ANH CHỊ EM CÁC LỚP LẠC VIỆT THÂN MẾN.

ANH CHỊ EM CÁC LỚP LẠC VIỆT THÂN MẾN.

Cổ thư viết :

Thiên Tử trọng hiền hào,

Văn chương giáo nhĩ tào;

Vạn ban giai hạ phẩm,

Duy hữu độc thư cao.

Qua bài thơ này cho thấy, ngày xưa các triều đại phong kiến cổ Việt Văn Lang (*) đã tôn trọng đề cao sự đọc sách để trau dồi trí huệ như thế nào.

Chú thích: Sở dĩ tôi xác định bào thơ này trong sách Tứ thư Ngũ Kinh của Nho giáo – Khổng Tử (khoảng 500 Tr CN), là thuộc về nước cổ Việt Văn Lang. Bởi vì, khái niệm Thiên tử (con trời) xuất hiện rất muộn trong lịch sử văn minh Hán. Đến đời nhà Tần 200 năm TCN thống nhất Trung Quốc , cũng chỉ nhận là Tần Thủy Hoàng Đế, các vị vua kế tiếp cũng chỉ là Tần Nhị Thế; Tần Tam Thế….Cho đến đầu đời Đông Hán , vua cũng không nhận mình là “Thiên Tử”. Cho đến khi Trần Bình Tả Thừa tướng thời Đông Hán chấn chỉnh nghi lễ triều chính, mới có danh xưng gọi vua là Thiên Tử. Cho nên, tôi xác định rằng khái niệm Thiên Tử xuất hiện 500 năm TCN và được gán cho Khổng Tử là điều vô lý, đây là một sản phẩm của nên văn minh Lạc Việt, bị gán cho Khổng Tử sau thời gian Bắc thuộc 1000 năm và bị Hán hóa . Tôi đã chứng minh điều này trong những cuốn sách đã xuất bản : “Minh triết Việt trong văn minh Đông Phương” Nxb Hồng Đức -2019; “ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb Hồng Đức – 2020 , trong đó Kinh Dịch thuộc về Việt tộc. Cho nên bài thơ này không thể thuộc về Khổng Tử trước tác . Có điều kiện tôi sẽ phân tích rõ hơn điều này.

Nhưng đời người chúng ta chỉ có 100 năm  và cũng còn là một con số lý tưởng. Cho nên dù cả một đời học, cũng không thể tiếp thu được hết kho tàng kiến thức của nhân loại. Nó tương tự như một người nào đó, tin vào một thứ tôn giáo nào đó. Và đến lúc chết – Tử Vì Đạo . Họ vẫn tin vào hệ thống giáo lý của họ. Lịch sử đã cho thấy rằng:

Hầu hết cả các tôn giáo đều có những Thánh Tử Đạo, và các tôn giáo đó chống lại nhau, giết người để bảo vệ điều mà họ cho là chân lý.

Nhưng anh chị em  đều biết rằng: Chân Lý chi có một. Làm gì có nhiều Thượng Đế như vậy trong vũ trụ này? Đây chính là nguyên nhân, để ngài Einstein xác định:

“Trong tương lai nhân loại, sẽ không có một Thượng Đế của mỗi cá nhân”.

Trong lớp Mai Hoa Việt Dịch, tôi đã chứng minh ngài Einstein hoàn toàn đúng, Với điều kiện Xác định : Thái Cực phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, chính là sự Tuyệt đối, là Thượng Đế. Và nói theo ngôn ngữ khoa học của vế thứ hai của Nghịch lý Toán học Cantor, là:

“Tập hợp lớn nhất, bao trùm mọi tập hợp và không một tập hợp nào lớn hơn nó”…

Nhưng, điều này chi được xác định với điều kiện Nhân danh nền văn hiến Việt. Trước nền văn hiến Việt – được giới thiệu trên thế gian, không có hệ thống tri thức này. Nó là sự kiện nằm ngoài những vòng tròn giới hạn trí tuệ của con người Theo Định Luật Bất Toàn của Godel.

Định luật Bất toàn của Godel, tương ứng với vế thứ nhất của Nghịch lý Cantor phát biểu rằng:

“Mọi tập hợp đều là phần tử của một tập hợp lớn hơn bao trùm lên nó”

Và nội dung của Định luật Bất Toàn và vế thứ nhất của Nghịch Lý Cantor, tương đồng với một nhận định cổ xưa, đã xác định rằng:

“Không thể nói chuyện trên trời với một con cá; không thể nói chuyện dưới nước với một con chim”.

Trời và nước là vòng tròn giới hạn tri thức của loài chim và cá. Nhưng con người có thể lên trời và xuống nước thì cái vòng tròn giới hạn trí tuệ, thể hiện ở chỗ nào ?

Đó chính là sự giới hạn cùa quá trình tiến hóa của nhận thức. Trong lịch sử tiến hóa đó, con người lần lượt bước qua các giới hạn của những vòng tròn trí tuệ ràng buộc họ, để vào một vòng tròn khác lớn hơn. Vào thế kỷ XVIII, thời của Hoàng Đế vĩ đại của nước Pháp – Napoleon Bonapar – không thể tin rằng: Một con tàu bằng sắt có thể nối trên mặt nước.

Hay mô tả bằng một cách khác : Cái cõi của con chim không thể hiểu được cõi của con cá. Hệ thống trí thức bị giới hạn trong một vòng tròn Godel thì cũng không thể tin được những cái gì thuộc về tương lai của sự tiến hóa. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, ngài Enistein và SW Hawking xác định rằng:

Một Lý thuyết thống nhất phải hàm chứa Lý thuyết Bất Định.

Tôi hoàn toàn ủng hộ nhận định của hai ngài Enistein và SW Hawking về quan điểm này. Nhưng riêng cá nhân tôi nhận xét cho rằng:

Định luật bất toàn của ngài Godel, hoàn toàn tương đồng với vế thứ nhất của Nghịch Lý Toán học Cantor. Nhưng sự mô tả bản chất của vấn đề mang tính tương đồng này, thì nghịch Lý Toán học Cantor chính xác và đây đủ hơn.

Tôi đặt những vấn đề này, để muốn nói với anh chị em các khóa Lạc Việt rằng:

Chúng ta đang sống trong Không/ Thời gian của một vòng tròn giới hạn trí tuệ. Hay nói theo cách cổ điển: Chúng ta đang ở một cõi riêng của chúng ta. Cõi riêng hiện nay của chúng ta, là vòng tròn lớn nhất, bao trùm lên những vòng tròn hiểu biết của nhân loại trong quá khứ của lịch sử tiên hóa, nói theo cách nói của Godel. Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, là tập hợp lớn nhất, những hiểu biết của con người trong quá khứ, nói theo cách nói của Nghịch lý Toán học Cantor.

Nhưng những hệ thống tri thức mà tôi diễn đạt và trình bày với anh chị em trong các khóa Lạc Việt, lại là thuộc về hệ thống tri thức của một vòng tròn lơn nhất, mà không thể có một vòng tròn nào bao trùm lên nó. Nó là một hệ thống tri thức, thuộc về một cõi khác., mà tôi gọi là “văn minh Atlantic” Đây là dỉnh cao huy hoàng mà nhân loại đã đạt được trong quá khứ. Tôi đã chứng minh điều này qua cuốn sách “Minh Triết Việt trong văn minh Đông phương”, “ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” và đặc biệt rõ rang trong khóa Mai Hoa Việt Dịch I,II. Nếu ace chưa công nhận thì hãy coi đây là một Tiền đề. Tiền đề này xác định rằng:

Thuyết ADNh & Kinh Dịch là phát minh của nền văn minh Atlantic. Nền văn minh này đã bị hủy diệt và dân tộc Việt – với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử – chính là một trong những dân tộc còn sống sót, đã giữ lại những giá trị tri thức của học thuyết này. Nền văn minh Văn Lang sụp đổ ở miền Nam sông Dương Tử từ 2300 năm trước. Di sản của nền văn hiến Việt đã bị Hán hóa, một cách rời rạch, thất truyền và sai lệch. Thực chất, chúng chỉ còn lại những phương pháp ứng dụng không hoàn chỉnh.

Đây là nguyên nhân, để chính người Hán – tự nhận là chủ nhân của học thuyết này. Nhưng chưa một học giả tinh hoa nào trong suốt quá trình lịch sử của văn minh Hán và cả của nền văn minh hiện đại trải gần 2300 năm- tính từ hi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ bên bờ Nam sông Dương Tử, có thể giải thích được bản chất đích thực của thuyết ADNh & Kinh Dịch. Dù chỉ là nội hàm của các khái niệm.

Do đó, tôi hy vọng và cũng mong ace hiểu rằng:

Chúng ta đang tiếp thu nền tảng trí tuệ của một nền văn minh ở một cõi khác, không thuộc nền văn minh của chúng ta. Hay nói rõ hơn thì tất cả trí tuệ thuộc nền tảng văn mình hiện nay chỉ là một phần tử nằm trong tập hợp của nền tảng trí tuệ văn minh Atlantic và chúng ta chưa thoát ra được vòng tròn giới hạn sự hiểu biết của nền văn minh chúng ta. Bởi vậy chúng ta không dễ dnagf tiếp thu và thẩm định được tính chân lý của một hệ trí thức vượt trội thuộc về nền văn minh Atlantic. Cho nên anh chị em hãy tiếp thu và tự thẩm định tính chân lý trong quá trình học tập những giá tri tri thức đích thực của nền văn minh Atlantic. Cho nên, trong các khóa Lạc Việt, tôi đều đã trình bày những tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, bởi vì chúng ta đang tìm hiểu hệ bản chất của hệ thống lý thuyết và thẩm định tính chân lý của một hệ thống lý thuyết ADNh & Kinh Dịch với những thực tại mà lý thuyết đó phản ánh. Do đó, trong quá trình tiếp thu những kiến thức ko thuộc nền văn minh của chúng ta – tức từ một cõi khác – Anh chị em  hãy lấy tiêu chí khoa học để tự quán xét và thẩm định, không nên vội phản biện ngắt ngang những hệ thống tri thức, không thuộc về chúng ta và chưa hiểu gì về nó.

Tôi lấy một ví dụ thực tế để anh chị em chiêm nghiệm.
Khi tôi chính thức công bố mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”, vào năm 2001. Giới Lý học phản đối rầm rầm. Từ trong nước cho đến Hải ngoại,
Năm 2005, Tiến Sĩ Toán Việt kiều Áo Trần Quang Bình, thực hiện trên 4200 bài toán, chứng minh cấu trúc mô hình “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Sau khi chứng minh Hậu Thiên Văn Vương sai bằng mô hình toán học, Tiến sĩ Trần Quang Bình đưa ra mô hình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ”. Các công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Trần Quang Bình được phổ biến trên các tạp chí khoa học Tiếng Anh và tiếng Việt trong đó có cả tạp chí Talawa nổi tiếng thời bấy giờ. Cả làng Lý học thế giới ngơ ngác. Họ không có chuyên môn Toán học, nên không thể chỉ ra cái sai của Tiến Sĩ Trần Quang Bình.

Tuy không đủ trình độ Toán học để chỉ ra cái sai của Tiến sĩ Trần Quang Bình trong mô hình Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ . Nên giới Lý học thế giới và Việt Nam đã chọn cách “thông minh”  là im lặng, nhưng đối với tôi công trình của Tiến sĩ Trần Quang Bình cũng phủ nhận mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”, sự kiện này đã khiến cho giới Lý học và Khoa học lúng túng. Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Trần Quang Bình là cái khiêng che chắn cho tôi, ít nhất nó đồng quan điểm với tôi là mô hình Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư đã sai, vấn đề tiếp tục đặt ra, nếu mô hình “Hậu Thiên Âu Lạc phối Hà Đồ” của Tiến Sĩ Trần Quang Bình đúng thì tôi sai. Vậy giữa tôi và TS Trần Quang Bình, ai đúng?
Tuy không có chuyên môn Toán học, nhưng bằng Tư Duy phân tích Tổng hợp trừu tượng, tôi biết cái sai của TS Trần Quang Bình ở đâu. Nhưng tôi im lặng. Bởi vì ít nhất có một nhà khoa học xác định: “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Tạm thời hãy thế đã.

Cũng xấp xỉ năm này, nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng cũng xác định “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Và ông đưa ra mô hình “Trung Thiên Bát quái đồ”, thay thế cho mô hình Hậu Thiên Văn Vương. Công trình của nhà nghiên  cứu Nguyễn Thiếu Dũng được đưa lên báo Thanh Niên, gây chấn động dư luận giới Lý học và cả triết học Sử Đông phương.
Tất nhiên, nếu mô hình “Trung Thiên Bát Quái đồ” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng đúng thì tôi sai và TS Trần Quang Bình cũng sai.

Như vậy, có thêm một nhà nghiên cứu xác định: “Hậu Thiên Văn Vương” sai. Và cái quan trọng là nó được một tờ báo chính thống có tên tuổi là Thanh Niên đăng tải nhiều kỳ một cách rất rầm rộ. Như vậy, ít nhất không phải chỉ mình tôi xác định Hậu Thiên Văn vương sai. Mặc dù chưa thể công nhận “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” của tôi đúng. Hiện tượng mô hình “Trung Thiên Bát quái đồ” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng công bố coi như một tấm áo giáp che chở cho tôi. Cho nên, tôi cũng không vội phản biện chỉ ra cái sai của ông.

Đến khoảng năm 2015/ 2016 Tiến Sĩ Hà Hưng Quốc ở Hoa Kỳ công bố mô hình Hậu Thiên Văn Lang phối Hà Đồ.
Lại một lần nữa tất nhiên, nếu mô hình “Hậu Thiên Văn Lang” đúng thì tôi sai. Như vậy, lại có thêm một nhà khoa học với học vị Tiến sĩ, hẳn ở Hoa Kỳ xác định: Hậu Thiên Văn Vương sai. Tiến sĩ Hà Hưng Quốc công bố công trình của mình trong hai tập sách dày khoảng 1000 trang . Chủ yếu nội dung hai cuốn sách này là chỉ trích tôi . Nhưng tôi không quan tâm những lời chỉ trích này. Mặc dù hai cuốn sách của ông không được sự quan tâm lắm của giới Lý học và khoa học nhưng chí ít, nó cũng xác định Hậu thiên Văn Vương sai. Tạm thời hãy thế đã.

Chưa hết,đến năm 2017/ 2018, một Việt kiều Pháp công bố công trình mô hình Hậu Thiên, tôi quên mất tên. Tạm đặt là “Hậu Thiên Giao Chỉ phối Lạc Thư”. Mô hình này công bố công khai tại nhà văn hóa Pháp ở Hanoi. Sau đó được in thành sách tiếng Việt.
Tất nhiên, lại một lần nữa, nếu mô hình “Hậu Thiên Giao Chỉ” đúng thì tôi sai. Nhưng tôi im lặng. Bởi vì ít nhất có thêm một nhà nghiên cứu nữa hẳn ở Pháp, xác định: Hậu Thiên Văn Vương sai.Tạm thời hãy thế đã.
Đến đây, anh chị em cũng thấy: Có đến 4 mô hình Hậu Thiên phi “Văn Vương” và phủ nhận “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”, nếu tính cả tôi nữa là 5. Sự kiện kéo dài 20 năm , làm chấn động giới Lý học và các nhà nghiên cứu văn minh cổ Đông phương trên thế giới. Tất nhiên, giới Triết học Sử và Lý họcTrung Quốc không thể không biết. Không lẽ, một siêu cường chiếm 1/ 4 dân số thế giới, mà các học giả Trung Quốc không đủ khả năng để phản biện hay sao?
Anh chị em hãy đọc bài này, để thấy ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu chứng minh Hậu Thiên Văn Vương sai, đã phổ biến mang tính quốc tế như thế nào?

Nhưng rất rõ ràng các học giả Trung Quốc đã im lặng trên thực tế hoặc là nhưng phản ứng yếu ớt không đủ để dư luận quan tâm, sự kiện này đã đặt ra một vấn đề như sau Họ gần như không phản ứng. Không chỉ giới hạn ở đấy. Có thể nói, các học giả quốc tế ngoài Trung Quốc, cũng gần như không có ai lên tiếng. Vấn đề được đặt ra:
Đây là một vấn đề lớn, không dễ gì phản bác. Bởi vì, như tôi đã nói: thực tế đây là kiến thức của một nền văn minh khác, cho dù cả thế giới không công nhận điều này vì nó nằm ngoài nền tảng tri thức của cái vòng tròn giới hạn của nền văn minh chúng ta. Những di sản còn lại liên quan đến thuyết ADNh &Kinh dịch chỉ là những mảnh ghép rời rạc và có những sai lệnh cục bộ ngoài ra là những phương pháp ứng dụng hệ quả của thuyết ADNh & Kinh Dịch : Địa lý phong thủy, Tử Vi, Bốc Dịch, Đông y, các môn dự báo liên quan đến ….: Kì môn, Thái Ất…cũng chỉ là những di sản rời rạc có tính ứng dụng và không có tính hệ thống. Nó không phải là cơ sở tri thức của nền văn minh đã tạo ra các phương pháp ứng dụng này.
Chúng ta có thể ví dụ:  Một bà ve chai trúng mánh, vẫn có thể sở hữu một công cụ ứng dụng tiên tiến nhất của nền văn minh hiện nay, là cái điện thoại thông minh đời mới. Nhưng điều đó không có nghĩa bà ve chai này, hiểu biết bản chất nền tảng tri thức của nền văn minh để tạo ra cái DT thông minh này. Từ đó, anh chị em sẽ dễ dàng suy ra: các thày bói đầu đình xó chợ, các thày Địa Lý, Tử Vi…tự nhận mình là cao thủ cũng chỉ là những người sử dụng công cụ. Và điều đó không có nghĩa rằng: Họ biết sử dụng công cụ là những phương pháp ứng dụng, thì có nghĩa là họ hiểu biết bản chất của nền tảng trí thức đã tạo ra nó. Sai;

Tất cả các loại thầy bà có thể rất giỏi trong chuyên môn của mình. Nhưng cũng chỉ như bà ve chai, cho đến Viện Sĩ Viện Hàn lâm dùng DT Thông minh thôi.

Đây chính là một trong những yếu tố quan trong, để nền văn minh Đông phương cổ huyền bí đến tận ngày hôm nay. Vấn đề tiếp tục được đặt ra:
Trong 5 Hậu Thiên phi văn Vương mà tôi đã trình bày ở trên căn cứ vào đâu, để xác định đúng sai? (trừ Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ của tôi thì mọi người xúm vào chê bai cứ như đúng rồi)
Xin lỗi, cái nền tảng tri thức của nền văn minh này, đang bị  giới hạn trong trong vòng tròn Kim Cô của Godel, nên nó chưa đủ trình độ để xác định Hậu Thiên nào đúng nào đúng.

Và tôi đã im lặng trong suốt thời gian các nhà nghiên cứu cả Khoa học lẫn Lý học đưa ra các mô hình Hậu Thiên mà tôi đã trình bày ở trên như một hướng dẫn dư luận khách quan, để họ cảm nhận được rằng “ Hậu Thiên VĂn Vương phối Lạc Thư” sai là hoàn toàn có thể có nguyên nhân của nó. Cho đến năm ngoái, nhân tiện một học viên trong lớp – nick “Tâm An” –  ảo tưởng  có thể chứng minh dễ ợt, khi đưa ra mô hình Hậu Tiên của anh ấy và xác định với tôi, là Anh ta cũng muốn đi tím chân lý. Tôi rất hoan nghênh tất cả nhửng ý tưởng đi tìm chân lý, nhưng đã theo học tôi, thì tất cả những ý tưởng gọi là đi tìm chân lý, mà đưa ra một mô hình khác với “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” Chứng tỏ rằng: Không hề hiểu biết bản chất của vấn đề thế thì theo học làm gì? Vừa tốn cơm, vừa tốn sức của tôi và tốn tiền các học viên. Tôi đã yêu cầu anh ta công khai mô hình này trên Fb của anh ấy. Nếu đã tự tin mô hình Hậu Thiên của anh ta đi tìm chân lý, thì phải công khai chứ nhỉ? Nếu chỉ công bố riêng trong lớp có mục đích gì? Phải chăng anh muốn gây hoang mang cho các học viên chưa hiểu biết và mang tính chất phá hoại.

Tôi khẳng định: Nếu anh ta không dám công khai, tôi dẹp luôn khóa DLLV và đuổi anh ra khỏi lớp. Tất nhiên vì tính chính danh của anh đi tìm chân lý, nên anh ta đã công khai mô hình Hậu Thiên của anh ấy, theo đề nghị của tôi.

Tôi cũng nói thẳng luôn:  với tôi tất cả các sáng tạo đi tìm chân lý của các kiểu “Hậu Thiên Văn Vương” đã trình bày ở trên đều sai! Và thời hạn im lặng của tôi đã hết hạn sử dụng! Tôi đã cho đi hết các thể loại Hậu Thiên với một luận cứ không thể ngắn gọn hơn. Đó là:
Một mô hình biểu kiến mô tả một hệ thống lý thuyết, được coi là đúng – trong trường hợp đối với mô hình Bát quái Hậu Thiên – thì nó phải tiếp tục giải thích tất cả những vấn đề liên quan đến nó thuoojcb pham trù của thuyết ADNh & Kinh Dịch như Địa Lý Lạc Việt, Tử Vi, bốc dịch, Lạc thư, Hoa giáp….

Đây chính sự phù hợp với tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm sđịnh một lý thuyết khoa học được cho là đúng, phát biểu như sau :

Một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được ho là đúng, nó phải giải thích một cahs hợp lý hầu hết các vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh; có tính quy luật, tính khách quan , tính quy luật và khả năng tiên tri”.

Chỉ có Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ , nguyên lý căn đề của mọi phương pháp ứng dụng thuộc di sản văn minh Đông Phương- nhân danh nền Văn hiến Việt  một thời huy hoàng bên bờ Nam song Dương Tử – thỏa mãn tiêu chí khoa học nói trên. Bởi vì nó đã giải thích một cách hợp lý tất cả những vấn đề liên quan đến nó, mà tôi đã trình bày trong các khóa học Lạc Việt và các công trình đã nghiên cứu.

Tính chân lý của mô hình Hậu thiện Lạc Việt phối Hà Đồ không chỉ dừng lại ở đây, mà nó còn đủ tư cách phục hồi toàn bộ những tri thức nền tảng của thueeys ADNh & Kinh Dịch mà còn giải thích toàn bộ lịch sử vũ trụ từ giây 0 cho đến mọi vấn đề liên quan đến nó.

Nếu không có một chân lý đứng đằng sau thì không thể có một sự giải thcihs toàn diện như vậy .

Giáo sư Hoàng Phương cho rằng kết cấu đồ hình Hậu Thiên Văn Vương có tính khoa học. Giáo sư đã viết trong tác phẩm Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai (Nxb Giáo dục Hà Nội 1996, trang 334) như sau:

VỊ TRÍ CÁC – QUẺ TRONG BÁT QUÁI ĐỒ

Thông thường một câu hỏi được đặt ra: Tại sao Văn Vương lại sử dụng một Bát quái đồ – gọi là Hậu Thiên Bát quái đồ – không được hoàn toàn đối xứng như Tiên Thiên Bát quái đồ của Phục Hy?

Chúng ta cần nhớ rằng nhân thể chúng ta không đối xứng, chẳng hạn là quả tim không nằm ngay chính giữa cơ thể! Thực tiễn sinh học và xã hội không bao giờ đối xứng hoàn toàn cả! Theo ý chúng tôi, Văn Vương có lý khi gạt bỏ tính đối xứng hoàn toàn của Bát quái đồ Phục Hy.

Đến trang 371 (sách đã dẫn), giáo sư Hoàng Phương tiếp tục giải thích và chứng minh vị trí các quẻ trong Bát quái, bằng phương pháp Toán học – vốn là chuyên môn của giáo sư – như sau:

VỊ TRÍ CÁC QUẺ TRONG BÁT QUÁI

Vị trí các quẻ trong Bát quái đồ Phục Hy là khá đơn giản, do sơ đồ này mang tính đối xứng rất cao. Nhưng tình hình lại khác khi nói đến Bát quái đồ Văn Vương, do tính đối xứng thấp hơn. Nhưng muốn chứng minh tính hợp lý của Bát quái đồ này, ngay khi tính đối xứng không còn cao nữa, cần dựa vào các định nghĩa sau:

A– HÀO SỐ VÀ QUẺ SỐ

Như chúng ta biết, mỗi quẻ trong Bát quái đồ Văn Vương có 3 hào, các hào có thể tính theo thứ tự dưới lên trên, hào dưới cùng gọi là hào 1…, hào trên cùng gọi là hào 3.

  1. Hào số

Cái gọi là hào số định nghĩa như sau:

  • Hào Âm thứ nhất (nếu có) có hào số bằng 1,
  • Hào Âm thứ hai (nếu có) có hào số bằng 2,
  • Hào Âm thứ ba (nếu có) có hào số bằng 4,
  • Tất cả các hào Dương đều không có hào số.

Có thể vẫn định nghĩa như trên, nhưng hoán vị hào Âm và hào Dương với nhau. Về sau này, ta theo định nghĩa thứ nhất, những kết quả thu được với định nghĩa thứ hai được ghi trong dấu ngoặc.

  1. Quẻ số

Tổng tất cả các hào số cộng với 1 (do trong Triết cổ Đông phương không có số 0) trong một Quẻ gọi là Quẻ số của Quẻ đó. Với các định nghĩa trên ta thu được bảng sau:

Bảng 51a. BẢNG CÁC QUẺ SỐ VÀ “HỌ NỘI”, HỌ NGOẠI TRONG ĐỘN GIÁP

Bây giờ ta chú ý rằng:

  • Các quẻ Đoài, Kiền và Khảm là tương ứng với Kim và Thủy, tức là có Âm tính theo cấu trúc Tứ Tượng.
  • Các quẻ Chấn, Tốn và Ly là tương ứng với Mộc và Hỏa, tức là số Dương tính theo cấu trúc Tứ Tượng,
  • Các quẻ Khôn và Cấn là tương ứng với Thổ, Trung tính.

Nếu ta cộng quẻ số tất cả các quẻ cùng tính (Âm, Dương và Trung) thì sẽ thấy rằng tổng các quẻ số trong mỗi loại đều bằng nhau và bằng 12 (Hình 114).

Như vậy, đã có một lý do về trình tự các quẻ của Bát quái đồ Văn Vương khi kết hợp với tính Âm, Dương và Trung. (Trong hình 114, các số trong dấu ngoặc là tương ứng với cách tính quẻ số dựa vào hào Dương).

Bây giờ chúng ta chuyển sang một lý do khác.

Trong kinh Dịch, có sự phân loại nam, nữ như sau (Bảng 47):

 

 

 

 

  • TỐN: THIẾU NỮ, LY: TRUNG NỮ, ĐOÀI: TRƯỞNG NỮ (HỌ NGOẠI),
  • CẤN: THIẾU NAM, KHẢM: TRUNG NAM, CHẤN: TRƯỞNG

NAM (HỌ NỘI).

Ta thêm vào sự phân loại trên:

  • KIỀN XEM LÀ CHA (CHA TRỜI), (CHỦ HỌ NỘI),
  • KHÔN XEM LÀ MẸ (MẸ ĐẤT), (CHỦ HỌ NGOẠI).

Như thế ta có hai cặp con Nội, Ngoại (sẽ được gặp lại trong học thuyết Thái Ất và trong kinh Dịch). Nếu cộng các quẻ số thuộc hai họ Nội, Ngoại thì chúng ta được hai số bằng nhau, bằng 18.

Đó là thêm một số lý do để hiểu tại sao Văn Vương lại chọn một cách bố trí các quẻ một cách “thiếu đối xứng” như thế!

Cần nhớ lại là quẻ Khảm có mã số bằng 1, để hình dung cho đầy đủ lý do tồn tại của Bát quái đồ Văn Vương.

 

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

TÔI VẪN ỦNG HỘ THUYẾT  TIẾN HÓA.
BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.

https://www.facebook.com/108648414984677/videos/301492485228682

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

GIẢI MÃ NGÀY MÙNG 5 THÁNG 5 TRONG DI SẢN VĂN HIẾN VIỆT.

Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

Kính thưa quí vị và anh chị em quan tâm .

Ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm là một ngày lễ hội truyền thống không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước Đông phương khác là Triều Tiên và Trung Quốc . Đã có nhiều bài viết nghiên cứu về ngày 5 – 5 của nhiều tác giả. Thiên Sứ tôi cũng đã có bài viết về để tài này từ 2004 trên tuvilyso.com và trên ktcn.net. Hôm nay, nhân dịp có một người bạn hỏi về nguồn gốc của ngày này, nên tôi xin được trình bày lại ý nghĩa đích thực của ngày Tết Đoan Ngọ 5 – 5, trong di sản văn hiến Việt .

Tết Đoan Ngọ tồn tại từ lâu trong văn hoá dân gian Đông Phương và có một ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt văn hoá của một số nước Đông phương. Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương.  Ngày này cũng còn gọi là ngày giết sâu bọ. Vì người ta tin rằng: Khi ăn món ăn đầu tiên trong ngày này thì sâu bọ; giun sán trong người sẽ bị chết hết.

Truyền thuyết về lịch sử ngày mùng 5 tháng năm thì lưu truyền rằng:

Một truyền thuyết thứ hai nữa là:

Khuất Nguyên là một vị trung thần nước Sở, ông còn là một nhà văn hoá nổi tiếng với bài Ly Tao và Sở Từ, thể hiện tâm trạng buồn về sự suy vong với họạ mất nước. Can vua không được, ông tự tử trên dòng sông Mịch La. Dân chúng trọng nghĩa ra sông tưởng nhớ anh linh của ông, cúng rất nhiều sản vật. Ngày đó, theo truyền thuyết là ngày mùng 5 tháng 5.

Như vậy, theo truyền thuyết trên thì ngày 5 – 5 có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa.

Nhưng điều đáng lưu ý là – Hàn Quốc cũng coi ngày 5 – 5 là ngày lễ theo truyền thống văn hoá của họ . Trong bài báo “Đừng đối đãi với di sản văn hoá như bánh mì” đăng trên báo Tuổi Trẻ trang 16, ngày 22 tháng 6 năm 2004, đã đưa tin:

“Hàn Quốc đề nghị Liên Hiệp Quốc công nhận tết Đoan Ngọ vào ngày 5 tháng 5 là “di sản văn hoá phi vật thể” của Hàn Quốc”.

Bài báo cũng cho biết có nhiều tờ báo Trung Quốc xem đó là việc làm xâm phạm văn hoá, nhiều hoc sinh thành phố Nhạc Dương (Hồ Nam) ký tên bảo vệ tết Đoan Ngọ. Nhiều người Trung Quốc kiến nghị chính quyền đăng ký bản quyền di sản văn hoá… Bài báo có đoạn viết:

“Dẫu mọi việc chẳng có gì để ầm ĩ; nhưng nhân vụ việc này người Trung Quốc mới thấy giá trị của văn hoá dân gian.”

Nhưng trong văn hoá Việt thì ngày mùng 5 tháng năm lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Trong dân gian đã lưu truyền câu ca dao:

“Tháng Năm ngày tết Đoan Dương.

Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang”.

Như vậy, theo di sản văn hóa truyền thống Việt thì đây là một ngày tết có nguồn gốc từ văn hoá Việt. Nhưng tại sao ngày mùng 5 tháng 5 lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ? Điều này có liên hệ gì với ngày 10 tháng 3 lại là ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương của giống nòi Lạc Việt?

Là những người nghiên cứu nguyên lý học thuật cổ Đông Phương, chắc chúng ta đều biết đến đồ hình Hà Đồ. Có lẽ ai cũng biết rằng trung tâm Hà Đồ là ngôi Hoàng Cực biểu tượng của sự thống trị tối cao; tức quyền uy của nhà vua. Trung tâm Hà Đồ có độ số 5 thuộc Dương và 10 thuộc Âm. Phần trung tâm Hà Đồ được miêu tả như sau:

ĐỒ HÌNH HÀ ĐỒ

Posted Image

Chúng ta cũng biết rằng: Trong nguyên lý Âm Dương thì Dương có trước và Âm có sau. Dương là giá trị trừu tượng, Âm là giá trị hiện hữu. Như vậy, tháng có trước thuộc Dương và ngày có sau thuộc Âm (Ngày là con của tháng). Ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương (Giỗ Cha) được chọn là ngày 10 tháng 3 vì:

Tháng 3 là tháng Thìn/ Rồng biểu tượng của Vương quyền chính là tháng thứ 5 kể từ tháng Tý (Lịch Kiến Tý). Đó chính là biểu tượng của 5 vòng tròn trắng ở trung tâm Hà Đồ thuộc Dương (Tháng có trước thuộc Dương). Ngày là con của tháng thuộc Âm, nên chọn ngày mùng 10. Đó đó chính là biểu tượng của 10 vòng tròn đen thuộc Âm trên Hà đồ.

Xin xem hình minh hoạ dưới đây:

TRUNG CUNG HÀ ĐỒ VỚI ĐỘ SỐ DƯƠNG 5 VÀ ÂM 1O

Posted Image

Cũng trên nguyên lý độ số Âm của Hà Đồ là sự hiện hữu, nên chọn là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Ngày mùng 5 tháng 5 chính là biểu tượng của hai dãy mỗi dẫy 5 vòng tròn đen ở trung tâm Hà Đồ (Xin xem lại hình trên) . Chúng ta cũng lưu ý rằng: Ngày mùng 5 / 5 là ngày rất gần tiết Hạ Chí, tức là ngày nóng nhất trong năm theo thực tế thời tiết; hay nói theo thuyết Âm Dương Ngũ hành: Là ngày cực Dương thuộc Hoả khí (Trong Hậu Thiên Lạc Việt, Ly Hoả thay thế vị trí Càn trong Tiên Thiên). Bởi vậy, lấy số ngày và tháng cực Âm về biểu tượng là mùng 5 / 5 (Cân bằng Âm Dương). Vì là ngày cực Âm nên biểu tượng bằng ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. (Cha thuộc Dương / Mẹ thuộc Âm).

Như vậy, nền văn hiến Lạc Việt qua ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương và Quốc Mẫu Âu Cơ, đã giải thích nguyên uỷ hai ngày này bằng chính nền tảng của nguyên lý học thuật cổ Đông phương, chứ không phải bằng những truyền thuyết mơ hồ nói trên.

Đây là một yếu tố sắc sảo nữa chứng minh rằng: Nguồn gốc của văn minh Đông phương thuộc về nền văn minh Lạc Việt một thời huy hoàng kỳ vĩ từ hàng ngàn năm trước ở miền nam sông Dương Tử. Nền văn minh này đã sụp đổ từ thế kỷ thứ III trước CN, nhưng dấu ấn của nó vẫn còn lưu giữ trong những giá trị văn hóa truyền thống ở nhiều quốc gia liên quan đến nền văn minh này.

Kính thưa quí vị quan tâm.

Những giá trị của thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự nhận thức những thực tại của con người làm nên nó, là hệ quả tổng hợp của cả một nền văn minh phát triển tích lũy và kế thừa trong quá trình tiến hóa của nó, trải nhiều ngàn năm. Bởi vậy, khi một nền văn minh tạo ra nó đã sụp đổ thì sẽ kéo theo tất cả những mối quan hệ tri thức và hạ tầng cơ sở vật chất liên quan đến tinh hoa tri thức mà nó tạo ra. Do đó, để hiểu được bản chất những giá trị tinh hoa của nền văn minh này – Thuyết Âm Dương Ngũ hành – không thể là một tư duy dễ dãi, mà phải là sự tổng hợp những gì còn sót lại của nó và biết được một thực tại nào là cơ sở nhận thức đã tạo ra nó. Nền văn minh Lạc Việt với những dấu ấn còn lại trong những giá trị văn hóa truyền thống, có rất nhiều hiện tượng phù hợp với những giá trị nguyên lý của học thuyết này, mà không một nền văn hóa gần gũi nào liên quan có thể có được. Bởi vậy, những giá trị văn hóa phi vật vật thể chính là một bằng chứng rất rõ nét chứng minh cho cội nguồn văn hóa Việt là nền tảng của giá trị văn minh Đông phương cổ.

Cảm ơn sự quan tâm của quí vị!

Thiên Sứ”

 

Edited 8 Tháng 6, 2008 by Phoenix

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

HÌNH TƯỢNG HUYỀN THIÊN TRẤN VŨ – ĐỀN QUAN THÁNH HANOI.

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.
THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.

 

Mặc dù được tháp tùng Sư phụ đi tham quan nhiều chùa, đình, miếu và được Sư phụ giảng nhiều nhưng đối với đền này có nhiều cái khác lạ và đặc trưng và có nhiều chi tiết và liên kết các thứ đó với nhau như thế nào con chưa hiểu nên con đưa câu hỏi về đây mong được Sư phụ giảng giải giúp để anh chị em cùng học luôn ạ.

Con cám ơn Sư phụ nhiều nhiều ạ.

THƯA QUÝ VỊ VÀ CAC BẠN
https://vnexpress.net/chuyen-it-biet-ve-pho-tuong-than-tran-vu-3355544.html
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

NGÔN NGỮ VIỆT VÀ THƠ ĐƯỜNG.

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Từ 500 năm trước, trong một cuộc hội thảo khoa học về Kinh Dịch tại Hanoi, lão Gàn lớn tiếng phát biểu:
– Tiếng Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong lịch sử văn minh nhân loại.
Cử tọa, toàn là giáo sư tiến sĩ, đủ các kiểu cười ồ! Tất nhiên, lão biết trước điều này. Nhưng vì nói chuyện với toàn những nhà khoa học, nên lão rất tin rằng họ sẽ định tâm hơn, so với số đông dân làng Fb Vũ Đại, gần đủ các thành phần> Chí Phèo Bá Kiến…Nên lão dõng dạc nói tiếp với một trong những luận cứ căn bản, để chứng minh:
– Thưa quý vị. Bằng chứng đây: Tiếng Việt có thể dịch bất cứ ngôn ngữ nào ra tiếng Việt một cách hoàn chỉnh. Nhưng ngược lại, không phải bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng dịch được tiếng Việt ra ngôn ngữ của họ.
Cử tọa im lặng. Ngay cả ông Nguyễn Khắc Viện, dịch chuyện Kiều ra tiếng Pháp – là ngôn ngữ thứ 2 của ông. Bản dịch cũng rất khó khăn. Và nó không còn hồn thơ huyền vĩ của truyện Kiều từ ngôn ngữ Việt.
Trong khóa MHVD, tôi cũng chứng minh và xác định với anh chị em học viên là: Một trong ba yếu tố quyết định sự phát triên, để hình thánh một học thuyết, là: “Phải có một nền tảng ngôn ngữ tương ứng để mô tả được nó” (Hai yếu tố còn lại, là: 1/ Nền tảng trí thức của nền văn minh; 2/ Sự phát triển của phương pháp tư duy tổng hợp trừu tượng). Từ đó, xác định rằng:
Chỉ có ngôn ngữ VIỆT, mới đủ đẳng cấp để mô tả một hệ thống LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT.
Thưa quý vị và các bạn.
Bài thơ có gốc là phương pháp thơ Đường Luật – mà tôi hân hạnh giới thiệu với quý vị và các bạn dưới đây – một lần nữa làm sáng tỏ luận điểm của tôi> Không thể dịch ra bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào mà giữ được hai yếu tố: Chất thơ và sự huyền vĩ của ngôn ngữ.
Thưa quý vị và các bạn.
Từ rất lâu, tôi đã xác định rằng: THƠ ĐƯỜNG và phương pháp thể hiện > Không phải có xuất xứ từ đời nhà Đường bên Tàu. Mà nó có nguồn gốc chính từ nền văn hiến Việt vào đời Đường Ngu của nền văn hiến Việt, dưới sự trị vì của các vua Hùng với đất nước Văn Lang. Sự Hán hóa đến gần 1000 năm sau, vào đời nhà Đường bên Tàu, các thi nhân gốc Việt mới tìm cách chuyển thể sang tiếng Hán và chữ Hán. nhưng họ không thành công. Thơ thể thất ngôn, bát cú
bằng ngôn ngữ Hán, rất hiếm. Gần như không đạt chuẩn thơ Đường.
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán.
Thi tự Thẩm Miên, lạt Thịnh Đường.
Hoàng đế Tự Đức.
Nếu có ai đó phát biểu rằng:
Thời Nghiêu Thuấn (Tức Đường Ngu) tất cả các văn bản còn lại bằng tiếng Tàu, đều nói thuộc về sử Tàu. Ông Thiên Sứ Gàn náy nói láo! Xin lỗi! Tôi delete ngay vì sự ngu xuẩn trong phương pháp nghiên cứu, mà không cần chứng minh phương pháp đó ngu như thế nào…
Văn hiến thiên niên quốc.
Xa thư vạn lý đồ.
Hồng Bàng khai tịch hậu.
Nam phục nhất Đường Ngu.
Bài thơ trong điện Thái Hòa Kinh thành Huế.
MỘT BÀI THƠ KỲ LẠ
Tiếng Việt của chúng ta thật tuyệt vời !
Phải nói là bái phục bài thơ lạ kỳ này. Bài thơ được chia sẻ từ nhà nghiên cứu Dân tộc học và Việt học Đinh Trọng Hiếu ở Paris đăng trên “Khuôn Mặt Văn Nghệ”.
Không biết tác giả là ai, nhưng khi đọc bài thơ này ta vô cùng khâm phục tác giả của bài thơ, càng thêm yêu quý và càng phải giữ gìn vẻ đẹp của tiếng Việt.
Bây giờ ta hãy chiêm ngưỡng vẻ độc đáo của bài thơ này :
1. Bài thơ gốc:
Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.
2. Đọc ngược bài gốc từ dưới lên :
Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.
3. Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
(Sẽ có một bài ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng) :
Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.
4. Bỏ 2 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta sẽ được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng) :
Mắt ai bóng thướt tha
Đàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.
5. Bỏ 3 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc :
Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.
6. Bỏ 3 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta đọc ngược từ dưới lên :
Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.
7. Bỏ 4 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc :
Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Đàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.
8. Bỏ 4 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, ngược từ dưới lên :
Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta ./.
(Khuyết danh)
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi