Lưu trữ của tác giả: thiensulacviet

TẾT TRUNG THU BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU   – Vì sao Tết Trung Thu được VN gọi là Tết Trẻ em? – Vì sao lại múa Lân là chính, không múa rồng? – Vì sao lại có Ông Địa trước … Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ VÀ CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN

VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ VÀ CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN  Thiên Sứ – Nguyễn Vũ Tuấn Anh Thưa quý vị và các bạn. Người Việt rất hay kiêng cữ. Nếu thống kê thì người Việt kiêng … Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

BÀI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY LỚP TỬ VI LẠC VIỆT CAO CẤP – KHÓA I                       BÀI GIỚI THIỆU Anh chị em thân mến, Danh xưng Tử Vi Lạc Việt, không … Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

SÁCH PHÍA TRƯỚC TRẦN THỜI GIAN & KHÍ – TRƯỜNG TƯƠNG TÁC CỦA VŨ TRỤ.

                                  LỜI GIỚI THIỆU. Thưa quý bạn đọc. Ngài SW Hawking đã phát biểu trong cuốn sách nổi tiếng “Lược Sử thời gian” của … Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

ANH CHỊ EM CÁC LỚP LẠC VIỆT THÂN MẾN.

ANH CHĨ EM CÁC LO7P` LAC VIỆT THÂN MẾN.
BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.
ANH CHỊ EM CÁC LỚP LẠC VIỆT THÂN MẾN.
Bài viết dưới đây của Thánh Chém Peter Pho, nói về tính chất cần thiết của sự học. Nhân bài viết này, tôi muốn chia sẻ thêm với anh chị em rằng:
Vì đời người chúng ta chỉ có 100 năm > và cũng còn là một con số lý tưởng. Cho nên dù cả một đời học cũng không thể tiếp thu được hết Kho tàng kiến thức của nhân loại. Nó tương tự như một người nào đó tin vào một thứ tôn giáo nào đó. Và đến lúc chết – Tử Vì Đạo . Họ vẫn tin vào hệ thống giáo lý của họ. Lịch sử đã cho thấy rằng:
Tất cả các tôn giáo đều có những Thánh Tử Đạo, và các tôn giáo đó chống lại nhau, giết người để bảo vệ điều mà họ cho là chân lý.
Nhưng ace đều biết rằng: Chân Lý chi có một> Làm gì có nhiều Thượng Đế như vậy trong vũ trụ này? Đây chính là nguyên nhân, để ngài Einstein xác định:
“Trong tương lai nhân loại, sẽ không có một Thượng Đế của mỗi cá nhân”.
Trong lớp Mai Hoa Việt Dịch, tôi đã xác định ngài Einstein hoàn toàn đúng, Với điều kiện> Xác định : Thái Cực >phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, chính là sự Tuyệt đối. Là Thượng Đế. Và nói theo ngôn ngữ khoa học của vế thứ II của Nghịch lý Toán học Cantor, là:
“Tập hợp lớn nhất, bao trùm mọi tập hợp và không một tập hợp nào lớn hơn nó”…
Nhưng, điều này chi được xác định với điều kiện> Nhân danh nền văn hiến Việt. Trước nền văn hiến Việt – được giới thiệu trên thế gian, không có hệ thống tri thức này. Nó là sự kiện nằm ngoài những vòng tròn giới hạn trí tuệ của con người> Theo Định Luật Bất Toàn của Godel.
Định luật Bất toàn của Godel, tương ứng với vế thứ nhất của Nghịch lý Cantor phát biểu rằng:
“Mọi tập hợp đều là phần tử của một tập hợp lớn hơn bao trùm lên nó”
Và nội dung của Định luật Bất Toàn và vế thứ nhất của Nghịch Lý Cantor, tương đồng với một nhận đing cổ xưa, đã xác định rằng:
“Không thể nói chuyện trên trời với một con cá; không thể nói chuyện dưới nước với một con chim”.
Trời và nược là vòng tròn giới hạn tri thức của loài chim và cá. Nhưng con người> Có thể lên trời và xuống nước thì cái vòng tròn giới hạn trí tuệ, thể hiện ở chỗ nao?
Đó chính là sự giới hạn cùa quá trình tiến hóa của nhận thức. Trong lịch sử tiến hóa đó, con người lần lượt bước qua các giới hạn của những vòng tròn trí tuệ ràng buộc họ, để vào một vòng tròn khác lớn hơn. Vào thế kỷ XVIII, thời của Hoàng Đế vĩ đại của nước Pháp – Napoleon Bonapar – không thể tin rằng: Một con tàu bằng sắt có thể nối trên mặt nước.
Hay mô tả bằng một cách khác> Cái cõi của con chim không thể hiểu được cõi của con cá. Hệ thống trí thức bị giới hạn trong một vòng tròn Godel thì cũng không thể tin được những cái gì thuộc về tương lai của sự tiến hóa. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, ngài Enistein và SW Hawking xác định rằng:
Một Lý thuyết thống nhất phải hàm chứa Lý thuyết Bất Định.
Tôi hoàn toàn ủng hộ nhận định của hai ngài Enistein và SW Hawking về quan điểm này. Nhưng riêng cá nhân tôi nhận xét cho rằng:
Định luật bất toàn của ngài Godel, hoàn toàn tương đồng với vế thứ nhất của Nghịch Lý Toán học Cantor. Nhưng sự mô tả bản chất của vấn đề mang tính tương đồng này, thì nghịch Lý Toán học Cantor chính xác và đây đủ hơn.
Tôi đặt những vấn đề này, để muốn nói với anh chị em các khóa Lạc Việt rằng:
Chúng ta đang sống trong Không/ Thời gian của một vòng tròn giới hạn trí tuệ. Hay nói theo cách cổ điển: Chúng ta đang ở một cõi riêng của chúng ta. Cõi riêng hiện nay của chúng ta, là vòng tròn lớn nhất, bao trùm lên những vòng tròn hiểu biết của nhân loại trong lịch sử tiên hóa, nói theo cách nói của Godel. Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, là tập hợp lớn nhất, những hiểu biết của con người trong quá khứ, nói theo cách nói của Cantor.
Nhưng những hệ thống tri thức mà tôi diễn đạt và trình bầy với anh chị em trong các khóa Lạc Việt, lại là thuộc về hệ thống tri thức của một vòng tròn lơn nhất, mà không thể có một vòng tròn nào bao trùm lên nó. Nó là một hệ thống tri thực, thuộc về một cõi khác., mà tôi gọi là “văn minh Atlantic”> Đây là dỉnh cao huy hoàng mà nhân loại đã đạt được trong quá khứ. Tôi đã chứng minh điều này qua cuốn sách “Minh Triết Việt trong văn minh Đông phương”. Nếu ace chưa công nhận thì hãy coi đây là một Tiền đề. Tiền đề này xác định rằng:
Thuyết ADNh & Kinh Dịch là phát minh của nền văn minh Atlantic. Nền văn minh này đã bị hủy diệt và dân tộc Việt – với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử – chính là một trong những dân tộc còn sống sót, đã giữ lại những giá trị tri thức của học thuyết này. Nền văn minh Văn Lang sụp đổ ở miến Nam sông Dương Tử từ 2300 năm trước. Di sản của nền văn hiến Việt đã bị Hán hóa, một cách rời rạch, thất truyền và sai lệch. Thực chất, chúng chỉ còn lại những phương pháp ứng dụng không hoàn chỉnh.
Đây là nguyên nhân, để chính người Hán – tự nhận là chủ nhân của học thuyết này> Nhưng chưa một học giả tinh hoa nào trong suốt quá trình lịch sử của văn minh Hán, có thể giải thích được bản chất đích thực của thuyết ADNh & Kinh Dịch> Dù chỉ là nội hàm các khái niệm.
