy vọng rằng, tôi đưa ra được một định hướng cho các hiện tượng kiêng cữ này, và thế hệ sau tiếp tục.

Trước hết tôi cần xác định rằng: tất cả mọi hiện tượng văn hóa truyền thống Việt, chi tiết đến từng nghi lễ trong các phong tục truyền thống Việt, trong đời sống của người Việt, thâm chí trong cả ngôn ngữ Việt… đều là hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch. Ngay cả những nghi lễ mà tôi đã trình bày ở trên. Tôi xin lần lượt trình bày những vấn đề đã nêu.
Xin quý vị và các bạn xem hình dưới đây:

HÌNH LẠC THƯ ĐIỂM                                     HÌNH HÀ ĐỒ ĐIỂM                                                                                

 

  • Tục cúng cơm 49 và 100 ngày:
    Tất cả người Việt chúng ta đều biết rõ câu chuyện “Con Rồng, cháu Tiên” trong đó bọc trứng có 100 quả, sinh ra 100 người Con trai. 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo Mẹ lên núi. Đây chính là mô tả độ số của vũ trụ với Hà Đồ – Lạc Thư (Hình trện). Tổng có 100 vòng tròn. 50 vòng đen (Âm) và 50 vòng trắng (Dương). Cha thuộc Dương> Trong Dương có Âm, nên các con theo cha xuống biển (Âm). Me là Âm, nên các con theo mẹ lên núi (Dương).
  • Tục cúng 100 ngày:
    Khi hết chu kỳ tính theo ngày của một năm là 100 ngày cúng cơm, thì sẽ chuyển bàn thờ người quá cố lên bàn thờ chung của gia đình.
  • Tục cúng 49 ngày:
    Con số 50 ngày là hết một chu kỳ Dương (Dương trước), nhưng nếu vậy thì cô Dương, hay thuần Dương. Bởi vậy bớt một ngày là 49. Để không phạm vào Cô Dương.
    Các kiêng cữ mùng 5,14, 23:Đây là chu kỳ 9 với độ số của trung cung là 5. Trong đó, các ngày 14 = 5 + 9; 23 = 14 + 9. Tức Ngũ Hoàng nhập Trung theo Huyền không phi tinh. Hay nói cách khác: Nó cũng thuộc về hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Ngũ hoành là một sao xấu. Nên nhập trung ứng với công việc sẽ không tốt.
  1. Kiêng cữ 6 ngày Tam Nương sát:
    Gồm mùng 3; 7; 13; 18; 22; 27 Âm lịch hàng tháng. Đây chính là điểm chết của chu kỳ Lục Khí trong sự vận động của 30 ngày.

6. “Cha đưa, mẹ đón” trong nghi lễ tang chế:
Cha là Dương, nên theo cha theo nguyên lý “Dương trước, Âm sau”. mẹ là Âm nên con đi trước giật lùi, nhưng hướng về linh cữu. vì Mẹ là Dương so với các con, theo nguyên lý “Âm thuận tùng Dương”, nên các con phải đi giật lùi để hướng về linh cữu của mẹ.

7. Mặc áo sô trắng để chống bức xạ của Tử Khí:
Những nhà khoa học cũng xác định màu trắng có tác dụng tán các bực xạ xấu. Nên trong các bệnh viện, có liên quan đến bức xạ và cả Tử khí của người chết, các người làm việc thường mặc áo Blu trắng. Nhất là trong các viện nghiên cứu và cac lò phản ứng hạt nhân.
Do đó cho nên: Nghi lễ tang chế của người Việt mặc áo sô trắng hai lớp, là để chống bức xạ xấu.
7. Con trai đội mũ rơm: Hiện tượng này, anh chị em học viên các lớp Địa Lý Lạc Việt đều đã được biết rằng: Mọi vật thể xốp có tính hấp thụ và ngăn cản các bức xạ xấu. Mũ rơm là một dạng vật thể xốp. Và những người con trai phải đi sát quan tài. Nên đội mũ rơm để tránh bức xạ của Tử Khí xâm nhập vào não.

Tất cả những điều mà tôi trình bày trên đây, chỉ là nhưng ví dụ, có tính định hướng nghiên cứu , khi xác định rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch, chi phối tất cả đời sống và văn hóa truyền thống Việt. Bởi vì, dân tộc Việt chính là chủ nhân đích thức của nền văn minh Đông phương. Có thể có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng tôi không tranh luận. Nhưng cách giải thích của tôi, có tính hệ thống và nhất quán với mối liên hệ hợp lý cho tất cả các vấn đề liên quan đến nó. Đồng thời, nó cũng xác định câu nói nổi tiếng của SW Hawking, khi ông phát biểu – Đại ý – rằng:

Khi chúng ta tìm được một lý thuyết thống nhất, thì những quy luật tự nhiên của vũ trụ được nhận thức, sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta“.

Những nghi lễ, tập tục văn hóa truyền thống Việt, hoàn toàn thuận theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành – chính là Lý thuyết thống nhất, mà nhân loại đang tìm kiếm.

III.      VÌ SAO “CÓ THỜ CÓ THIÊNG, CÓ KIÊNG CÓ LÀNH”

Các vấn đề kiêng cữ của người Việt kể cả hiện tượng khách quan và những nghi lễ liên quan tôi đã trình bày ở hai phần trước. Nhưng vấn đề vì sao lại “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”? Bài viết này được bổ sung bởi anh Nguyễn Đắc Đại hỏi tôi về vấn đề này.

Vấn đề “Có kiêng, có lành” thì tôi đã xác định rằng: Nó không phải là sự kiêng cữ vu vơ. Mà là có nguyên nhân khách quan của những nhận thức đã bị thất truyền, do một nền văn minh bị sụp đổ. Hay nói một cách khác: Có một chân lý được nhận thức, đằng sau những tục kiêng cữ này.

Nhưng vấn đề còn lại: Tại sao “có thờ có thiêng”? Và bàn thờ bao giờ cũng được chọn vị trí trang trọng nhất với những nghi lễ long trọng nhất – dù bạn theo tôn giáo, hoặc tín ngưỡng nào.

Tôi có thể khẳng định rằng: nếu cách đây 50 năm, nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay sẽ không thể lý giải được điều này. Tất nhiên, điều đó cũng trở nên huyền bí trong suy nghĩ của nhiều người. Và những người tự cho mình có tri thức khoa học và chỉ tin theo những nhận thức gọi là “được khoa học công nhận”, sẽ luôn coi việc thờ cúng là “mê tín dị đoan”. Vậy nó thiêng ở chỗ nào?

Thờ Chúa; thờ Phật, thờ Đức Ala; thờ Ông Địa….thờ ai thì “thiêng” hơn? Hay cứ “có thờ, có thiêng”? Vì sao lại thiêng? Nó do con người tin vào sự thiêng liêng, hay thiêng thật?

Ở đây tôi chỉ đưa ra một cách giải thích và mọi người có quyền đưa ra một cách giải thích khác. Tôi không tranh luận.

Trước hết, tôi xin lưu ý quý vị và các bạn một sự kiện thực nghiệm của Vật Lý Lượng tử. Đó là các nhà khoa học đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng: “Ý thức tương tác với cấu trúc vật chất vi mô”. Cụ thể nó tương tác với các hạt cơ bản. So sánh với những tri kiến của Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – thì phát hiện của Vật Lý Lượng Tử mới chỉ là kiến thức sơ khai về bản chất của hiện tượng được thực nghiệm. Nền tảng tri thức khoa học hiện nay – cụ thể là Vật Lý lương tử – mới chỉ nhận thức qua thực nghiệm hiện tượng. Nhưng nền văn minh hiện nay vẫn chưa thể hiểu được bản chất cơ chế tương tác của ý thức với các hạt cơ bản. Bởi vậy, để giải thích được “có thờ, có thiêng” vẫn chưa thể rốt ráó, chính vì nên tảng tri thức của cả nền văn minh hiện nay, chưa đủ để hiểu biết tường tận những bí ẩn của thiên nhiên và vũ trụ.

Nhưng sự kiện thực chứng của Vật Lý Lượng tử – xác định một thực tế khách quan , là “ý thức tương tác với vật chất vi mô”, lại là nền tảng để có thể mô tả và giải thích vì sao “có thờ, có thiêng”.

Nếu cách đây trên 50 năm về trước, sẽ không thể giải thích điều này, vì thiếu những nền tảng tri thức khoa học thực nghiệm căn bản, nhằm xác định một thực tại khách quan. Và đến nay, chính những thực nghiệm này của ngành Vật lý Lương tử, xác định một sự liên hệ giữa hai phạm trù của cả triết học và khoa học là “Vật chất” và “Ý thức” – một các gọi khác của ý thức là “tinh thần”. Mặc dù từ rất lâu, trong lĩnh vực của triết học, người ta đã thừa nhận sự tương tác của ý thức lên vật chất. Sự khác nhau của “Duy tâm” hay “Duy vật”, chỉ là cái gì có trước và cái gì là bản thể quyết định của cái kia mà thôi.

Tóm lại, tôi muốn xác định với quý vị và các bạn rằng: Dù trong lĩnh vực triết học, hay khoa học thì đến ngày hôm nay, ở nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh, con người vẫn thừa nhận tính tương tác của ý thức với vật chất. Và điều này đã được các thực nghiệm của Vật Lý Lượng tử chứng minh.

Như tôi đã trình bày:

Nền tảng tri thức khoa học hiện nay – cụ thể là Vật Lý lương tử – mới chỉ nhận thức qua thực nghiệm hiện tượng. Nhưng nền văn minh hiện nay, vẫn chưa thể hiểu được bản chất cơ chế tương tác của ý thức với các hạt cơ bản.

Đương nhiên, khi nền tảng tri thức của cả một nền văn minh hiện đại, vẫn chưa thể hiểu được “bản chất cơ chế tương tác của ý thức lên vật chất vi mô”, của Vật Lý Lượng tử – thì – sự giải thích không thể coi là dễ hiểu.

Do đó, tôi cần xác định một số tiên đề để làm cơ sở cho việc giải thích: Vì sao “có thờ có thiêng”.

Tiền đề thứ nhất.

Định nghĩa về vật chất của tôi là:

[“Tất cả mọi dạng tồn tại có năng lượng và tương tác, đều là vật chất”].
Xin lưu ý: Tôi đã chứng minh luận điểm này trong “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020)

Đây là một nền tảng tri thức rất căn bản, mà tôi đã giảng trong khóa học 8 buổi về “Những kiến thức căn bản về Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt”. Trên cơ sở này, các học viên của lớp Địa Lý Lạc Việt, mới có thể hiểu rõ những tri kiến trong chuyên ngành ứng dụng Địa Lý Lạc Việt, Và họ sẽ hiểu rõ ngành Địa Lý Lạc Việt, hoàn toàn rất khoa học.

Mọi mô hình biểu kiến của Địa Lý Lạc Việt đều có chân lý khách quan, đằng sau những mô hình biểu kiến và phương pháp ứng dụng của nó.

Tiền đề thứ hai.

Định nghĩa về khái niệm “Khí” trong Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt, là:

[“Khí là một dạng tồn tại của vật chất phi khối lượng, phi hình thể. Được hình thành bởi sự vận đông và tương tác của vật chất vậtchất và tương tác trở lại với vật chất. Khí chính là trường tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất và với chính nó”]

Trên cơ sở của sự xác định qua thực nghiệm trong ngành Vật Lý Lượng tử và những tiền đề đã trình bày, tôi xác định rằng:

Việc thờ cúng – “có thờ có thiêng” – chính là sự tập trung ý thức của một cá nhân, một gia đình, một cộng đồng làng xã, một dân tộc cho một địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Dù họ thờ cái gì? Cho nên không có vấn đề thở vị này thiêng hơn kia. Alber Einstein đã xác định: Trong tương lai sự phát triển của nền văn minh, sẽ không tồn tại tôn giáo của từng cá nhân.

Sự giải thích này, trên cơ sở thực chứng của ngành Vật Lý Lượng tử và sự tương tác với năng lượng của một dạng vật chất quen gọi là “ý thức”.

Vậy thì tại sao nó lại thiêng? Và nó hình như cũng thiêng thật với hàng loạt hiện tượng, mà người ta có thể kể ra về sự linh thiêng của những nơi thờ tự (?!).

Sự tương tác của ý thức (Một dạng tồn tại của vật chất) với địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo ra một dạng “khí” và thông qua – trường khí tồn tại khách quan và độc lập – với hai đối tượng (Ý thức và địa điểm tín ngưỡng), tổng hợp thành một tập hợp những tương tác, tác động trở lại với môi trường, khiến nó trở nên “linh thiêng”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cụm từ mà tôi trình bày ở trên – [“trường khí tồn tại khách quan và độc lập”] – chính là điều kiện địa lý của môi trường có địa điểm tín ngưỡng, là chùa, miếu, đình, đền, nhà thờ….Và điều này giải thích vì sao các Địa Lý phong thủy gia – từ cổ chí kim – có thể dùng tri thức Địa Lý phong thủy để tác động đến sự linh thiêng của địa điểm tín ngưỡng, tôn giáo.

Tôi đã giải thích xong vấn đề “Có thờ có thiêng”, nhưng tôi cũng xin nhắc lại, rằng: Đấy chỉ là một sự giải thích. Bất cứ ai cũng có quyền giải thích khác tôi theo cách hiểu của họ. Tôi không tranh luận.

Tuy nhiên, tôi cũng cần xác định rằng: Việc gọi là “Đuổi mưa” thực chất chỉ là sự tương tác của ý thức với vật chất. Có điều quan niệm về vật chất của Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – và quan niệm về vật chất của nền văn minh hiện đại khác nhau khá xa.

Chưa nói đến bản chất cơ chế tương tác, cái mà tôi cần xác định rằng: Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay chưa biết gì về nó.

Ngài SW Hawking cho rằng: 50 năm trước khi Lý thuyết Tương đối của Eistein được công nhận, nền tảng tri thức của nền văn minh chưa đủ để đặt vấn đề về Lý Thuyết thống nhất. Tôi xin bổ sung thêm rằng: 100 năm nữa, nếu không thừa nhận Việt sử 5.000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương, thì nền văn minh hiện này cũng còn tiếp tục đặt vấn đề có hay không một Lý thuyết thống nhất.

Với định nghĩa về vật chất của tôi thì Thượng Đế và các thánh thần nếu còn tương tác với trần gian, thì các Ngài cũng phải có năng lượng – tức là một dạng tồn tại của vật chất. Có điều dạng tồn tại nào thì còn là sự tiếp tục khám phá. Những ai có tín ngưỡng vẫn cứ tiếp tục giữ niềm tin của các vị. Định nghĩa lại về vật chất, xóa bỏ ranh giới giữa ý thức và các khái niệm vật chất cổ kim, không có nghĩa Thượng đế và các thánh thần không tồn tại. Nhưng điều chắc chắn rằng: Định nghĩa lại về vật chất, sẽ làm thay đổi và mở rộng đối tượng nghiên cứu khoa học.

Đức Phật đã chứng minh một cách hoàn hảo trong bộ kinh nổi tiếng “Thần Chú Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm” rằng: Không thể có hai cái “Tính thấy” nhìn thấy nhau.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

BÀI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY LỚP TỬ VI LẠC VIỆT CAO CẤP – KHÓA I

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI GIỚI THIỆU

Anh chị em thân mến,

Danh xưng Tử Vi Lạc Việt, không phải là một trường phái, như hàng chục trường phái Tử Vi theo cổ thư chữ Hán. Chưa kể những sự thay đổi một cách cục bộ của các Tử Vi Gia người Việt.

Mà danh xưng Tử Vi Lạc Việt là sự xác định cội nguồn của môn Tử Vi thuộc về nền văn hiến Việt một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử.

Cổ sử Việt viết:
Nước Văn Lang lập quốc vào năm Nhâm Tuất năm thứ 8 vận VII hội Ngọ (2879 Trc CN). Phía Bắc giáp Động Đình Hồ, phía Nam giáp Hồ Tôn, phía Tây giáp Ba Thục, phía Đông giáp Đông Hải, được trị vì, bắt đầu từ thời Hùng Vương thứ I kéo dài 18 thời – theo Hùng triều Ngọc phả  – gồm 144 đời vua Hùng thay nhau trị vì. Triều đại Hùng Vương kết thúc vào năm 257 tr CN.

Những dòng chữ trên là lời văn của chính sử, được truyền lại qua các triều đại phong kiến, chứ không phải là truyền thuyết, huyền thoại.

Nền văn hiến Việt, chính là cội nguồn của Lý học Đông Phương, mà tôi đã chứng minh trong những cuốn sách đã xuất bản và các bài viết trên các diễn đàn Lý học. Từ đó,  xác định rằng: thuyết ADNh &Kinh Dịch, là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh từ một nền văn minh cổ xưa, mà tôi đặt tên là văn minh Atlantic. Dân tộc Việt đã kế thừa những di sản của nền văn minh này. Không chỉ dừng ở đó: Tất cả những giá trị  còn lại, mang tính ứng dụng của nền văn minh Đông phương – hệ quả ứng dụng của thuyết ADNh &Kinh Dịch với nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”, như : Địa lý Phong thủy, bốc Dịch, Đông y… đều thuộc về nền văn hiến Việt.
Sự sụp đổ của nền văn hiến Việt ở Nam Dương Tử với hơn 1000 năm Bắc thuộc, khiến cho những giá trị đích thực của nó đã thất truyền. Những di sản còn lại, chỉ là những mảnh vụn rời rạc, chắp vá và sai lệch trong quá trình Hán hóa.
Cho nên, cùng với danh xưng Địa lý Lạc Việt, Mai Hoa Việt Dịch …nay là sự xác định chủ thể của nền lý học Đông phương cổ thuộc về nền văn hiến Việt môn Tử Vi Lạc Việt. Tử Vi Lạc Việt  như là một công cụ thể hiện, tiếp tục chứng minh một các hoàn chỉnh những di sản Việt, hoàn toàn nhất quán có tính hệ thống với nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” trong toàn bộ hệ thống của thuyết ADNh &Kinh Dịch – phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt.
Tính rời rạc, cục bộ và sai lệch của môn Tử Vi theo các di sản bị Hán hóa, thể hiện ở sự tồn tại những trường phái khác nhau của môn Tử Vi nói chung. Do sự thất truyền của một hệ thống lý thuyết ADNh &Kinh Dịch, mà môn Tử Vi – chỉ là hệ quả của lý thuyết này – là nguyên nhân. hình thành các trường phái Tử Vi, thể hiện qua các di sản bằng bản văn chữ Hán của bộ môn dự đoán này.
Phương pháp chứng minh và xác định chủ thể đích thực của Lý học Đông phương, hoàn toàn nhất quán, là: Sử dụng tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng.
Tiêu chí căn bản làm chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phát biểu như sau:

“Một giả thuyết khoa học hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, hoàn chỉnh và nhất quán, có tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri”

Do đó, việc hiệu chỉnh và hoàn thiện môn Tử Vi Lạc Việt,  hệ quả ứng dụng của thuyết ADNh & Kinh Dịch – vốn rời rạc, mâu thuẫn qua các di sản còn lại liên quan, trong cổ thư chữ Hán – trở thành một bộ môn có hệ thống phương pháp luận hoàn chỉnh, nhất quán với hệ thống lý thuyết ADNh & Kinh Dịch là nền tảng của nó – được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt. Khoa Tử Vi Lạc Việt phục hồi, là sự tiếp tục xác định tính khoa học phù hợp với tiêu chí khoa học đã trình bày ở trên, có tính hệ thống, trong tổng thể tri thức Lý học của nền văn minh cổ Đông phương.

Lớp Mai Hoa Việt Dịch, Địa Lý Lạc Việt – là sự tiếp tục xác định các phương pháp ứng dụng hệ quả của thuyết ADNH & Kinh Dịch với nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” –thuộc về nền văn hiến Việt.

Trên cơ sở này, khóa học Tử Vi Lạc Việt cao cấp 1, cũng là một sự tiếp tục chứng minh tính khoa học mang tính hệ thống, giải thích và chứng minh một cách hợp lý, bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực của sự phục hồi thuyết ADNh và kinh Dịch, nhân danh nền văn hiến Việt.

Và khóa học Tử Vi Lạc Việt xác định rằng: Tử Vi Lạc Việt, không phải là một trường phái như các trường phái theo các văn bản cổ chữ Hán. Mà nó là sự tổng hợp những di sản còn trong cổ thư chữ Hán mô tả Tử Vi.

Đó cũng là sự tiếp nối hoàn chỉnh của thuyết ADNh và kinh Dịch và là nguyên nhân để nó không phải là một trường phái .

Do đó, Tử Vi Lạc Việt có tính ưu việt – về mặt lý thuyết ứng dụng – là sự tông hợp và hiệu chỉnh những giá trị đích thực cùa môn dự đoán này. Tử Vi Lạc Việt và các môn ứng dụng liên quan đến việc phục hồi nhân nền văn hiến Việt khác, như: Địa lý Lạc Việt , Mai Hoa Việt Dịch…nhằm phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, đều có sự liên kết có tính hệ thống, nhất quán từ hệ thống lý thuyết căn bản đó là thuyết ADNh và kinh Dịch với nguyên lý căn để là “Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” vơi sự hoàn chỉnh tất cả mọi vấn đề liên quan đến nó. Nhằm xác định toàn bộ hệ thống cổ học Đông Phương – từ hệ thống lý thuyết căn bản  và những hệ quả ứng dụng của nó, thuộc về nền văn hiến Việt .

Chính vì là sự hiệu chỉnh những di sản còn lại đã thất truyền chỉ còn những mảnh vụn rời rạc chắp vá được mô tả trong các bản văn chữ Hán . Cho nên Tử Vi Lạc Việt không phải là sự phủ nhận tất cả, mà là sự hiệu chỉnh trên cơ sở nguyên lý căn để “Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt”. Trên cơ sở nàyTử Vi Lạc Việt là một phần tử ứng dụng, có tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán với thuyết ADNh và kinh Dịch

Những hành vi của con người với những diễn biến của cuộc đời, được dự đoán trong môn Tử Vi đã tồn tại hàng ngàn năm qua, trong xã hội Đông Phương. Và những khả năng dự đoán chính xác, có hiệu quả cho những hành vi của con người trước tương lai, chính là điều kiện cho môn Tử Vi tồn tại cho đến ngày hôm nay. Mặc dù, người ta vẫn chưa hiểu cơ chế nào làm nên khả năng dự đoán kỳ diệu và bí ẩn của phương pháp dự đoán này. Có thể nói rằng, Tử Vi và những bộ môn dự báo của nền văn minh Đông Phương, chính là một thành tố quan trọng làm nên sự bí ẩn của nền văn minh cổ.

Kể từ khi có sự hội nhập của nền văn minh toàn cầu, thì những giá trị của nền văn minh Đông Phương cổ vẫn sừng sững thách đố trí tuệ của nền văn minh hiện đại. Cơ chế nào để cho Tử Vi – cũng như những bộ môn dự báo khác của nền văn minh Đông Phương – có khả năng dự báo một cách chính xác đến từng hành vi của con người?

Khoa học đã xác định rằng: “Không có tính quy luật thì không có khả năng tiên tri”. Vậy thì những đại lượng biểu kiến được mô tả trong các phương pháp dự báo của Đông Phương nói chung và Tử Vi nói riêng, phản ánh những quy luật nào? Hay nói rõ hơn: Những đại lượng đó – đã phản ánh một thực tại khách quan nào, đang vận động nào trong hệ biểu hiện của nó, để nó có một khả năng tiên tri đến huyền vĩ như vậy?

Trong những dữ kiện của phương pháp dự đoán của Tử Vi, hoàn toàn không có những yếu tố thần quyền. Nhưng với mô hình và phương pháp coi Tử Vi, có vẻ như mô tả một thực tại khách quan đang vận động và tương tác có thể dự đoán đến từng hành vi của con người, rất có tính quy luật và khách quan – từ những dữ kiện phụ thuộc vào yếu tố đầu vào, là: năm, tháng, ngày, giờ sinh của người được xem Tử Vi với những kết quả dự báo có thể kiểm chứng được.
Một tiêu chí khoa học xác định rằng:
Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thê kiểm chứng được.
Trên thực tế phương pháp coi Tử Vi đã xác định rằng:

Tử Vi chỉ là mô hình biểu kiến, mà trên đó thể hiện có tính quy luật vận đông của các đại lượng được gọi là “sao”. Trên cơ sở phân bố các”sao” này tạo ra một mô hình cụ thể, phụ thuộc dự kiện đầu vào là ngày tháng năm sinh.

Cho nên, vấn đề được đặt ra:

Với dữ kiện đầu vào của khoa Tử Vi – là những đơn vị thời gian – đã phản ánh một không gian vũ trụ nào tương ứng với nó?

Khóa Tử Vi Lạc Việt cao cấp I, không chỉ dừng lại ở sự truyền đạt phương pháp dự báo. Mà còn là sự tìm hiểu toàn diện những sự kiện và vấn đề liên quan đến nó. Một giả thuyết hợp lý, mà tôi đã đặt ra khi tiến hành tìm hiểu bộ môn này, đó chính là sự vận động có tính quy luật của không gian vũ trụ liên quan đến Địa cầu – là một thực tại khách quan, được mô tả trong mô hình Tử Vi.

Phải chăng chính những sự tương tác qua những quy luật vận động của vũ trụ, thể hiện qua các hành tinh và các ngôi sao, bên trong và bên ngoài Thái Dương Hệ đã được mô hình hóa trong hệ biểu hiện của nó, đã làm nên nội dung của  môn dự đoán cổ Đông Phương này?!

Tuy chưa xác định được cụ thể những đại lượng được sắp xếp trong mô hình Tử Vi, là những sao nào và bản chất tương tác của chúng, do những điều kiện hạn chế về phương tiện và điều kiện nghiên cứu- thế nhưng những yếu tố gần gũi đã xác định điều này.

Trong nền văn minh Đông Phương cổ cũng như nhiều di sản khác của nền văn minh  này, là: Kinh Dịch, Địa Lý Phong Thủy, Đông Y,…đều có những yếu tố sai lệch, không thống nhất về mặt nội dung, và có những yếu tố không rõ ràng trong những văn bản cổ còn lại. Riêng môn Tử Vi, cũng có nhiều sách viết khác nhau về những chi tiết liên quan đến tính chất của các sao và phương pháp an sao. Có thể nói rằng cho đến ngày hôm nay gần như chưa có một nhà nghiên cứu nào đưa ra một phương pháp thẩm định tính đúng sai của những văn bản cổ còn lại khác nhau đó.

Trong khóa Tử Vi Lạc Việt cao cấp I, tôi không có tham vọng lớn lao là đi tìm bản chất những tương tác có tính quy luật là nền tảng của tri thức đã tạo ra bộ môn Tử Vi. Nhưng cần xác định vấn đề mô tả lại môn Tử Vi trở về với giá trị đích thực của nó, trên cơ sở so sánh và đối chiếu với các văn bản cổ, với những tiêu chí khoa học về một phương pháp được coi là khoa học, cùng các tri thức khoa học liên quan, Trong khóa  Tử Vi Lạc Việt cao cấp I, ứng dụng một cách nhất quán nguyên lý căn để, là “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”, để so sánh hiệu chỉnh lại bộ môn này.

Nền văn minh Đông phương với một hệ thống tri thức đồ sộ, huyền vĩ, bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, xã hội và con người, đang sừng sững thách đố toàn bộ tri thức của nền văn minh hiện đại. Giáo sư Lê Văn Sửu đã viết trong cuốn “Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông” của ông như sau:

Gần đây có rất nhiều nhà khoa học ở đủ mọi ngành và ở nhiều nơi trên thế giới, với các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay, họ đã và đang nghiên cứu nền tảng của di sản văn minh phương Đông này. Thế nhưng, sự tiếp cận thực chất của nó còn đang là một khó khăn to lớn.

Chúng ta đang khám phá một hệ thống lý thuyết, chứ không phải tìm hiểu những dạng tồn tại của vật chất. Cho nên, không thể lấy kính hiển vi điện tử để phóng to quẻ Càn xem bản chất nó là gì?! Sự sai lầm về phương pháp nghiên cứu cho dù là những “các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay”, vẫn thất bại”. Đây chính là nguyên nhân để những hệ thống tri thức Đông phương vẫn sừng sững một cách huyền vĩ, thách đố cả một nền văn minh hiện đại.

Với một phương pháp nhất quán, căn cứ vào các tiêu chi khoa học để thẩm định một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học được coi đúng. Tôi hy vọng sẽ chia sẻ được những vấn đề bản chất của môn Tử Vi Lạc Việt trong khóa này.

Ngày mùng 7 tháng 8 năm Nhâm Thìn Việt lịch

Ngày 22 tháng 9 năm 2012

Nguyễn Vũ Tuấn Anh

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

SÁCH PHÍA TRƯỚC TRẦN THỜI GIAN & KHÍ – TRƯỜNG TƯƠNG TÁC CỦA VŨ TRỤ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU.

Thưa quý bạn đọc.
Ngài SW Hawking đã phát biểu trong cuốn sách nổi tiếng “Lược Sử thời gian” của ông:

“Để có một Lý Thuyết Thống Nhất , trong điều kiện hiện nay của nền văn minh,  chúng ta  phải thiết lập những Hệ tiền đề”.

Phát biểu của ngài SW Hawking đã chứng tỏ: Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại của chúng ta, chưa phải là một hệ thống hoàn hảo, có tính nền tảng đủ để thiết lập một hệ Lý Thuyết Thống Nhất. Điều này cũng giống như vào thời Vua Louis XIV, chưa đủ nền tảng tri thức để hình thành nên Thuyết Tương đối của Enstein. Cho nên, để bù đắp lại khoảng trống trong nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại, trở thành một hệ thống tri thức nền tảng hoàn chỉnh, làm cơ sở hình thành một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ, nó cần có những những Hệ tiền đề.
Hay mô tả dưới một hình thức khác – và điều này đã được các nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện đại thừa nhận – là:
Những nhận thức mới nhất về bản chất của vật chất và những hệ thống lý thuyết khoa học mũi nhọn tiên tiến nhất hiện nay về mọi lĩnh vực, chỉ là những hệ thống lý thuyết mô tả cục bộ; và nó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong toàn bộ nền tảng tri thức cần có của một nền văn minh, làm cơ sở cho sự hình thành nên một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất hoàn chỉnh.

Cho nên, tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này của ngài Hawking. Và có thể nói rằng: Hai quyển sách của tôi : “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020 và cuốn “ Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức 2019, là hai Hệ tiền đề làm nền tảng, để xác định rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành & Kinh Dịch, về bản chất, là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán, có tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan với khả năng tiên tri. Và cũng chính là Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước. Điều này cũng phù hợp với lời dự ngôn nổi tiếng của của bà Baba Vanga khi phát biểu rằng :

“Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại”.

Đến đây, một vấn đề được tiếp tục đặt ra: Làm thế nào để thẩm định một Hệ tiền đề được coi là đúng, khi những Hệ tiền đề đó xuất hiện và tồn tại với tư cách bổ sung cho những khiếm khuyết trong nền tảng tri thức của một nền văn minh?
Cho nên – ngoài vấn đề mà ngài SW Hawking đã đặt ra về sự cần thiết của những Hệ tiền đề – tôi thấy cần phải phát biểu thêm những tiêu chí khoa học, làm chuẩn mực để thẩm định nội hàm của những Hệ tiền đề được coi là đúng cho những Hệ tiền đề nói chung, có thể xuất hiện trong hiện tại và cả tương lai – khi những Hệ tiền đề này với tư cách bổ sung những khoảng trống tri thức mang tính nền tảng của nền văn minh hiện đại –  là:
I/ Những Hệ tiền đề được coi là bổ sung cho khoảng trống tri thức của nền văn minh hiện nay, phải tích hợp với những giá trị tri thức nền tảng hiện có của nền văn minh đã được xác định tính chân lý, bổ sung cho những khiếm khuyết của nó, để trở thành một hệ thống có cấu trúc hợp lý, có tính nhất quán, hoàn chỉnh, đủ để có sự phát triển tiếp tục những Hệ tiền đề mới, hoặc đủ để xác định một Lý Thuyết Thống Nhất.
II/ Những Hệ tiền đề bổ sung cho khoảng trống tri thức nền tảng của một nền văn minh, phải có khả năng tiếp tục phát triển trên nền tảng đã được bổ sung đó những tiền đề mới, hoặc xác định được một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất.
Nếu không thỏa mãn những tiêu chí này, thì tất cả những Hệ tiền đề, chỉ là những ảo vọng. Hay nói rõ hơn: Người ta không thể tùy tiện đặt ra những Hệ tiền đề, nếu không thỏa mãn tiêu chí mà tôi bổ sung nói trên.
Tức là, hai cuốn sách của tôi đã trình bày (“Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020 và cuốn “ Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức 2019), cũng phải thỏa mãn được tiêu chí mà tôi đã phát biểu bổ sung, như là một chuẩn mực thẩm định tính chân lý của nó.

Cần phải xác định rằng:
Ngay cả khi các nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện này công nhận, hoặc không công nhận hai tiền đề của tôi, trình bày trong hai cuốn sách trên. Thì vấn đề vẫn phải tiếp tục đặt ra với tiêu chí thứ II, là:
II/ Những Hệ tiền đề bổ sung cho khoảng trống tri thức nền tảng của một nền văn minh, phải có khả năng tiếp tục phát triển trên nền tảng đã được bổ sung đó những tiền đề mới, hoặc xác định được một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất.
Tức là nó phải có sự phát triển tiếp tục trên nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại với sự tích hợp của những tiền đề được bổ sung, để xác định một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất. Cụ thể ở đây chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành & Kinh Dịch.

Sự phát triển tiếp tục của hai tiền đề nói trên với sự tích hợp những trí thức nền tảng của nền văn minh, là nội dung của cuốn sách, mà bạn đọc đang cầm trên tay, có tựa đề là “Phía trước Trần Thời Gian & Khí – Trường Tương Tác của vũ trụ”.

Thưa quý vị bạn đọc.
Trần Thời Gian, với khoảng khắc vô cùng nhỏ 10 -47 /giây sau giây | O |. Tri thức của nền khoa học hiện đại đã không thể biết được trong khoảnh khắc vô cùng nhỏ đó, cái gì đã xảy ra? Họ đã giải thích bằng thuyết Big Bang, nhưng cần xác định rằng:
Nếu thuyết Bigbang đúng thì nó sẽ phải tiếp tục giải thích được tất cả những hoài nghi của nền văn minh hiện đại, về sự vận động và tương tác của vũ trụ sau giây | O |. Nhưng ở đây nó chỉ dừng lại ở chính nội hàm của thuyết Big Bang và những bí ẩn của vũ trụ vẫn là điều cần khám phá.

Ở đây, chưa nói đến những nguyên lý, những phạm trù rất căn bản của nền văn minh hiện nay bị sai. Tất nhiên, người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.

Do đó, trong cuốn sách này sẽ đề cập đến những sai lầm nói trên có tính nguyên lý nền tảng của nền văn minh hiện đại. Đó là khái niệm: vật chất; không gian 3 chiều; điểm; vấn đề Không gian và Thời gian … Cuốn sách này sẽ thiết lập lại nội hàm những khái niệm nói trên mang tính hệ thống,  nhất quán, hoàn chỉnh hợp lý trên mọi phương diện và tổng hợp lại, để chứng minh rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành & Kinh Dịch chính là Lý Thuyết Thống Nhất.
Trong cuốn sách này, cũng phân tích và chứng minh sai lầm của lý thuyết Higg. Điều mà tôi đã xác định từ năm 2008 trên dd lyhocdongphuong.org. vn. Đến năm 2016, các nhà khoa học tinh hoa, đã xác định: “Không có Hạt của Chúa”. Nhưng họ mới chỉ xác định trên cơ sở thực nghiệm với cỗ máy LHC. Còn cuốn sách này, trên cơ sở phấn tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh các luận cứ của lý thuyết Higg, để chi ra sai lầm ngay trong cấu trúc của học thuyết này. Đó chính là cơ sở để tôi xác định lý thuyết Higg sai, ngay từ khi cô máy thực nghiệm LHC chưa lắp ráp xong từ 2008.
Với phương pháp chứng minh tương tự như vậy với Lý thuyết Dây – một lý thuyết mũi nhọn của Vật Lý Lý thuyết hiện nay – cũng sẽ được phân tích trong cuốn sách này và chỉ ra sai lầm của nó. Từ đó, làm cơ sở để xác định “Khí – Trường Tương Tác của vũ trụ”
Tất cả nội dung cuốn sách, sẽ xác định với bạn đọc sự thỏa mãn với tiêu chí II, mà tôi đã trình bày ở trên. Và nó cũng sẽ mô tả vũ trụ trước Trần Thời Gian với sự chứng minh: Thuyết ADNh & Kinh Dịch, chính là Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ.

Vấn đề cần nói rõ hơn với tiêu chí thứ nhất:
I/ Những Hệ tiền đề được coi là bổ sung cho khoảng trống tri thức của nền văn minh hiện nay, phải tích hợp với những giá trị tri thức nền tảng hiện có của nền văn minh hiện nay, đã được xác định tính chân lý, bổ sung cho những khiếm khuyết của nó, để trở thành một hệ thống có cấu trúc hợp lý, có tính hệ thống và nhất quán, đủ để có sự phát triển tiếp tục những Hệ tiền đề mới, hoặc đủ để xác định một Lý Thuyết Thống Nhất.
Tại sao lại đặt vấn đề:
Những Hệ tiền đề được coi là bổ sung cho khoảng trống tri thức của nền văn minh hiện nay, phải tích hợp với
những giá trị tri thức nền tảng hiện có của nền văn minh hiện nay đã được xác định tính chân lý,
Bởi vì một tiêu chí khoa học đã phát biểu rằng:
Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải không phủ nhận những giá trị tri thức khoa học trước đó, đã xác định tính chân lý.
Từ tiêu chí khoa học này, đã xác định rằng: bất cứ một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được hình thành, phải hàm chứa và tích hợp được các lý thuyết, hoặc nhận thức thực tại khách quan được xác định tính chân lý, trong quá trình tiến hóa của cả một nền văn minh. Tức là những giả thuyết, hoặc lý thuyết mới phải có một mối liên hệ hợp lý và chặt chẽ với những nền tảng trí thức đã có và được xác định tính chân lý. Từ đó tạo ra một hệ thống tri thức nền tảng mới của nền văn minh đó.
Đây chính là nội dung của tiêu chí I, mà tôi đã trình bày ở trên. Nếu không thỏa mãn tiêu chí này thì đấy là một Hệ tiền đề sai.
Trên cơ sở hai tiêu chí tôi đã nêu và sự xác định hai cuốn sách của tôi (“Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020 và cuốn “Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức 2019), là hai Hệ tiền đề đúng, thì nó phải thỏa mãn hai tiêu chí trên, làm chuẩn mực để thẩm định tính chân lý của hai Hệ tiền đề này.
Hai cuốn sách của tôi (Hai Hệ tiền đề), mô tả rằng:
Tiền đề thứ nhất – “Minh triết Việt trong văn minh Đông phương”, Nxb Hồng Đức 2019, xác định và chứng minh rằng:
Có một nền văn minh rực rỡ cổ xưa, tồn tại trước lịch sử nhận thức được – mang tính nhận thức phổ biến của nền văn minh hiện đại – và nền văn minh này đã bị hủy diệt. Tôi đặt tên là văn minh Atlantic. Dân tộc Việt Nam hiện nay, là một trong những chủng tộc còn sống sót của nền văn minh này, còn giữ được những hệ thống tri thức nền tảng của nền văn minh Atlantic.
Tiền đề thứ hai – “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, Nxb Hồng Đức 2020, xác định và chứng minh rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ Hành & Kinh Dịch là hệ quả của hệ thống nền tảng tri thức của nền văn minh Atlantic. Hay nói rõ hơn: Nền văn minh Atlantic, chính là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ Hành & Kinh Dịch. Những di sản còn lại liên quan đến học thuyết này qua các bản văn chữ Hán, chỉ là những mảnh vụn rời rạc, chắp vá và sai lệch, có nguồn gốc từ những giá trị đích thực của nền văn hiến Việt và nền văn minh này đã sụp đổ từ 2300 năm trước, bên bờ Nam sông Dương Tử và lần lượt bị Hán hóa trong hơn 1000 năm Bắc Thuộc.

Như vậy, căn cứ vào hai tiêu chí trên, thì những tiền đề này (“Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, Nxb Hồng Đức 2020 & “Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức 2019), phải tích hợp được với những giá trị tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại. Chí ít là những lý thuyết khoa học hiện đại tiên tiến nhất. Đồng thời nó phải chỉ ra và giải quyết những vấn nạn của nền  văn minh hiện đại, về các phạm trù: Không/ Thời gian; bản thể phạm trù vật chất, không gian đa chiều…
Cuốn sách “Phía trước Trần Thời Gian & Khí – Trường Tương Tác vũ trụ” trên tay bạn, chính là sự tiếp tục mô tả sự tích hợp với nhũng lý thuyết mũi nhọn và tiên tiến nhất của nền văn minh hiện đại – trên cơ sở hai tiền đề, mà tôi đã giới thiệu – nhằm giải quyết những vấn nạn của nền văn minh  này; và xác định một nền tảng tri thức hoàn chỉnh của nền văn minh, làm cơ sở để xác định một lý thuyết thống nhất. Đồng thời nó cũng phải thỏa mãn tiêu chí II, xin được nhắc lại tại đây

“Những Hệ tiền đề bổ sung cho khoảng trống tri thức nền tảng của một nền văn minh, phải có khả năng tiếp tục phát triển trên nền tảng đã được bổ sung đó những tiền đề mới, hoặc xác định được một hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất.”

Thưa quý bạn đọc.
Cuốn sách này có tham vọng mô tả một Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ nhân danh khoa học và những giá trị của nền văn hiến Việt – một nền văn minh một thời huy hoàng bên bờ Nam song Dương Tử, là một trong những nền văn minh cổ đại kế thừa những giá trị đích thực của nền văn minh Atlantic; chủ nhân của thuyết ADNh & Kinh Dịch .

Thưa quý bạn đọc.
Cũng như hai cuốn sách xuất bản trước, tôi xin được phép nhắc lại rằng:
Chúng ta đang phục hồi một hệ thống lý thuyết, mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ từ giây 0 cho đến mọi sự vận động tương tác trong quá trình hình thành vũ trụ cho đến ngày hôm nay và cả tương lai, có khả năng tiên tri (tôi nhấn mạnh điều này). Do đó, để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chúng ta phải sử dụng những tiêu chí khoa học để thẩm định tính chân lý của nó. Và đây là phương pháp nghiên cứu và chứng minh của tôi, xuyên suốt trong toàn bộ cuốn sách mà bạn đang có trên tay – ““Phía trước Trần Thời Gian & Khí – Trường Tương Tác vũ trụ”

Thưa quý bạn đọc.
Tham vọng thì lớn lao, nhưng kiến thức thì có hạn. Do đó, không tránh khỏi những thiếu sót. Và với một Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ, nằm ngoài vòng tròn nhận thức của cả một nền văn minh – nói theo cách nói “Định luật Bất Toàn” của Godel – cho nên, cuốn sách này chỉ là một cột mốc trên chặng đường để tiến tới một Lý Thuyết Thống Nhất, ngay cả khi nó được coi là đúng và chấp nhận rộng rãi. Trong trường hợp này – ngay cả khi nó được coi là đú,ng và chấp nhận rộng rãi – nó cũng phải cần có những công trình nghiên cứu tiếp tục của các bậc trí giả tinh hoa, thuộc nên văn minh hiện đại để phục hồi lại một cách hoàn chỉnh hệ thống Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ này.

Bởi vì thuyết ADNh& Kinh Dịch không chỉ dừng lại với tư cách Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ . Mà nó còn phát triển khả năng ứng dụng với những hệ thống, phương pháp luận riêng phần trong mọi lĩnh vực liên quan đến cuộc sống, xã hội, con người, như : Đông Y; Địa lý Phong thủy; dự báo cho từng số phận con người – Tử vi, Tử bình, Bốc dịch; các hiệu ứng tương tác vận động của vũ trụ lên trái Đất và tác động lên cuộc sống của con người như Kì Môn Độn Giáp, Thái Ất Thần Kinh với khả năng tiên tri.

Do đó, khi thuyết ADNh & Kinh Dịch được phục hồi nhân danh một Lý Thuyết Thống Nhất vũ trụ, thì nó phải tiếp tục phát triển với sự liên hệ một cách có hệ thống, theo chuẩn mực thẩm định của những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng với tất cả các vấn đề liên quan đến nó, tối thiểu là trong các hệ luận ứng dụng, đã trình bày ở trên. Cần phải xác định rằng:
Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ và rộng khắp trên mọi phương diện. Khó có thể giải quyết được trong một đời người. Người viết rất hy vọng rằng cuốn sách này sẽ tiếp tục góp phần vào sự phát triển của nền văn minh chúng ta.
Xin chân thành cảm ơn quy1 bạn đọc quan tâm.

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

ANH CHỊ EM CÁC LỚP LẠC VIỆT THÂN MẾN.

ANH CHỊ EM CÁC LỚP LẠC VIỆT THÂN MẾN.

Cổ thư viết :

Thiên Tử trọng hiền hào,

Văn chương giáo nhĩ tào;

Vạn ban giai hạ phẩm,

Duy hữu độc thư cao.

Qua bài thơ này cho thấy, ngày xưa các triều đại phong kiến cổ Việt Văn Lang (*) đã tôn trọng đề cao sự đọc sách để trau dồi trí huệ như thế nào.

Chú thích: Sở dĩ tôi xác định bào thơ này trong sách Tứ thư Ngũ Kinh của Nho giáo – Khổng Tử (khoảng 500 Tr CN), là thuộc về nước cổ Việt Văn Lang. Bởi vì, khái niệm Thiên tử (con trời) xuất hiện rất muộn trong lịch sử văn minh Hán. Đến đời nhà Tần 200 năm TCN thống nhất Trung Quốc , cũng chỉ nhận là Tần Thủy Hoàng Đế, các vị vua kế tiếp cũng chỉ là Tần Nhị Thế; Tần Tam Thế….Cho đến đầu đời Đông Hán , vua cũng không nhận mình là “Thiên Tử”. Cho đến khi Trần Bình Tả Thừa tướng thời Đông Hán chấn chỉnh nghi lễ triều chính, mới có danh xưng gọi vua là Thiên Tử. Cho nên, tôi xác định rằng khái niệm Thiên Tử xuất hiện 500 năm TCN và được gán cho Khổng Tử là điều vô lý, đây là một sản phẩm của nên văn minh Lạc Việt, bị gán cho Khổng Tử sau thời gian Bắc thuộc 1000 năm và bị Hán hóa . Tôi đã chứng minh điều này trong những cuốn sách đã xuất bản : “Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức -2019; “ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức – 2020 , trong đó Kinh Dịch thuộc về Việt tộc. Cho nên bài thơ này không thể thuộc về Khổng Tử trước tác . Có điều kiện tôi sẽ phân tích rõ hơn điều này.

Nhưng đời người chúng ta chỉ có 100 năm  và cũng còn là một con số lý tưởng. Cho nên dù cả một đời học, cũng không thể tiếp thu được hết kho tàng kiến thức của nhân loại. Nó tương tự như một người nào đó, tin vào một thứ tôn giáo nào đó. Và đến lúc chết – Tử Vì Đạo . Họ vẫn tin vào hệ thống giáo lý của họ. Lịch sử đã cho thấy rằng:

Hầu hết cả các tôn giáo đều có những Thánh Tử Đạo, và các tôn giáo đó chống lại nhau, giết người để bảo vệ điều mà họ cho là chân lý.

Nhưng anh chị em  đều biết rằng: Chân Lý chi có một. Làm gì có nhiều Thượng Đế như vậy trong vũ trụ này? Đây chính là nguyên nhân, để ngài Einstein xác định:

“Trong tương lai nhân loại, sẽ không có một Thượng Đế của mỗi cá nhân”.

Trong lớp Mai Hoa Việt Dịch, tôi đã chứng minh ngài Einstein hoàn toàn đúng, Với điều kiện Xác định : Thái Cực phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, chính là sự Tuyệt đối, là Thượng Đế. Và nói theo ngôn ngữ khoa học của vế thứ hai của Nghịch lý Toán học Cantor, là:

“Tập hợp lớn nhất, bao trùm mọi tập hợp và không một tập hợp nào lớn hơn nó”…

Nhưng, điều này chi được xác định với điều kiện Nhân danh nền văn hiến Việt. Trước nền văn hiến Việt – được giới thiệu trên thế gian, không có hệ thống tri thức này. Nó là sự kiện nằm ngoài những vòng tròn giới hạn trí tuệ của con người Theo Định Luật Bất Toàn của Godel.

Định luật Bất toàn của Godel, tương ứng với vế thứ nhất của Nghịch lý Cantor phát biểu rằng:

“Mọi tập hợp đều là phần tử của một tập hợp lớn hơn bao trùm lên nó”

Và nội dung của Định luật Bất Toàn và vế thứ nhất của Nghịch Lý Cantor, tương đồng với một nhận định cổ xưa, đã xác định rằng:

“Không thể nói chuyện trên trời với một con cá; không thể nói chuyện dưới nước với một con chim”.

Trời và nước là vòng tròn giới hạn tri thức của loài chim và cá. Nhưng con người có thể lên trời và xuống nước thì cái vòng tròn giới hạn trí tuệ, thể hiện ở chỗ nào ?

Đó chính là sự giới hạn cùa quá trình tiến hóa của nhận thức. Trong lịch sử tiến hóa đó, con người lần lượt bước qua các giới hạn của những vòng tròn trí tuệ ràng buộc họ, để vào một vòng tròn khác lớn hơn. Vào thế kỷ XVIII, thời của Hoàng Đế vĩ đại của nước Pháp – Napoleon Bonapar – không thể tin rằng: Một con tàu bằng sắt có thể nối trên mặt nước.

Hay mô tả bằng một cách khác : Cái cõi của con chim không thể hiểu được cõi của con cá. Hệ thống trí thức bị giới hạn trong một vòng tròn Godel thì cũng không thể tin được những cái gì thuộc về tương lai của sự tiến hóa. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, ngài Enistein và SW Hawking xác định rằng:

Một Lý thuyết thống nhất phải hàm chứa Lý thuyết Bất Định.

Tôi hoàn toàn ủng hộ nhận định của hai ngài Enistein và SW Hawking về quan điểm này. Nhưng riêng cá nhân tôi nhận xét cho rằng:

Định luật bất toàn của ngài Godel, hoàn toàn tương đồng với vế thứ nhất của Nghịch Lý Toán học Cantor. Nhưng sự mô tả bản chất của vấn đề mang tính tương đồng này, thì nghịch Lý Toán học Cantor chính xác và đây đủ hơn.

Tôi đặt những vấn đề này, để muốn nói với anh chị em các khóa Lạc Việt rằng:

Chúng ta đang sống trong Không/ Thời gian của một vòng tròn giới hạn trí tuệ. Hay nói theo cách cổ điển: Chúng ta đang ở một cõi riêng của chúng ta. Cõi riêng hiện nay của chúng ta, là vòng tròn lớn nhất, bao trùm lên những vòng tròn hiểu biết của nhân loại trong quá khứ của lịch sử tiên hóa, nói theo cách nói của Godel. Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, là tập hợp lớn nhất, những hiểu biết của con người trong quá khứ, nói theo cách nói của Nghịch lý Toán học Cantor.

Nhưng những hệ thống tri thức mà tôi diễn đạt và trình bày với anh chị em trong các khóa Lạc Việt, lại là thuộc về hệ thống tri thức của một vòng tròn lơn nhất, mà không thể có một vòng tròn nào bao trùm lên nó. Nó là một hệ thống tri thức, thuộc về một cõi khác., mà tôi gọi là “văn minh Atlantic” Đây là dỉnh cao huy hoàng mà nhân loại đã đạt được trong quá khứ. Tôi đã chứng minh điều này qua cuốn sách “Minh Triết Việt trong văn minh Đông phương”, “ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” và đặc biệt rõ rang trong khóa Mai Hoa Việt Dịch I,II. Nếu ace chưa công nhận thì hãy coi đây là một Tiền đề. Tiền đề này xác định rằng:

Thuyết ADNh & Kinh Dịch là phát minh của nền văn minh Atlantic. Nền văn minh này đã bị hủy diệt và dân tộc Việt – với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử – chính là một trong những dân tộc còn sống sót, đã giữ lại những giá trị tri thức của học thuyết này. Nền văn minh Văn Lang sụp đổ ở miền Nam sông Dương Tử từ 2300 năm trước. Di sản của nền văn hiến Việt đã bị Hán hóa, một cách rời rạch, thất truyền và sai lệch. Thực chất, chúng chỉ còn lại những phương pháp ứng dụng không hoàn chỉnh.

Đây là nguyên nhân, để chính người Hán – tự nhận là chủ nhân của học thuyết này. Nhưng chưa một học giả tinh hoa nào trong suốt quá trình lịch sử của văn minh Hán và cả của nền văn minh hiện đại trải gần 2300 năm- tính từ hi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ bên bờ Nam sông Dương Tử, có thể giải thích được bản chất đích thực của thuyết ADNh & Kinh Dịch. Dù chỉ là nội hàm của các khái niệm.

Do đó, tôi hy vọng và cũng mong ace hiểu rằng:

Chúng ta đang tiếp thu nền tảng trí tuệ của một nền văn minh ở một cõi khác, không thuộc nền văn minh của chúng ta. Hay nói rõ hơn thì tất cả trí tuệ thuộc nền tảng văn mình hiện nay chỉ là một phần tử nằm trong tập hợp của nền tảng trí tuệ văn minh Atlantic và chúng ta chưa thoát ra được vòng tròn giới hạn sự hiểu biết của nền văn minh chúng ta. Bởi vậy chúng ta không dễ dnagf tiếp thu và thẩm định được tính chân lý của một hệ trí thức vượt trội thuộc về nền văn minh Atlantic. Cho nên anh chị em hãy tiếp thu và tự thẩm định tính chân lý trong quá trình học tập những giá tri tri thức đích thực của nền văn minh Atlantic. Cho nên, trong các khóa Lạc Việt, tôi đều đã trình bày những tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, bởi vì chúng ta đang tìm hiểu hệ bản chất của hệ thống lý thuyết và thẩm định tính chân lý của một hệ thống lý thuyết ADNh & Kinh Dịch với những thực tại mà lý thuyết đó phản ánh. Do đó, trong quá trình tiếp thu những kiến thức ko thuộc nền văn minh của chúng ta – tức từ một cõi khác – Anh chị em  hãy lấy tiêu chí khoa học để tự quán xét và thẩm định, không nên vội phản biện ngắt ngang những hệ thống tri thức, không thuộc về chúng ta và chưa hiểu gì về nó.

Tôi lấy một ví dụ thực tế để anh chị em chiêm nghiệm.
Khi tôi chính thức công bố mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”, vào năm 2001. Giới Lý học phản đối rầm rầm. Từ trong nước cho đến Hải ngoại,
Năm 2005, Tiến Sĩ Toán Việt kiều Áo Trần Quang Bình, thực hiện trên 4200 bài toán, chứng minh cấu trúc mô hình “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Sau khi chứng minh Hậu Thiên Văn Vương sai bằng mô hình toán học, Tiến sĩ Trần Quang Bình đưa ra mô hình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ”. Các công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Trần Quang Bình được phổ biến trên các tạp chí khoa học Tiếng Anh và tiếng Việt trong đó có cả tạp chí Talawa nổi tiếng thời bấy giờ. Cả làng Lý học thế giới ngơ ngác. Họ không có chuyên môn Toán học, nên không thể chỉ ra cái sai của Tiến Sĩ Trần Quang Bình.

Tuy không đủ trình độ Toán học để chỉ ra cái sai của Tiến sĩ Trần Quang Bình trong mô hình Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ . Nên giới Lý học thế giới và Việt Nam đã chọn cách “thông minh”  là im lặng, nhưng đối với tôi công trình của Tiến sĩ Trần Quang Bình cũng phủ nhận mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”, sự kiện này đã khiến cho giới Lý học và Khoa học lúng túng. Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Trần Quang Bình là cái khiêng che chắn cho tôi, ít nhất nó đồng quan điểm với tôi là mô hình Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư đã sai, vấn đề tiếp tục đặt ra, nếu mô hình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ” của Tiến Sĩ Trần Quang Bình đúng thì tôi sai. Vậy giữa tôi và TS Trần Quang Bình, ai đúng?
Tuy không có chuyên môn Toán học, nhưng bằng Tư Duy phân tích Tổng hợp trừu tượng, tôi biết cái sai của TS Trần Quang Bình ở đâu. Nhưng tôi im lặng. Bởi vì ít nhất có một nhà khoa học xác định: “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Tạm thời hãy thế đã.

Cũng xấp xỉ năm này, nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng cũng xác định “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Và ông đưa ra mô hình “Trung Thiên Bát quái đồ”, thay thế cho mô hình Hậu Thiên Văn Vương. Công trình của nhà nghiên  cứu Nguyễn Thiếu Dũng được đưa lên báo Thanh Niên, gây chấn động dư luận giới Lý học và cả triết học Sử Đông phương.
Tất nhiên, nếu mô hình “Trung Thiên Bát Quái đồ” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng đúng thì tôi sai và TS Trần Quang Bình cũng sai.

Như vậy, có thêm một nhà nghiên cứu xác định: “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Và cái quan trọng là nó được một tờ báo chính thống có tên tuổi là Thanh Niên đăng tải nhiều kỳ một cách rất rầm rộ. Như vậy, ít nhất không phải chỉ mình tôi xác định Hậu Thiên Văn vương sai. Mặc dù chưa thể công nhận “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” của tôi đúng. Hiện tượng mô hình “Trung Thiên Bát quái đồ” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng công bố coi như một tấm áo giáp che chở cho tôi. Cho nên, tôi cũng không vội phản biện chỉ ra cái sai của ông.

Đến khoảng năm 2015/ 2016 Tiến Sĩ Hà Hưng Quốc ở Hoa Kỳ công bố mô hình Hậu Thiên Văn Lang phối Hà Đồ.
Lại một lần nữa tất nhiên, nếu mô hình “Hậu Thiên Văn Lang” đúng thì tôi sai. Như vậy, lại có thêm một nhà khoa học với học vị Tiến sĩ, hẳn ở Hoa Kỳ xác định: Hậu Thiên Văn Vương sai. Tiến sĩ Hà Hưng Quốc công bố công trình của mình trong hai tập sách dày khoảng 1000 trang . Chủ yếu nội dung hai cuốn sách này là chỉ trích tôi . Nhưng tôi không quan tâm những lời chỉ trích này. Mặc dù hai cuốn sách của ông không được sự quan tâm lắm của giới Lý học và khoa học nhưng chí ít, nó cũng xác định Hậu thiên Văn Vương sai. Tạm thời hãy thế đã.

Chưa hết,đến năm 2017/ 2018, một Việt kiều Pháp công bố công trình mô hình Hậu Thiên, tôi quên mất tên. Tạm đặt là “Hậu Thiên Giao Chỉ phối Lạc Thư”. Mô hình này công bố công khai tại nhà văn hóa Pháp ở Hanoi. Sau đó được in thành sách tiếng Việt.
Tất nhiên, lại một lần nữa, nếu mô hình “Hậu Thiên Giao Chỉ” đúng thì tôi sai. Nhưng tôi im lặng. Bởi vì ít nhất có thêm một nhà nghiên cứu nữa hẳn ở Pháp, xác định: Hậu Thiên Văn Vương sai.Tạm thời hãy thế đã.
Đến đây, anh chị em cũng thấy: Có đến 4 mô hình Hậu Thiên phi “Văn Vương” và phủ nhận “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”, nếu tính cả tôi nữa là 5. Sự kiện kéo dài 20 năm , làm chấn động giới Lý học và các nhà nghiên cứu văn minh cổ Đông phương trên thế giới. Tất nhiên, giới Triết học Sử và Lý họcTrung Quốc không thể không biết. Không lẽ, một siêu cường chiếm 1/ 4 dân số thế giới, mà các học giả Trung Quốc không đủ khả năng để phản biện hay sao?
Anh chị em hãy đọc bài này, để thấy ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu chứng minh Hậu Thiên Văn Vương sai, đã phổ biến mang tính quốc tế như thế nào?

Nhưng rất rõ ràng các học giả Trung Quốc đã im lặng trên thực tế hoặc là nhưng phản ứng yếu ớt không đủ để dư luận quan tâm, sự kiện này đã đặt ra một vấn đề như sau Họ gần như không phản ứng. Không chỉ giới hạn ở đấy. Có thể nói, các học giả quốc tế ngoài Trung Quốc, cũng gần như không có ai lên tiếng. Vấn đề được đặt ra:
Đây là một vấn đề lớn, không dễ gì phản bác. Bởi vì, như tôi đã nói: thực tế đây là kiến thức của một nền văn minh khác, cho dù cả thế giới không công nhận điều này vì nó nằm ngoài nền tảng tri thức của cái vòng tròn giới hạn của nền văn minh chúng ta. Những di sản còn lại liên quan đến thuyết ADNh &Kinh dịch chỉ là những mảnh ghép rời rạc và có những sai lệnh cục bộ ngoài ra là những phương pháp ứng dụng hệ quả của thuyết ADNh & Kinh Dịch : Địa lý phong thủy, Tử Vi, Bốc Dịch, Đông y, các môn dự báo liên quan đến ….: Kì môn, Thái Ất…cũng chỉ là những di sản rời rạc có tính ứng dụng và không có tính hệ thống. Nó không phải là cơ sở tri thức của nền văn minh đã tạo ra các phương pháp ứng dụng này.
Chúng ta có thể ví dụ:  Một bà ve chai trúng mánh, vẫn có thể sở hữu một công cụ ứng dụng tiên tiến nhất của nền văn minh hiện nay, là cái điện thoại thông minh đời mới. Nhưng điều đó không có nghĩa bà ve chai này, hiểu biết bản chất nền tảng tri thức của nền văn minh để tạo ra cái DT thông minh này. Từ đó, anh chị em sẽ dễ dàng suy ra: các thày bói đầu đình xó chợ, các thày Địa Lý, Tử Vi…tự nhận mình là cao thủ cũng chỉ là những người sử dụng công cụ. Và điều đó không có nghĩa rằng: Họ biết sử dụng công cụ là những phương pháp ứng dụng, thì có nghĩa là họ hiểu biết bản chất của nền tảng trí thức đã tạo ra nó. Sai;

Tất cả các loại thầy bà có thể rất giỏi trong chuyên môn của mình. Nhưng cũng chỉ như bà ve chai, cho đến Viện Sĩ Viện Hàn lâm dùng DT Thông minh thôi.

Đây chính là một trong những yếu tố quan trong, để nền văn minh Đông phương cổ huyền bí đến tận ngày hôm nay. Vấn đề tiếp tục được đặt ra:
Trong 5 Hậu Thiên phi văn Vương mà tôi đã trình bày ở trên căn cứ vào đâu, để xác định đúng sai? (trừ Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ của tôi thì mọi người xúm vào chê bai cứ như đúng rồi)
Xin lỗi, cái nền tảng tri thức của nền văn minh này, đang bị  giới hạn trong trong vòng tròn Kim Cô của Godel, nên nó chưa đủ trình độ để xác định Hậu Thiên nào đúng nào đúng.

Và tôi đã im lặng trong suốt thời gian các nhà nghiên cứu cả Khoa học lẫn Lý học đưa ra các mô hình Hậu Thiên mà tôi đã trình bày ở trên như một hướng dẫn dư luận khách quan, để họ cảm nhận được rằng “ Hậu Thiên VĂn Vương phối Lạc Thư” sai là hoàn toàn có thể có nguyên nhân của nó. Cho đến năm ngoái, nhân tiện một học viên trong lớp – nick “Tâm An” –  ảo tưởng  có thể chứng minh dễ ợt, khi đưa ra mô hình Hậu Tiên của anh ấy và xác định với tôi, là Anh ta cũng muốn đi tím chân lý. Tôi rất hoan nghênh tất cả nhửng ý tưởng đi tìm chân lý, nhưng đã theo học tôi, thì tất cả những ý tưởng gọi là đi tìm chân lý, mà đưa ra một mô hình khác với “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” Chứng tỏ rằng: Không hề hiểu biết bản chất của vấn đề thế thì theo học làm gì? Vừa tốn cơm, vừa tốn sức của tôi và tốn tiền các học viên. Tôi đã yêu cầu anh ta công khai mô hình này trên Fb của anh ấy. Nếu đã tự tin mô hình Hậu Thiên của anh ta đi tìm chân lý, thì phải công khai chứ nhỉ? Nếu chỉ công bố riêng trong lớp có mục đích gì? Phải chăng anh muốn gây hoang mang cho các học viên chưa hiểu biết và mang tính chất phá hoại.

Tôi khẳng định: Nếu anh ta không dám công khai, tôi dẹp luôn khóa DLLV và đuổi anh ra khỏi lớp. Tất nhiên vì tính chính danh của anh đi tìm chân lý, nên anh ta đã công khai mô hình Hậu Thiên của anh ấy, theo đề nghị của tôi.

Tôi cũng nói thẳng luôn:  với tôi tất cả các sáng tạo đi tìm chân lý của các kiểu “Hậu Thiên Văn Vương” đã trình bày ở trên đều sai! Và thời hạn im lặng của tôi đã hết hạn sử dụng! Tôi đã cho đi hết các thể loại Hậu Thiên với một luận cứ không thể ngắn gọn hơn. Đó là:
Một mô hình biểu kiến mô tả một hệ thống lý thuyết, được coi là đúng – trong trường hợp đối với mô hình Bát quái Hậu Thiên – thì nó phải tiếp tục giải thích tất cả những vấn đề liên quan đến nó thuoojcb pham trù của thuyết ADNh & Kinh Dịch như Địa Lý Lạc Việt, Tử Vi, bốc dịch, Lạc thư, Hoa giáp….

Đây chính sự phù hợp với tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm sđịnh một lý thuyết khoa học được cho là đúng, phát biểu như sau :

Một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được ho là đúng, nó phải giải thích một cahs hợp lý hầu hết các vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh; có tính quy luật, tính khách quan , tính quy luật và khả năng tiên tri”.

Chỉ có Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ , nguyên lý căn đề của mọi phương pháp ứng dụng thuộc di sản văn minh Đông Phương- nhân danh nền Văn hiến Việt  một thời huy hoàng bên bờ Nam song Dương Tử – thỏa mãn tiêu chí khoa học nói trên. Bởi vì nó đã giải thích một cách hợp lý tất cả những vấn đề liên quan đến nó, mà tôi đã trình bày trong các khóa học Lạc Việt và các công trình đã nghiên cứu.

Tính chân lý của mô hình Hậu thiện Lạc Việt phối Hà Đồ không chỉ dừng lại ở đây, mà nó còn đủ tư cách phục hồi toàn bộ những tri thức nền tảng của thueeys ADNh & Kinh Dịch mà còn giải thích toàn bộ lịch sử vũ trụ từ giây 0 cho đến mọi vấn đề liên quan đến nó.

Nếu không có một chân lý đứng đằng sau thì không thể có một sự giải thcihs toàn diện như vậy .

Giáo sư Hoàng Phương cho rằng kết cấu đồ hình Hậu Thiên Văn Vương có tính khoa học. Giáo sư đã viết trong tác phẩm Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai (Nxb Giáo dục Hà Nội 1996, trang 334) như sau:

VỊ TRÍ CÁC – QUẺ TRONG BÁT QUÁI ĐỒ

Thông thường một câu hỏi được đặt ra: Tại sao Văn Vương lại sử dụng một Bát quái đồ – gọi là Hậu Thiên Bát quái đồ – không được hoàn toàn đối xứng như Tiên Thiên Bát quái đồ của Phục Hy?

Chúng ta cần nhớ rằng nhân thể chúng ta không đối xứng, chẳng hạn là quả tim không nằm ngay chính giữa cơ thể! Thực tiễn sinh học và xã hội không bao giờ đối xứng hoàn toàn cả! Theo ý chúng tôi, Văn Vương có lý khi gạt bỏ tính đối xứng hoàn toàn của Bát quái đồ Phục Hy.

Đến trang 371 (sách đã dẫn), giáo sư Hoàng Phương tiếp tục giải thích và chứng minh vị trí các quẻ trong Bát quái, bằng phương pháp Toán học – vốn là chuyên môn của giáo sư – như sau:

VỊ TRÍ CÁC QUẺ TRONG BÁT QUÁI

Vị trí các quẻ trong Bát quái đồ Phục Hy là khá đơn giản, do sơ đồ này mang tính đối xứng rất cao. Nhưng tình hình lại khác khi nói đến Bát quái đồ Văn Vương, do tính đối xứng thấp hơn. Nhưng muốn chứng minh tính hợp lý của Bát quái đồ này, ngay khi tính đối xứng không còn cao nữa, cần dựa vào các định nghĩa sau:

A– HÀO SỐ VÀ QUẺ SỐ

Như chúng ta biết, mỗi quẻ trong Bát quái đồ Văn Vương có 3 hào, các hào có thể tính theo thứ tự dưới lên trên, hào dưới cùng gọi là hào 1…, hào trên cùng gọi là hào 3.

  1. Hào số

Cái gọi là hào số định nghĩa như sau:

  • Hào Âm thứ nhất (nếu có) có hào số bằng 1,
  • Hào Âm thứ hai (nếu có) có hào số bằng 2,
  • Hào Âm thứ ba (nếu có) có hào số bằng 4,
  • Tất cả các hào Dương đều không có hào số.

Có thể vẫn định nghĩa như trên, nhưng hoán vị hào Âm và hào Dương với nhau. Về sau này, ta theo định nghĩa thứ nhất, những kết quả thu được với định nghĩa thứ hai được ghi trong dấu ngoặc.

  1. Quẻ số

Tổng tất cả các hào số cộng với 1 (do trong Triết cổ Đông phương không có số 0) trong một Quẻ gọi là Quẻ số của Quẻ đó. Với các định nghĩa trên ta thu được bảng sau:

Bảng 51a. BẢNG CÁC QUẺ SỐ VÀ “HỌ NỘI”, HỌ NGOẠI TRONG ĐỘN GIÁP

Bây giờ ta chú ý rằng:

  • Các quẻ Đoài, Kiền và Khảm là tương ứng với Kim và Thủy, tức là có Âm tính theo cấu trúc Tứ Tượng.
  • Các quẻ Chấn, Tốn và Ly là tương ứng với Mộc và Hỏa, tức là số Dương tính theo cấu trúc Tứ Tượng,
  • Các quẻ Khôn và Cấn là tương ứng với Thổ, Trung tính.

Nếu ta cộng quẻ số tất cả các quẻ cùng tính (Âm, Dương và Trung) thì sẽ thấy rằng tổng các quẻ số trong mỗi loại đều bằng nhau và bằng 12 (Hình 114).

Như vậy, đã có một lý do về trình tự các quẻ của Bát quái đồ Văn Vương khi kết hợp với tính Âm, Dương và Trung. (Trong hình 114, các số trong dấu ngoặc là tương ứng với cách tính quẻ số dựa vào hào Dương).

Bây giờ chúng ta chuyển sang một lý do khác.

Trong kinh Dịch, có sự phân loại nam, nữ như sau (Bảng 47):

 

 

 

 

  • TỐN: THIẾU NỮ, LY: TRUNG NỮ, ĐOÀI: TRƯỞNG NỮ (HỌ NGOẠI),
  • CẤN: THIẾU NAM, KHẢM: TRUNG NAM, CHẤN: TRƯỞNG

NAM (HỌ NỘI).

Ta thêm vào sự phân loại trên:

  • KIỀN XEM LÀ CHA (CHA TRỜI), (CHỦ HỌ NỘI),
  • KHÔN XEM LÀ MẸ (MẸ ĐẤT), (CHỦ HỌ NGOẠI).

Như thế ta có hai cặp con Nội, Ngoại (sẽ được gặp lại trong học thuyết Thái Ất và trong kinh Dịch). Nếu cộng các quẻ số thuộc hai họ Nội, Ngoại thì chúng ta được hai số bằng nhau, bằng 18.

Đó là thêm một số lý do để hiểu tại sao Văn Vương lại chọn một cách bố trí các quẻ một cách “thiếu đối xứng” như thế!

Cần nhớ lại là quẻ Khảm có mã số bằng 1, để hình dung cho đầy đủ lý do tồn tại của Bát quái đồ Văn Vương.

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi