PHẢN BIỆN THIÊN SỨ – NGUYỄN VŨ TUẤN ANH

HIỆN TƯỢNG

 

Có thể nói rằng khi cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” được giới thiệu trên thư viện của website tuvilyso.com vào cuối năm 2003 đầu 2004 thì đã xảy ra những cuộc tranh luận sôi nổi. Kinh Dịch là của Việt Nam lần đầu tiên được đặt ra không phải chỉ dừng lại ở việc đặt vấn đề mà là một hệ thống lý luận minh chứng với những luận cứ chặt chẽ trong cuốn sách này. Có thể nói, hầu như tất cả những hội viên có tìm hiều và có khả năng ứng dụng vài phương pháp thuộc lý học Đông phương trên tuvilyso.com đều tham gia phản biện. Người đầu tiên đặt vấn đề này là anh Sài Vi Tử với topic có tựa là “Gửi Thiên Sứ”. Cuộc tranh luận mà mục đích ban đầu là đi tìm chân lý biến thành sự phản đối kịch liệt. Tham gia tranh luận và phản đối hầu hết là những người có kiến thức trung bình, những nhà nghiên cứu có đẳng cấp và học vị trên trang tuvilyso.com không tham gia. Cho đến giờ này những anh Trumetin, Quảng Đức, VDTT chưa có ý kiến gì. Anh Sài Vi Tử chỉ đặt một số câu hỏi sau đó thì không tham gia tranh biện. Anh Doccocauthang trước khi từ biệt diễn đàn để bước vào cuộc sống tu hành đã gửi Thiên Sứ một bức thư ngỏ xác định Thiên Sứ đúng khi đổi chỗ Tốn Khôn. Cuộc tranh luận trên tuvilyso.com có tác dụng đã loại một số cách đặt vấn đề và phản biện ấu trĩ, nhưng khi nó buộc phải cần có tri thức học thuật thì nó chuyển sang sự phản đốí hơn là phản biện. Cho đến nay, vẫn tiếp tục có nhiều ý kiến rất muốn phản biện. Nhưng có lẽ ý kiến của anh Vuivui đủ để những người muốn phản biện cần lưu tâm. Tôi không nhớ chính xác bài viết của anh Vuivui, nhưng đại ý có thể diễn đạt như sau:

 

Đây là một hệ thống lý thuyết chứ không phải là một hiện tượng được minh chứng rời rạc. Bởi vậy, ngay cả khi chỉ ra được một cái sai trong mắt xích của hệ thống đó thì cũng cần có thời gian để tác giả hiệu chính phủ hợp với tính logic của nó.

 

Rất tiếc! Không phải ai cũng hiểu được điều này. Bởi vậy, sau lưng Thiên Sứ tôi vẫn không thiếu những lời phản đối, nhân danh đủ thứ kể cả các hành vi phi học thuật. Đây là điều tất yếu mà Thiên Sứ tôi phải lãnh nhận khi nhân danh khoa học tấn công vào niềm tin mang tính truyền thống – trải hàng ngàn năm về cội nguồn và những giá trị liên quan đến Kinh Dịch và thuyết Âm Duơng Ngũ hành – để minh chứng cho lịch sử văn hiến huyền vĩ Việt trải gần 5000 năm. Tất nhiên tôi phải đủ sự kiêu hãnh và tự tin để đơn thương độc mã làm việc này. Nhưng cũng chính vì điều đó mà tôi không thể chứng tỏ tính chân lý bằng các thoả mãn từng con người có ý kiến phản biện bắng cách đối thoại với họ, vì tính toàn cầu của niềm tin này.

Cũng đã có ý kiến cho rằng cần tập hợp tất cả những ý kiến phản biện mang tính học thuật thật sự và tổng hợp những ý kiến giống nhau và tôi sẽ chứng minh tính chân lý của tôi trước những lập luận phản biện đó. Nhưng vấn đề đặt ra là: Trong trường hợp Thiên Sứ đúng thì đây có phải là điều kiện tối ưu để làm thay đổi cách hiểu truyền thống có tính phổ biến toàn cầu về cội nguồn Kinh Dịch của Trung Hoa, khi nó bị phủ nhận? Tất nhiên là không! Ngay cả khi nó được một quốc gia ủng hộ quan điểm của Thiên Sứ thì người của quốc gia khác lại tiếp tục đòi phản biện. Bởi vì từ hàng ngàn năm con người đã hình thành một niềm tin có tính truyền thống về cội nguồn lý học Đông phương thuộc về văn minh Hán. Đây là một ý kiến khó có kết quả rốt ráo. Do đó, chỉ khi chính những tổ chức có uy tín toàn cầu như cơ quan văn hoá Liên Hiệp quốc đứng ra tổ chức việc này và khi Thiên Sứ chứng tỏ được tính chân lý của mình, lúc đó mởi đủ làm thay đổi niềm tin truyền thống. Việc này tuy xa vời nhưng có khả năng thực hiện được

 

 

TRANH LUẬN VÀ CHÂN LÝ

Người quân tử tranh luận đẻ cầu tìm chân lý.

Kẻ tiểu nhân tranh luận để giành hơn thua.

Có người nói rằng: “Những cuộc tranh luận làm sáng tỏ chân lý”. Nhưng thực ra nó chỉ đúng với vế trên khi người tham gia tranh luận thực sự sáng suốt và tự nhận thức được một cách khách quan trước các lập luận của đối tượng tranh luận. Hay nói cách khác là người tham gia tranh luận phải tự vượt lên đuợc những nếp nghĩ của chính mình.

Tất nhiên những cuộc tranh luận chỉ xảy ra khi có ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề. Chẳng ai đi tranh luận điều mà cả hai đều thừa nhận. Đây cũng là một tiêu chí khoahọc căn cứ trên sự trải rộng của tri thức nhân loại và sự vô cùng của thiên nhiên và vũ trụ. Do đó trong tranh luận, nếu đòi hỏi phải làm sáng tỏ cả những cái mà cả hai đều công nhận thì bản chất của sự đòi hỏi này là bắt buộc phải có phát minh trên cái cả hai đều thừa nhận. Lập luận này là phi lý và nguỵ biện.

Khi vấn đề được đặt ra sở dĩ gây tranh luận – suy cho cùng – là do tất cả những người tham gia tranh luận và cả những người quan tâm đều không đủ khả năng thẩm định tính chân lý của vấn đề tranh luận. Nên họ cần một cuộc tranh luận để làm sáng tỏ trên cơ sở tính hợp lý được trình bày qua tranh luận. Nhưng những cuộc tranh luận như vậy chỉ đạt kết quả nếu:

 

Những người tham gia tranh luận hoàn toàn thật sự khách quan cầu tìm chân lý.

Tất nhiên với những kẻ tham gia tranh luận chỉ vì háo danh muốn chứng tỏ mình thì luôn nghiêng về quan điểm mang tính phổ biến được nhiều người ủng hộ thì cuộc tranh luận sẽ đi đến cù nhây và không thể chấm dứt. Tuy nhiên sự háo danh này nó không phải lúc nào cũng rõ ràng mà đôi khi nó xuất hiện trong kẻ háo danh duới hình thức nhu cầu thể hiện kiến thức….

 

Vấn đề đặt ra tranh luận phải đạt mục đích tìm một chân lý cần sáng tỏ và là hệ quả của một chân lý.

Do đó, nếu vấn đề đặt ra sai thì cuộc tranh luận cũng sẽ vô bổ ngay cả với người quân tử. Điều mà Đức Phật gọi là “Chuyện lông rùa, sừng thỏ”. Thí dụ như các tu sĩ Thiên Chúa giáo vào thế kỷ XIV đã từng tranh luận sổi nổi về phương pháp chuyển dịch các vì sao của các thiên thần trên bầu trời như thế nào. Hoặc như các học giả Trung Hoa tranh luận về các vấn đề liên quan đến Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành trên cơ sở họ cho rằng chúng có nguồn gốc từ văn minh Trung Hoa bởi con Long Mã và con rùa… Tất nhiên là kết quả của các cuộc tranh luận này là cho đến nay nền lý học Đông phương chỉ duợc giải thích một các huyền bí.

Bởi vậy, không phải lúc nào các cuộc tranh luận cũng mang lại kết quả, nếu chúng không thoả mãn những điều kiện đã trình bày ở trên. Và đương nhiên, những cuộc tranh luận này là không cần thiết, vì nó sẽ không dẫn đến kết quả là làm sáng tỏ chân lý.

 

THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ KINH DỊCH THUỘC VỀ NỀN VĂN HIẾN VIỆT.

 

Đối với Thiên Sứ thì quan điểm trên không phải chỉ dừng lại như một giả thuyết, hoặc chỉ là một vấn đề được đặt ra, có chứng minh hoặc không chứng minh, mà nó là một hệ thống lý thuyết dựa trên một giả thuyết xuất phát từ sự phân tích những mâu thuẫn và sự bế tắc của lịch sử và nội dung kinh Dịch với thuyết Âm Dương Ngũ hành có xuất xứ từ cổ thư chữ Hán (Phần I “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”). Trên cơ sở những mâu thuẫn này một giả thuyết được đặt ra là: Nền Lý học Đông phương (Bao gồm Kinh Dịch và thuyết Âm Duơng Ngũ hành) không thuộc về nền văn minh Hán. Từ giả thuyết ban đầu này là việc chứng minh tính hợp lý của việc đổi chỗ Tốn Khôn trong Hậu thiên Bát quái vốn được coi là do vua Văn Vương tìm ra và phối với Hà đồ, như là một nguyên lý căn để của lý học Đông phương phi Hán (Sách Hán: “Hậu thiên Văn Vương phối với Lạc Thư”). Nếu mọi việc chỉ dừng ở đây thì nguyên lý này cũng sẽ không hơn những nguyên lý đuợc đặt ra sau đó là: Hậu Thiên Âu Lạc, Trung Thiên bát quái, Hậu thiên Nguyên Lê…vv…. Nhưng vấn đề Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồkhông chỉ dừng lại ở đây, mà nó phát triển thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán trên toàn bộ nền lý học Đông phương. Hệ thống này không phủ nhận hoàn toàn những giá trị của những di sản được lưu truyền qua cổ thư chữ Hán, mà nó là sự hiệu chỉnh trên một nguyên lý nhất quán là Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Nó nhân danh khoa học và thoả mãn tất cả những tiêu chí khoa học liên quan đến một lý thuyết khoa học.

Chính vì nó là một hệ thống lý thuyết nên nó chỉ có thể bị coi là sai – theo tiêu chí khoa học là:

Một lý thuyết khoa học bị coi là sai, nếu người ta chỉ ra đuợc một điểm sai trong hệ thống mắt xích của nó mà không thể biện minh được.

 

Đây chính là điều mà anh Vuivui đã đặt ra:

Đây là một hệ thống lý thuyết chứ không phải là một hiện tượng được minh chứng rời rạc. Bởi vậy, ngay cả khi chỉ ra được một cái sai trong mắt xích của hệ thống đó thì cũng cần có thời gian để tác giả hiệu chính phủ hợp với tính logic của nó.

 

Nhưng cho đến nay chưa ai chỉ ra được tính không hợp lý của một trong những mắt xích thuộc hệ thống của nó.

Nhưng vì là một hệ thống lý thuyết nên để minh chứng nó sai, người ta còn có thể xây dựng một hệ thống Bát quái đồ trên sơ sở một nguyên lý khác và nguyên lý này phải chứng tỏ tính hợp lý hơn nguyên lý Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ trong việc giải thích những vấn đề liên quan vô cùng đồ sộ của nền lý học Đông phương. Trong trường hợp này thì lý thuyết của Thiên Sứ sẽ bị coi là sai so với lý thuyết mới. Nhưng khả năng này cho đến nay cũng chưa xảy ra. Hay nói cho rõ: Chưa ai có thể minh chứng một hệ thống lý thuyết hợp lý trong việc giải thích một cách nhất quán, có tính qui luật, tính khách quan và chứng tỏ khả năng tiên tri hơn nguyên lý Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ trong việc giải thích các vấn đề liên quan và sự phát triển chưa có điểm dừng của nó. Trong trường hợp này, để chứng minh Thiên Sứ sai còn có vấn đề chứng minh tính hợp lý của hệ thống Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư với các vấn đề liên quan dến nó. Hay nói một cách khác: Chứng minh nguyên lý Hậu thiên Văn Vương phối Lạc Thư theo cổ thư chữ Hán là đúng.