Do đó, tôi hy vọng và cũng mong ace hiểu rằng:
Chúng ta đang tiếp thu một nền văn minh ở một cõi khác, không thuộc nền văn minh của chúng ta. Cho nên, ace hãy tiếp thu và tự thẩm định tính chân lý trong quá trình học tập những giá tri tri thức đích thực của nền văn minh Atlantic. Trong các khóa Lạc Việt, tôi đều đã trình bày tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Trong quá trình tiếp thu những kiến thức ko thuộc nền văn minh của chúng ta> Tức từ một cõi khác> Ace hãy lấy tiêu chí khoa học để tự thẩm định, không nên vội phản biện ngắt ngang những hệ thống tri thức, không thuộc về chúng ta và chưa hiểu gì về nó.
Tôi lấy một ví dụ thực tế để ace chiêm nghiệm.
Khi tôi chính thức công bố mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”, vào năm 2001. Giới Lý học phản đối rầm rầm. Từ trong nước cho đến Hải ngoại,
Năm 2005, Tiến Sĩ Toán Việt kiều Áo Trần Quang Bình, thực hiện trên 4200 bài toán, chứng minh cấu trúc mô hình “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Cả làng Lý học ngơ ngác. Họ không có chuyên môn Toán học, nên không thể chỉ ra cái sai của Tiến Sĩ Trần Quang Bình. Sau khi chứng minh Hậu Thiên Văn Vương sai, Tiến sĩ Trần Quang Bình đưa ra mô hình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ”.
Tất nhiên, nếu mô hình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ” của Tiến Sĩ *Trần Quang Bình đúng thì tôi sai. Tuy nhiên, công trình của TS Trần Quang Bình cũng phủ nhận Hậu Thiên Văn Vương. Vì không có chuyên môn Toán học. nên tuy không thể chỉ ra cái sai của TS Trần Quang Bình. Nhưng, những tư duy cố chấp và cực đoan, ăn sâu vào đầu con người hàng ngàn năm với sự thần thánh của Hậu Thiên Văn Vương. Cho nên giới Lý học cũng không thể công nhận công trình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ”. Vậy giữa tôi và TS Trần Quang Bình, ai đúng?
Tuy không có chuyên môn Toán học, nhưng bằng Tư Duy Tổng hợp, tôi biết cái sai của TS Trần Quang Bình ở đâu. Nhưng tôi im lặng. Bởi vì ít nhất có một nhà khoa học xác định: “Hậu Thiên Văn Vương” sai> Tạm thời hãy thế đã.
Nhưng khi gặp riêng TS Trần Quang Bình ở Hanoi, khoảng năm 2006/ 2007, tôi có nói với ông: Anh sai rồi, nên hợp tác nghiên cứu với tôi. Nhưng ông ta đã tự ái và bỏ sang viết cho Talawa và các báo khoa học tiếng Anh khác. Công trình của TS Trần Quang bình gây sự chú ý không chỉ trong nước, mà cả quốc tế.
Cũng xấp xỉ năm này, nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng cũng xác định “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Và ông đưa ra mô hình “Trung Thiên Bát quái đồ”, thay thế cho mô hình Hậu Thiên Văn Vương. Công trình của nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng được đưa lên báo Thanh Niên, gây chấn động dư luận giới Lý học và cả triết học Sử Đông phương.
Lại tất nhiên, nếu mô hình “Trung Thiên Bát Quái đồ” đúng thì tôi sai. Như vậy, có thêm một nhà nghiên cứu xác định: “Hậu Thiên Văn Vương” sai> Và cái quan trọng là nó được một tờ báo chính thống có tên tuổi là Thanh Niên đăng tải nhiều kỳ. Như vậy, ít nhất không phải chỉ mình tôi xác định Hậu Thiên Văn vương sai. Mặc dù chưa thể công nhận “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” của tôi đúng. Tạm thời hãy thế đã.
Đến năm khoảng 2015/ 2016 Tiến Sĩ Hà Hưng Quốc ở Hoa Kỳ công bố mô hình Hậu Thiên Văn Lang.
Lại một lần nữa tất nhiên, nếu mô hình “Hậu Thiên Văn Lang” đúng thì tôi sai. Như vậy, lại có thêm một nhà khoa học, hẳn ở Hoa Kỳ xác định: Hậu Thiên Văn Vương sai> Tạm thời hãy thế đã.
Đến năm 2017/ 2018, một Việt kiều Pháp công bố công trình mô hình Hậu Thiên > Tôi quên mất tên> Tạm đặt là “Hậu Thiên Giao Chỉ phối Lạc Thư”. Mô hình này công bố công khai tại nhà văn hóa Pháp ở Hanoi. Sau đó được in thành sách tiếng Việt.
Tất nhiên, lại một lần nữa, nếu mô hình “Hậu Thiên Giao Chỉ” đúng thì tôi sai. Nhưng tôi im lặng. Bởi vì ít nhất có thêm một nhà nghiên cứu nữa hẳn ở Pháp, xác định: Hậu Thiên Văn Vương sai> Tạm thời hãy thế đã.
Đến đây, ace cũng thấy: Có đến 4 mô hình Hậu Thiên phi “Văn Vương” và phủ nhận “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”, nếu tính cả tôi nữa là 5. Sự kiện kéo dài 20 năm , làm chấn động giới Lý học và các nhà nghiên cứu văn minh cổ Đông phương trên thế giới. Tất nhiên, giới Triết học Sử Trung Quốc không thể không biết. Không lẽ, một siêu cường chiếm 1/ 4 dân số thế giới, mà các học giả Trung Quốc không đủ khả năng để phản biện hay sao?
Anh chị em hãy đọc bài này, để thấy ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu chứng minh Hậu Thiên Văn Vương sai, đã phổ biến mang tính quốc tế như thế nào?
Bài dẫn:
Hong Nguyen
“Ký ức bị đánh cắp”
Sự phổ biến của mạng xã hội đã giúp phát hiện ra những thông tin “tuyệt mật” trước đây nằm phủ bụi trong các thư viện. Cư dân mạng nay có cơ hội đào lại các thư tịch cổ và mổ xẻ từng chi tiết trong đó. Nhờ đó họ đã bắt đầu có cách nhìn mới về những vấn đề bí ẩn trong lịch sử, đặc biệt là lịch sử liên quan đến Hán ngữ, là ngôn ngữ văn bản duy nhất còn được lưu giữ xuyên suốt từ thời cổ đại.
Hiện có một phong trào “Đại Mã Lai” đang được lan truyền nhờ việc phát hiện nhiều tài liệu lịch sử về tổ tiên của họ. Một tài khoản tên Mohamed Mahathir mới đây nêu ra một giả thuyết khá chấn động với những người nghiên cứu lịch sử nước này. Đây là bài viết của ông Mohamed:
“Đã có một lịch sử bị đánh cắp. Từ khi vua Lý Thánh Tông của Việt Nam đánh Chiêm Thành vào thế kỷ 10, người Việt đã thi hành một chính sách đồng hóa sâu sắc và có hệ thống, bao gồm đốt phá hầù hết thư tịch cổ của Chiêm Thành. Nhưng có những thứ không thể xóa bỏ được. Dựa vào ngôn ngữ, văn hóa, khảo cổ của những nhóm tộc Chiêm Thành còn sót lại (Chăm, Ê Đê, Gia Rai), ta có thể khẳng định họ chính là tổ tiên người Mã Lai. Nước Malaysia xưa rộng lớn hơn bây giờ đến 10 lần, mà trung tâm văn hóa của nó nằm tại miền bắc Việt Nam ngày nay.”
“Theo một số học giả Việt Nam có uy tín và có hàng chục ngàn người theo dõi, thì người Việt có nguồn gốc từ Mân Nam, tức là Phúc Kiến Trung Quốc ngày nay. Dựa vào những chứng cứ đáng tin cậy mà họ đưa ra, cùng với phần lịch sử mà chúng ta vừa phát hiện, thì tổ tiên của người Việt Nam là bên đất Phúc Kiến, chứ không phải đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). ĐBSH là đất tổ của người Mã Lai chúng ta, tiếc rằng nay ta đã bị xóa hoàn toàn ký ức đó.”