Có thể nói thẳng ra rằng: Ý tưởng việc chứng minh nguyên lý Hậu thiên Văn Vương phối Lạc Thư theo cổ thư chữ Hán là đúng, chỉ là chuyện “lông rùa sừng thỏ”. Bởi những nguyên nhân sau đây:

* Trải hơn hai Thiên niên kỷ, tất cả các học giả đủ mọi tri thức thuộc văn minh Trung Hoa, đã không thể nào phục hồi và chỉ ra tính hoàn chỉnh hợp lý từ nguyên lý căn để của hệ thống lý học Đông phương là Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư. Sư bế tắc này đã khiến có một số học giả tầm cỡ của Trung Hoa hiện đại phủ nhận ngay chính những cái mà họ tự nhận là di sản của họ như nền Đông Y.

* Vấn đề không phải chỉ bắt đầu với đồ hình Hậu Thiên nào hợp lý hay không hợp lý, mà còn là khi chứng minh điều này, tác giả của nó buộc phải minh chứng tính hợp lý của sự xuất hiện những vấn đề liên quan ngay từ cổ thư chữ Hán trong lịch sử văn hoá Hán. Trong khi đây chính là tiền đề mà Thiên Sứ tôi đã chỉ ra tính mâu thuẫn của nó để minh chứng cho tính hợp lý của Hậu Thiên Lạc Việt gắn liền với lịch sử văn hiến Việt. (Phần I – “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”). Hay nói nôm na cho dễ hiểu với mọi trình độ là: Người ta sẽ buộc phải chứng minh con Long Mã hiện trên sông Hoàng Hà và con Thần Qui hiện trên sông Lạc Thuỷ là có thật, trước khi minh chứng tính hợp lý của hệ thống Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư. Mâu thuẫn trong quá trình xuất hiện những vấn đề và hiện tượng liên quan đến lý học Đông phương (Gồm các vấn đề liên quan dến Kinh Dịch Âm Dương Ngũ hành) trong lịch sử văn hoá Hán là mâu thuẫn huỷ diệt.

 

Bởi vậy, việc cố gắng chứng minh hệ thống nguyên lý Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư chỉ là chuyện “Lông rùa, sừng thỏ” và tất nhiên là vô bổ.

Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ thực ra chỉ là một mắt xích quan trọng trong cả một hệ thống liên quan toàn bộ đến lịch sử văn hoá Đông phương và những vấn đề thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch thuộc về người Lạc Việt. Hệ thống này nhân danh khoa học với tất cả những tiêu chí khoa học được thừa nhận. Bởi vậy mọi phản biện mang tính cục bộ, chi tiết đều không có tác dụng xoá bỏ tính hệ thống của nó.

Đó là lý do mà Thiên Sứ tôi viết bài này để biện minh việc từ chối không tham gia những bài phản biện ngắn ngủi, chi tiết vụn vặt và thành thật khuyên những ai quan tâm có ý thức thật sự đi tìm chân lý hãy suy nghiệm, không nên mất thời giờ vào việc phản biện Thiên Sứ – Nguyễn Vũ Tuấn Anh khi không thể thiết lập một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh hơn, hoặc chỉ ra sai lầm của một mắt xích quan trong sự liên quan chặt chẽ của hệ thống đó.

Thiên Sứ tôi thật sự khiêm tốn khi nói rằng:

Quan điểm lịch sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến không phải chỉ giới hạn là vấn đề lịch sử của một dân tộc mà đằng sau đó còn là một hệ thống tri thức vô cùng đồ sộ, huyền vĩ, kết tinh của cả một nền văn minh toàn cầu của nhân loại đã bị sụp đổ vào thời tiền Băng Hà – mà Thiên Sứ tôi đặt tên là nền văn minh Atlantic. Những tri thức này sẽ phục vụ cho sự phát triển của nhân loại trong tương lai. Nhưng để tiếp thu một cách hoàn hảo tri thức này – vì tính hợp lý của nó – buộc người ta phải thửa nhận lịch sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến.

Cảm ơn sự quan tâm của các bạn.

Thiên Sứ
Bài này đã được đăng trong Các Đề Tài Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.