“Nhiều học giả Việt Nam cũng đã gián tiếp thừa nhận đất Việt Nam xưa là đất của người Mã Lai. Năm 1970 nhà văn Bình Nguyên Lộc ở Sài Gòn, Nam Việt Nam, đã viết cuốn sách “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”. Giả thuyết của ông nay đã được thừa nhận rộng rãi. Ông nêu vài ví dụ đơn giản về ngôn ngữ như “mặt trời” chính là cách đọc cổ của “mata hari”, hay “bông hoa” là “bunga”. Thực ra đó là sự nói ngược. Đất Việt Nam vốn là đất Mã Lai. Người Việt Nam ngày nay phần lớn mang máu người Nam Trung Hoa, đồng thời có hòa huyết một chút với người Mã Lai bản địa sau khi đã đồng hóa họ. Trong quá trình đồng hóa người Mã Lai, họ cũng có tiếp thu một số tinh hoa của chúng ta.”
“Một số học giả Việt Nam cũng phát hiện ra nước Lâm Ấp ghi trong sử Trung Hoa là đồng bằng sông Hồng chứ không phải Chiêm Thành, mà có lẽ sử Trung Hoa đã cố tình làm giả. Nhưng chắc họ cũng không ngờ rằng chính Việt Nam có thể đã xóa dấu vết Mã Lai trong sử của họ. Người Trung Hoa ở miền Nam Trung Quốc bị người từ phương Bắc đến đồng hóa, thì đến lượt người Mã Lai chúng ta đã bị người Nam Trung Hoa, tức là người Việt Nam ngày nay, đồng hóa.”
“Các bằng chứng khảo cổ gần đây cho thấy sọ người Đông Sơn gần với người Mã Lai hiện đại hơn là người Việt Nam hiện đại. Bạn có thể phân biệt ngưòi Việt Nam và người Hoa ngày nay không? Khó lắm, vì họ gần như cùng một gốc. Nhưng nếu nhìn xem những bức ảnh chụp Việt Nam vào thế kỷ 19 (chẳng hạn hình người Pháp tiêm ngừa cho dân thiểu số ở Sài Gòn), thì ta thấy lúc đó vẫn còn nhiều người Mã Lai cổ còn sót lại. Bạn có thể xem thông tin thêm về phục chế sọ người Đông Sơn ở đây: https://www.facebook.com/photo/?fbid=1978424645682736&set=gm.411183133874614”
“Một trong những thành tựu văn hóa cổ nổi bật nhất ở đồng bằng sông Hồng là trống đồng Đông Sơn. Nếu nhìn vào những nhà sàn vút cong vẽ trên mặt trống, bạn có thể dễ dàng nhận ra đó là nhà sàn Mã Lai. Ngày nay ta cũng đào được nhiều trống đồng tương tự ở Malaysia, mà trước đây tưởng là của người Việt Nam, nhưng thực ra là do tổ tiên ta còn giữ lại được sau khi bị đánh đuổi. Những mái nhà cong đó không hề có trong văn hóa người Việt, nhưng vẫn còn thấy vài khu vực của người Ê Đê, những người còn sót lại nhờ trốn lên núi cao để tránh bị đồng hóa. Xem thêm: https://www.facebook.com/groups/246103143715948/permalink/345682547091340/”
“Người Mã Lai từng có một vương triều phát triển rực rỡ ở đất Việt Nam, gọi là Phù Nam, còn gọi là vương quốc Cau. Tiếc rằng sau đó ta đã bị đồng hóa và lùi dần về bán đảo Mã Lai ngày nay, còn Phù Nam chỉ còn là dĩ vãng mờ nhạt tại đảo Pinang (đảo Cau). Sách giáo khoa của ta ngày nay chỉ nói về những vương triều thống nhất tại Mã Lai bắt đầu từ TK 13. Có lẽ đã đến lúc phải viết lại SGK. Vào thế kỷ thứ 2, ngưòi Nam Đảo chúng ta, vốn đã hoạt động giao thương biển từ thượng cổ, đã mở ra nhiều cảng biển ở khu vực Giao Chỉ ngày nay, và tại khu vực Óc Eo , Hà Tiên ở miền Nam Việt Nam ngày nay. Có nhiều tài liệu cổ La Mã khẳng định điều đó, xem https://www.facebook.com/photo/?fbid=1882287821963086&set=gm.336709854655276.”
“Bạn có biết Kinh Dịch không? Nó là cơ sở của mọi lý thuyết triết học Trung Hoa. Nhưng các nghiên cứu gần đây từ Việt Nam cho thấy nó được sáng tạo bởi người Bách Việt. Mà người Bách Việt theo mô tả của sách Trung Hoa xưa, cũng như theo khảo cổ sọ người ở Đông Sơn, thì chính là người Mã Lai chúng ta. Một di sản văn hóa khác, 12 con giáp, vốn là cơ sở cho lễ hội, chiêm tinh, bói toán,… cũng là phát kiến của người Mã Lai. Tưởng rằng ta đã bị mất hoàn toàn ký ức đó, nhưng gần đây ta đã phát hiện bản gốc của 12 con giáp, cũng như sơ đồ bát quái sơ khai tại Malaysia (xem hình). Bạn có thể tìm hiều thêm vấn đề này tại https://www.facebook.com/groups/246103143715948/permalink/352291193097142/”
“Những truyền thuyết mà ngưòi Việt Nam đang gắn vào sử của mình, cũng chính là Mã Lai. Chúng ta có những câu truyện cổ theo mô tip đẻ đất đẻ nước, mà nay được người Việt/Mân tiếp thu thành lịch sử chính thống của họ, gọi là truyện trăm trứng trăm con.”
“Dĩ nhiên lịch sử các quốc gia hiện đại chỉ thừa nhận về hành chính chứ không phải theo dân tộc. Người Mỹ không bao giờ xem lịch sử Anh Quốc là lịch sử của họ, kể cả đó là đất tổ tiên của họ. Những gì đã diễn ra trên đất Trung Hoa thì là thuộc về lịch sử Trung Hoa, hay có thể nói là thuộc về những người Trung Hoa đã bị đồng hóa. Tương tự vậy những gì trên đất Việt Nam là lịch sử của Việt Nam. Nhưng dù sao những phát hiện mới này vẫn cho chúng ta lòng tự hào về lịch sử và văn hóa lâu đời của dân tộc mình.”
“Ngày 1/4/2022
Mohamed Mahathir”
Qua đó, ace thấy rằng: Vấn đề Kinh Dịch – và với tôi luôn cả thuyết ADNh – đều thuộc về nền văn hiến Việt. Điều này, đã thành một sự kiện quốc tế của nhiều lĩnh vực> Lịch sử; Triết học và vần đề chủ thể nền tảng tri thức của nền văn minh cổ Đông phương. Những rất rõ ràng> Các học giả Trung Quốc đã im lặng trên thực tế. Họ gần như không phản ứng. Không chỉ giới hạn ở đấy. Có thể nói, các học giả quốc tế ngoài Trung Quốc, cũng gần như không có ai lên tiếng. Vấn đề được đặt ra:
Đây là một vấn đề lớn, không dễ gì phản bác. Bởi vì, như tôi đã nói: Đây là kiến thức của một nền văn minh khác. Nằm ngoài nền tảng tri thức của cái vòng tròn giới hạn của nền tảng tri thức của nền văn minh chúng ta. Những di sản còn lại chỉ là những phương pháp ứng dụng. Nó không phải là cơ sở tri thức của nền văn minh đã tạo ra các phương pháp ứng dụng này.
Anh chị em hãy suy ngẫm> Một bà ve chai trúng mánh, vẫn có thể sở hữu một công cụ ứng dụng tiên tiến nhất của nền văn minh hiện nay, là cái điện thoại thông minh đời mới nhất. Nhưng điều đó không có nghĩa bà ve chai này, hiểu biết bản chất nền tảng tri thức của nền văn minh để tạo ra cái DT thông minh này. Từ đó, anh chị em sẽ dễ dàng suy ra: các thày bói đầu đình xó chợ, các thày Địa Lý, Tử Vi…cũng chỉ là những người sử dụng công cụ. Và điều đó không có nghĩa rằng: Họ biết sử dụng công cụ là những phương pháp ứng dụng, thì có nghĩa là họ hiểu biết bản chất của nền tảng trí thức đã tạo ra nó. Và đó chính là một trong những yếu tố quan trong để nền văn minh Đông phương cổ huyền bí đến tận ngày hôm nay.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi