Nguyễn Trần Bạt

Thì ra nhận xét của ông ta nằm ngay trên đường link bài viết mà tôi đưa lên. Tôi có tật xem lướt qua các bài viết, chỉ cảm nhận ý chính và kết luận rất nhanh. Nó tiết kiệm cho tôi thới gian, nhưng đôi khi nó làm mất những sự tiếp thu những ý tưởng hay, mà có khi nó chỉ nằm ở một dòng nào đó. Trong bài viết này, ông ta đã nhận xét chính xác:

“Xưa nay thế giới vẫn nói về toàn cầu hoá thế này, thế khác, nhưng dường như thế giới cũng chưa hình dung ra toàn cầu hoá thực chất là gì. Nhà chính trị thì nói rằng toàn cầu hoá là sự phá vỡ các biên giới địa lý, phá vỡ chủ quyền quốc gia, quyền lực tuột khỏi tay chính phủ v.v…, tức là nói về mặt lý thuyết, nói có tính chất tuyên huấn thì nhiều chính phủ đã làm, nhưng hình dung nó và xây dựng chương trình đề kháng nó thì chưa”.

Bởi vậy, chưa nắm được ngay cả bản chất của toàn cầu hóa, thì làm sao hiểu được bản chất của khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà giải quyết. Dưới đây là nội dung toàn bộ bài viết của ông trên chungta.com, ngày 25/12/2008. Cũng cũ lâu rồi. Nó chỉ mới với tôi. Híc. Nhưng nó có tính chứng nhân cho những suy nghiệm của tôi trong những dự báo, đã thực hiện.

Trả lời phỏng vấn phóng viên ngày 25/12/2008
Khủng hoảng kinh tế thế giới và những nhiệm vụ của năm 2009.
Nguyễn Trần Bạt
Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group

Hỏi: Phân tích về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng cuộc khủng hoảng này vẫn chưa chạm đáy. Cả World Bank lẫn ADB đều dự đoán phải đến quý IV năm 2009, may ra tình hình kinh tế mới sáng sủa hơn. Ông nhận định thế nào về vấn đề này? Theo ông, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam đã chạm đáy chưa và ông dự báo thế nào về năm 2009?

Trả lời: Trong thời đại đã toàn cầu hoá ngày nay, không quốc gia nào có quyền nói về những hiện tượng phát triển của mình mà không quan tâm, không phân tích hiện tượng tương đương của thế giới. Phải nói rằng, cho đến phút này, giới học giả và chính phủ trên thế giới chưa hình dung được đầy đủ cơ cấu của hiện tượng khủng hoảng kinh tế. Chính phủ quan trọng nhất trên thế giới này là chính phủ Mỹ cũng chưa có một văn bản nào, chưa có một chương trình nào mô tả đầy đủ hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay.

Cho nên, nói rằng nó đã đến đáy hay chưa đến đáy đều không thoả đáng, vì chưa ai chỉ ra được một cách khoa học bản chất của hiện tượng này. Mỗi người nói một tiếng nói, mỗi người tiếp cận một góc độ và góp thêm tư liệu để có thể giải thích về cấu trúc của hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay, nhưng cũng chưa có ai tóm lược, tổng hợp, phân tích đầy đủ về hiện tượng này với tư cách một nhà khoa học hoặc với tư cách mộtchính phủ. Ví dụ như ở châu Âu, các chính phủ có một số bất đồng về cách thức tiếp cận hiện tượng khủng hoảng. Có những chính phủ lo quá cho chuyện thâm hụt ngân sách, có những chính phủ lo quá cho sự yếu đuối của thị trường nội địa, có những chính phủ lo quá đến vấn đề thất nghiệp. Các chính phủ đứng trên những vị trí khác nhau, những tình thế khác nhau và những đặc điểm khác nhau của mình mà giải thích hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới một cách rất khác nhau, và do đó các giải pháp cho nó cũng được tiếp cận trên những khía cạnh rất khác nhau.

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà tất cả các khía cạnh khác nhau ấy chỉ là biểu hiện khác nhau của một hiện tượng, đó là hiện tượng khủng hoảng trên qui mô toàn cầu. Xưa nay thế giới vẫn nói về toàn cầu hoá thế này, thế khác, nhưng dường như thế giới cũng chưa hình dung ra toàn cầu hoá thực chất là gì. Nhà chính trị thì nói rằng toàn cầu hoá là sự phá vỡ các biên giới địa lý, phá vỡ chủ quyền quốc gia, quyền lực tuột khỏi tay chính phủ v.v…, tức là nói về mặt lý thuyết, nói có tính chất tuyên huấn thì nhiều chính phủ đã làm, nhưng hình dung nó và xây dựng chương trình đề kháng nó thì chưa. Các chính phủ tỏ ra rất thông minh trong việc lợi dụng nó, nhưng chưa đủ sâu sắc để hoạch định một hệ thống chính sách có khả năng chống đỡ khi có chuyện do nó gây ra. Cho nên, rất khó để có thể trả lời câu hỏi “Khủng hoảng kinh tế đã đến đáy chưa?” một cách có cơ sở khoa học. Tôi linh cảm rằng nó chưa tới đáy. Bởi vì suy ra cho cùng, khủng hoảng kinh tế thế giới có phải là sự mất mát tài sản của các nhà tài phiệt, của các hãng lớn trên thế giới hay không? Nếu cho rằng khủng hoảng kinh tế là sự mất mát tài sản của các đại gia trên thế giới thì chúng ta nghiên cứu kinh tế học là vô nghĩa. Chúng ta nghiên cứu kinh tế học để thông báo cho xã hội cũng như thông báo cho các chính phủ rằng, các chính sách kinh tế cần phải chiếu cố đến sự khủng hoảng trong đời sống thông thường của người dân. Nhiệm vụ của tất cả các chính phủ là bảo vệ, bảo hộ người dân chứ không phải các đại gia về kinh tế. Tất nhiên, các đại gia phá sản thì tan xí nghiệp, mà tan xí nghiệp thì mất việc và mất việc thì ảnh hưởng đến đời sống, nhưng nếu chúng ta chỉ nghĩ đến các đại gia thì chúng ta không hiểu hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới. Ngược lại, nếu chúng ta chỉ nghĩ đến sự mất việc làm của người lao động thông thường mà không nghĩ đến các đại gia thì tức là chúng ta quên mất cái cỗ máy có tính chất động lực để xúc tiến sự phát triển kinh tế.

Tôi nghĩ rằng sớm hay muộn thì các quốc gia, thậm chí cả Liên hợp quốc sẽ phải nhảy vào cuộc như là một liên minh toàn cầu để giải thích hiện tượng này và có các chính sách tương đối đồng bộ để giải quyết. Hiện nay mới chỉ có một nhóm các nước phát triển nghĩ tới chuyện ấy, còn các khu vực còn lại thì chưa, hay nói cách khác là thế giới chưa có tiếng nói chung về tai họa. Tai họa hiện nay vẫn được giải thích với tư cách của những kẻ tham gia quá trình cạnh tranh toàn cầu chứ chưa phải là sự cứu hộ của cộng đồng toàn cầu đối với tai họa này. Những bài báo trên thế giới phân tích về chuyện này cho thấy các quốc gia, các nhà khoa học chỉ mới giải thích nó như là sự mất mát sức cạnh tranh của các nền kinh tế, mà chưa phân tích được sự khủng hoảng của đời sống, của xã hội trong toàn bộ nền kinh tế thế giới sẽ diễn ra như thế nào. Phải nói rằng, nếu không nói rõ vấn đề này thì chúng ta không phân tích được hiện tượng khủng hoảng kinh tế hiện nay, mà nếu có phân tích được thì chính phủ cũng cảm thấy chúng ta công kích chính phủ chứ không phải hỗ trợ họ. Tức là, tất cả các chính phủ đều chỉ nhìn vấn đề này như một đơn vị tham gia quá trình cạnh tranh toàn cầu mà chưa nghĩ nó là một bộ phận hợp thành nền kinh tế toàn cầu. Cho nên, kinh tế thế giới năm 2008 là kết quả của một sai lầm có chất lượng hệ thống, một sự phân vân, một sự do dự, một sự tranh luận về vai trò của các nhà nước đối với nền kinh tế.

Người ta vẫn tranh luận xem trường phái tự do và trường phái bảo thủ về kinh tế cái nào đúng, cái nào sai mà quên mất rằng các lý thuyết như vậy chỉ có giá trị giới hạn trong những điều kiện xác định nào đó của kinh tế thế giới. Trong những giai đoạn kinh tế thế giới suy trầm, chính lý thuyết “Tân Tự do” về kinh tế là một trong những lý thuyết giải phóng một cách đại trà cái năng lực phát triển toàn cầu, và phải nói rằng nó có giá trị rất tích cực trong việc xúc tiến sự phát triển. Nhưng khi sự phát triển đã kéo dài đến mức các yếu tố cực đoan của nó được tích luỹ thì lý thuyết Keynes mới bắt đầu phát huy vai trò của nó, tức là phải xác lập lại vai trò của nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế như thế nào. Như vậy, các lý thuyết đều có vai trò của nó trong mỗi một giai đoạn nhất định chứ không phải cái này đúng, cái kia sai một cách tuyệt đối. Nếu chúng ta phủ nhận lý thuyết kinh tế Tân Tự do thì chúng ta sẽ phạm phải một sai lầm căn bản là đến khi kinh tế thế giới suy trầm, chúng ta không biết kích động nó bằng phương pháp luận nào. Nhưng nếu chúng ta chỉ biết đến nó, thì khi nó trở nên thái quá, chúng ta sẽ không biết kiểm soát nó bằng cách nào. Những người ủng hộ trường phái can thiệp của Keynes thì vẫn cho rằng nhà nước luôn luôn có vai trò và nhà nước phải can thiệp, nếu nhà nước không có vai trò, không can thiệp là sai. Còn những người theo trường phái Tân Tự do thì nói rằng nhà nước không có vai trò gì và không nên can thiệp vào khu vực kinh tế.

Cả hai lý thuyết này đều đúng và đều sai trong những điều kiện khác nhau. Trong khi nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh thì lý thuyết về Tân Tự do rất đúng, vì khi đó nhà nước trở thành cái ba lô trên lưng của nền kinh tế trong quá trình hành hương đến sự phát triển, nhưng trong quá trình xuống dốc thì nhà nước phải nhảy xuống đất để trở thành cái phanh, trở thành cái nêm để ngăn chặn sự suy thoái của nó. Vai trò của nhà nước là một trong những vấn đề lý thuyết quan trọng nhất để không chỉ đánh giá các lý thuyết kinh tế mà đánh giá một cách toàn diện cả lý thuyết về phát triển. Nhà nước luôn luôn có vai trò trong mọi sự phát triển cả kinh tế, cả chính trị, cả xã hội. Biến nhà nước trở thành một thành tố ổn định, thành tố duy nhất đúng cho sự phát triển là sai, nhưng loại bỏ hẳn vai trò của nhà nước trong những trạng thái khủng hoảng của xã hội thì cũng sai. Phải nói rằng, giai đoạn cuối thế kỷ XX là giai đoạn của sự tranh luận bất tận của hai trường phái thông thái nhưng không đầy đủ. Tôi cho rằng, một cách khái quát, nhà nước luôn có vai trò, nhưng vai trò của nhà nước với tư cách là kẻ ngăn chặn sự cực đoan hoá các quá trình phát triển, chứ không phải là lãnh đạo sự phát triển. Nhà nước lãnh đạo sự phát triển, nhà nước biến thành yếu tố động lực thường xuyên của quá trình phát triển thì sai, nhưng nhà nước luôn luôn là yếu tố để cứu hộ xã hội khỏi sự thái quá của quá trình phát triển thì tôi nghĩ luôn luôn đúng. Cho nên, có thể kết luận là quá trình trước 2009 là quá trình vận hành nền kinh tế thế giới một cách tích cực, nhưng không đầy đủ ở giai đoạn tột cùng của sự phát triển của chu kỳ này. Từ 2009 trở đi, nhà nước phải nhảy vào cuộc như một người cứu hộ có chất lượng chính trị, có chất lượng kinh tế, có chất lượng xã hội. Và sự có mặt của nhà nước trong giai đoạn này càng ngắn bao nhiêu thì hạnh phúc càng đến sớm với nhân loại bấy nhiêu. Không nên kéo dài vai trò của nhà nước trong đời sống kinh tế một cách quá lâu. Nó chỉ nên có trong khủng hoảng, nếu nó tiếp tục có mặt sau khủng hoảng thì nó sẽ là một thảm họa lớn đối với phát triển kinh tế.

Còn Việt Nam chúng ta thì sao? Việt Nam thực ra là một quốc gia mới ra phố, mới trưởng thành, chúng ta cũng chưa có sự tranh luận nào, chưa có tiếng nói nào. Cũng có một vài người được học ở phương Tây về nói, nhưng đó không phải là những tiếng nói có tính chất chính thống, có tính chất quyết định trong quá trình điều hành xã hội. Trước năm 2009, các nhà nghiên cứu kinh tế, các nhà khoa học về điều hành xã hội không có tiếng nói chính thống, không có địa vị xã hội trong việc hình thành các tư tưởng điều hành vĩ mô đời sống xã hội. Đấy là lỗi lầm lớn nhất của chúng ta. Chúng ta hội nhập nhưng chúng ta không huy động các bộ não tham gia vào quá trình hình thành cái kho trí tuệ của xã hội. Hay nói cách khác là chúng ta hội nhập với tư cách đi theo và không có trí tuệ chủ động khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Năm 2009 chúng ta phải khắc phục hiện tượng này, và đời sống chính trị của giai đoạn từ 2009 trở đi cần phải huy động được sự tham gia một cách chính thống, có địa vị, thậm chí có quyền lực của các lực lượng trí tuệ.

Trong một bài phân tích về khủng hoảng kinh tế thế giới, tôi đã nói rằng bản chất của khủng hoảng kinh tế thế giới là sự lộng hành của các yếu tố tri thức trong nền kinh tế. Nếu chúng ta không huy động được một trí tuệ tương đương thì chúng ta không đủ năng lực để ngăn chặn, chống đỡ và giải phóng đời sống xã hội ra khỏi sự lộng hành của các yếu tố tri thức trong một nền kinh tế mà mọi chính phủ đều không kiểm soát được.

Liệu có phải là chúng ta không có những trí thức, những chuyên gia có thể phân tích các hiện tượng thế giới và Việt Nam không? Tôi khẳng định là không. Chúng ta có thừa khả năng để đưa ra các phân tích, thậm chí đưa ra các dự báo. Dự báo là 80% nghĩa vụ của các chính phủ, vì thế cho nên, việc huy động và tạo không gian chính đáng về chính trị cho các lực lượng trí thức đủ để họ phân tích, dự báo và đề kháng tất cả các yếu tố tri thức lộng hành trong nền kinh tế của thế giới là việc mà chính phủ phải làm. Tất nhiên, khi huy động một lực lượng trí thức đông đảo với những quan điểm khác nhau, trình độ khác nhau, quyền lợi khác nhau như vậy thì sẽ tạo ra một tình trạng hỗn loạn âm thanh có chất lượng tư vấn, do đó, Thủ tướng chính phủ phải cócấp dưới để giúp phân loại và lựa chọn các lý giải khác nhau. Sự phân loại này không nhằm để chống, cũng không phải nhằm để phân cấp sai đúng hay hơn kém, sự phân loại chính là việc sắp xếp các dụng cụ một cách ngăn nắp để vào mỗi một thời điểm khác nhau, trước những đòi hỏi khác nhau của cuộc sống, chúng ta có thể dễ dàng lấy ra những loại dụng cụ thích hợp. Trong đời sống xã hội, có những tình huống đòi hỏi chúng ta phải sử dụng những dự báo, phân tích có tính chất bảo thủ, nhưng cũng có những tình huống khác lại đòi hỏi phải sử dụng những dự báo, phân tích có tính chất lạc quan. Trong trạng thái suy trầm thì những dự báo và phân tích có tính chất lạc quan là rất cần thiết, nhưng trong trạng thái thái quá thì những dự báo và phân tích có tính chất bảo thủ mới là cần thiết. Nói tóm lại, các vị thuốc khác nhau của dàn giao hưởng các biện pháp để chống trả lại sự lộng hành của các yếu tố không tích cực của nền kinh tế thế giới đòi hỏi chính phủ không phải chỉ có một loại chuyên gia mà buộc phải dự phòng nhiều loại chuyên gia. Khi chúng ta phải giải quyết những vấn đề cụ thể thì chúng ta rất cần những chuyên gia chiến thuật. Nhưng lúc cần dự báo một cách tổng thể, tạo ra sự cân đối tổng thể thì những chuyên gia chiến lược là vô cùng cần thiết. Và chúng ta phải biết kết hợp hai loại chuyên gia như thế. Cho nên, tôi nghĩ rằng chính phủ không nên có thái độ kỳ thị với bất kỳ loại chuyên gia nào, mà chính phủ phải biết sắp xếp các công cụ có tính chất chuyên gia ấy vào những ô khác nhau để lựa chọn công cụ thích hợp vào những thời điểm khác nhau, vào những nhiệm vụ khác nhau và phối hợp chúng với nhau. Đấy là thông điệp 2009 của tôi.

HỏiHiện nay chúng ta vẫn đang bàn về các biện pháp chống khủng hoảng và vẫn chưa xác định được đâu là biện pháp thích hợp. Trước tháng 3, chúng ta đưa ra 8 gói giải pháp, đến tháng 6 chúng ta vẫn tiếp tục cho rằng kiềm chế lạm phát là ưu tiên số một, còn bây giờ là kích cầu để chống thiểu phát. Trong một cuộc hội thảo ngày hôm qua về vấn đề này, các chuyên gia vẫn tiếp tục bàn cãi, nhiều người thì cho rằng năm 2009 phải ưu tiên chống giảm phát, thiểu phát, nhưng cũng có nhiều ý kiến cảnh báo nguy cơ lạm phát sẽ rất cao. Theo ông, giải pháp nào là thích hợp trong tình hình hiện nay?

 


 

Trả lời: Chúng ta vẫn cho rằng giảm phát, lạm phát là những trạng thái thống nhất trong toàn bộ cơ cấu của một nền kinh tế, tất cả cái sai của chúng ta là ở chỗ đấy. Ở trong cơ cấu của một nền kinh tế, tại mỗi một thời điểm, có khu vực thì giảm phát và có khu vực thì lạm phát. Cho nên, điều hành vĩ mô một nền kinh tế không phải là mô tả nền kinh tế ấy như một hiện tượng thống nhất ở mọi khu vực. Tôi lấy ví dụ, khi thị trường chứng khoán dâng lên thì đấy là sự tăng trưởng hay sự phát triển với tốc độ chóng mặt của các đại công ty, nhưng nó là sự giảm phát của khu vực kinh tế vừa và nhỏ, khu vực tư nhân.

Nghiên cứu hiện tượng giảm phát hay lạm phát không phải là nghiên cứu cái định nghĩa của nó, mà nghiên cứu sự xuất hiện của nó trong từng bộ phận, trong từng khu vực khác nhau của một nền kinh tế. Không có giải pháp chung cho một nền kinh tế mà có giải pháp cho những khu vực khác nhau của nền kinh tế. Tôi gọi hiện tượng khủng hoảng kinh tế Việt Nam là hiện tượng xung huyết cục bộ. Cho nên, chúng ta chữa căn bệnh kinh tế Việt Nam không phải bằng một tuyên ngôn kinh tế mà bằng một chương trình cụ thể, vừa chính xác về thời gian, vừa chính xác về không gian và có những tác động khác nhau, hỗ trợ nhau trên từng khía cạnh cũng như từng vấn đề của đời sống kinh tế. Chúng ta hay có hiện tượng cãi nhau lấy được là tôi đúng, anh sai. Tôi cho rằng không nên xem ai đúng, ai sai một cách triệt để cả, nhất là ở địa vị của cao nhất chính phủ. Người ta nhìn vào khu vực này và đưa ra những phân tích, dự báo cho khu vực này thì có thể dự báo ấy sai so với khu vực khác. Nhưng cả cái sai và cái đúng ấy theo con mắt của một người không quan trọng bằng việc sử dụng một cách hợp lý các lý giải khác nhau cho những khu vực khác nhau và những thời điểm khác nhau. Tôi cho rằng, vẫn tồn tại cả nguy cơ lạm phát và nguy cơ giảm phát ở Việt Nam. Nguy cơ giảm phát của nền kinh tế Việt Nam xuất hiện trong khu vực kinh doanh vừa và nhỏ từ trước khi lạm phát xuất hiện, lạm phát chỉ là kẻ xúc tiến, làm tăng trưởng một cách không kiểm soát được hiện tượng giảm phát ở khu vực vừa và nhỏ cũng như khu vực kinh tế tư nhân mà thôi.

Hỏi: Như vậy có nghĩa là chính phủ phải thừa nhận nhiều sai sót trong dự báo và bài học rút ra là chúng ta phải điều hoà được tất cả các vị thuốc?

Trả lời: Đúng thế. Tuy nhiên, ở đây tôi nghĩ vấn đề không phải là chúng ta thừa nhận hay không thừa nhận. Chúng ta cũng không nên chỉ trích chính phủ một cách vô cảm và vô cảm với chính phủ. Như thế là không công bằng.

Tôi nghĩ rằng, chúng ta mới gia nhập quá trình toàn cầu hoá một cách chính thức được gần 2 năm, chúng ta thiếu kinh nghiệm là việc giải thích được. Và do đó, cái không giải thích được không phải là cái sai mà là không nhận ra cái sai của mình và không rút kinh nghiệm. Nếu chính phủ nhận ra cái sai thì tôi là người đầu tiên cảm thấy vui. Những việc như thế không khó, nếu nhận ra đấy là nghĩa vụ của mình thì ai cũng làm được. Trên thế giới không phải chỉ có một mình người Việt Nam làm việc ấy.

Dự báo là gì? Về thực chất, dự báo là kết quả phân tích thông tin và rút ra các kết luận. Thông tin về khí tượng thì tạo ra dự báo về khí tượng, thông tin kinh tế sẽ tạo ra dự báo kinh tế. Vì chúng ta chưa ý thức được chúng ta là một bộ phận của nền kinh tế thế giới, cho nên chúng ta cảm thấy rằng dự báo như một chức năng có tính chất bói toán của người Việt. Không phải. Thế giới có thông tin, chúng ta phân tích nó thì chúng ta sẽ tạo ra dự báo. Và thế giới cũng có cả những dự báo nữa. Những dự báo của các khu vực khác nhau của nền kinh tế thế giới tạo ra tư liệu hay nguyên liệu cho quá trình dự báo của Việt Nam. Và ngược lại, khi người ta dự báo về Hoa Kỳ thì dự báo của Việt Nam là tư liệu. Hay nói cách khác, dự báo của mỗi quốc gia là tư liệu để tạo ra dự báo của các quốc gia khác trong quá trình toàn cầu hoá. Vì thế, chúng ta phải cung cấp một dự báo nghiêm túc như là một bộ phận của hệ thống thông tin dự báo toàn cầu. Chúng ta có nghĩa vụ toàn cầu việc dự báo chứ không phải chúng ta chỉ sử dụng dự báo toàn cầu để dự báo cho chúng ta. Và chúng ta sẽ có uy tín khi những dự báo của Việt Nam trở thành tư liệu tốt để đưa ra những dự báo khác trên thế giới. Còn nếu chúng ta không có dự báo tốt, chúng ta không chủ động có những dự báo của mình thì chúng ta không đóng góp nghĩa vụ dự báo của một thành tố tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Trong Bộ tham mưu kinh tế của chính phủ có nhiều chức năng, có nhiều vị tham mưu trưởng khác nhau, nhưng tham mưu trưởng về dự báo thuộc về trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư, nếu chúng ta nói đến nội các như là tập hợp những cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp đối với những khía cạnh khác nhau của đời sống điều hành vĩ mô. Nếu Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra được những dự báo tốt của Việt Nam thì chính là cách thức để khẳng định uy tín của chính phủ chúng ta. Để tăng uy tín của Việt Nam, chúng ta phải sử dụng cái kho trí tuệ của xã hội, phải sử dụng các thông tin của thế giới để làm tốt dự báo của chúng ta, và thế giới sẽ sử dụng dự báo của chúng ta để làm tốt cho dự báo của thế giới. Đấy chính là ý kiến của tôi về vấn đề điều hành vĩ mô.

HỏiVừa rồi, chính phủ cũng có nhiều biện pháp hướng tới hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như khu vực tư nhân, đặc biệt là người nông dân, nhưng dường như sự hỗ trợ này cũng chưa được rõ ràng. Theo ông, các khu vực kinh tế của chúng ta cần phải được hỗ trợ như thế nào trong tình hình hiện nay?

Trả lời: Câu hỏi mà bạn vừa đặt ra có liên quan đến một vấn đề căn bản, đó là địa vị của các nền kinh tế cụ thể trong nền kinh tế thế giới là như thế nào? Nếu các nền kinh tế cụ thể trở thành những yếu tố vãng lai thuần tuý đối với nền kinh tế thế giới thì toàn bộ lý thuyết về phát triển là sai. Các nền kinh tế vẫn phải giữ địa vị độc lập của nó, vì khi chúng ta hội nhập, khi chúng ta tham gia vào quá trình toàn cầu hoá thì không có nghĩa là toàn thể dân tộc, toàn thể các bộ phận của nền kinh tế đều tham gia. Những người ra trận bao giờ cũng phải có hậu phương. Trong kinh tế cũng vậy, những bộ phận hậu phương của một nền kinh tế cần phải được xây dựng bởi một lý thuyết nghiêm chỉnh và ổn định hơn. Kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp tiêu dùng, kinh tế công nghiệp xuất khẩu… tất cả những cái đó đều phải được phân loại, và chúng ta phải xác lập được nghĩa vụ của mỗi một khu vực kinh tế như vậy đối với quá trình hội nhập. Chúng ta vẫn đưa ra những dự báo về chuyện Tân tổng thống Obama sẽ quay về trạng thái bảo hộ hay là vẫn tiếp tục duy trì xúc tiến các quan hệ quốc tế, đấy là những dự báo hẹp và không đúng, vì bản chất của quá trình toàn cầu hoá là có cả việc anh tự khẳng định mình ở trong nhà lẫn việc anh tự khẳng định mình trong cái chợ chung của thế giới. Anh không thể đem tất cả tài sản trong nhà ra chợ được, cho nên, củng cố nền kinh tế bản thể như một yếu tố độc lập với tất cả các biến động, các khủng hoảng là việc phải làm. Khủng hoảng chỉ ảnh hưởng đến các yếu tố xuất khẩu, các yếu tố tiên phong, các yếu tố ra trận của nền kinh tế thôi. Cho nên, xây dựng nền kinh tế Việt Nam phải là kết quả của việc xây dựng hai nền kinh tế mà thực chất là hai bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế tiên phong là nền kinh tế tham gia vào quá trình toàn cầu, còn nền kinh tế bản thể là nền kinh tế giúp anh tồn tại cho dù bão tố ở ngoài chợ diễn ra như thế nào. Cái nền kinh tế bản thể ấy chính là nền kinh tế có chất lượng bảo hiểm đời sống xã hội, là nền kinh tế tối thiểu cần phải có, hay là sự độc lập với các hiện tượng quốc tế cần phải có của một nền kinh tế.

Cho nên, không nên tranh cãi là chúng ta sẽ bảo hộ hay chúng ta sẽ tiếp tục cấp tiến để tham gia toàn cầu hoá. Càng toàn cầu hoá bao nhiêu thì yêu cầu phải củng cố nền kinh tế bản thể càng lớn bấy nhiêu, bởi vì nếu tỷ trọng của nền kinh tế bản thể không đủ nặng thì quá trình toàn cầu hoá sẽ hút tuột nền kinh tế của chúng ta, làm chúng ta biến mất trong vòng xoáy của nền kinh tế toàn cầu. Hiện tượng khủng hoảng kinh tế vừa rồi của thế giới chính là hiện tượng mà các nền kinh tế bản thể bị hút, bị nhổ rễ ra khỏi cái lợi ích của những con người cư trú trong các vùng lãnh thổ.

Có người nói rằng cần phải đầu tư, cần phải phát triển khu vực kinh tế vừa và nhỏ, có người bảo cần phải đầu tư vào các công ty lớn, cần phải có các tập đoàn kinh tế lớn thì mới đủ sức cạnh tranh, và họ mất rất nhiều thời gian và công sức cho những cuộc bàn cãi như thế. Tôi cho rằng những tranh cãi như vậy là vô ích. Cả hai yếu tố ấy đều rất cần cho quá trình phát triển của một nền kinh tế chung, nền kinh tế quốc dân. Nếu không xây dựng được cơ sở xã hội của nền kinh tế bản thể thì không có ổn định chính trị. Khu vực vừa và nhỏ và khu vực tư nhân thuộc về nền kinh tế bản thể, nó phải được chăm sóc kỹ lưỡng hơn bởi một đảng chính trị có tiêu chuẩn là chăm sóc nhân dân lao động, mà chăm sóc nhân dân lao động chính là việc củng cố nền kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế vừa và nhỏ. Còn việc phát triển Việt nam thành một quốc gia tiên tiến, có những lực lượng có năng lực cạnh tranh toàn cầu lại là việc khác, việc xây dựng các tập đoàn, các công ty lớn. Tuy nhiên, cần thấy rằng việc xây dựng các tập đoàn nhà nước không tạo ra sự ổn định chính trị. Nếu xét về quan điểm chính trị thì các tập đoàn nhà nước chỉ tạo ra năng lực xung đột chính trị chứ không phải là ổn định chính trị. Còn xét theo quan điểm phát triển toàn cầu, thì các tập đoàn hay các công ty lớn có thể giữ một vai trò nào đấy, nhưng chất lượng các đòi hỏi đối với nó phải khác chứ không phải như hiện nay. Hiện nay chúng ta đang có một thực thể nhìn ngoài giống như một chàng trai khoẻ mạnh, cường tráng, nhưng sức khoẻ sinh sản thì không có, cho nên vô tình nó trở thành một kẻ lừa đảo trong quá trình toàn cầu hoá. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải có sự cân đối, mà trước hết là cân đối chính trị trong sự chú ý đến hai khu vực này. Chúng ta phải nhận thức một cách chính xác nghĩa vụ chính trị của hai khu vực này rồi mới hoạch định chính sách điều hành vĩ mô được. Về bản chất, điều hành vĩ mô là anh phát triển tới ngưỡng không mất ổn định, hay anh xác lập được ranh giới giữa ổn định và phát triển. Còn phát triển bằng mọi giá, tăng trưởng bằng mọi giá thì không phải là điều hành vĩ mô, bởi vì cứ thả ra là nó sẽ phát triển. Thả ra thì từ bê tông cho đến đất đá đều trở thành bụi hết, vì bản chất của sự phát triển, của toàn cầu hoá là làm bụi hoá những vật thể cứng khu trú trong các quốc gia, biến chúng thành năng lượng chung để tham gia vào quá trình toàn cầu. Nói tóm lại, để ra khỏi khủng hoảng, Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào cũng đều phải dựa trên việc xây dựng và cân đối giữa nền kinh tế bản thể với nền kinh tế phát triển.

HỏiTheo ông, trong giai đoạn này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đang đối mặt với những khó khăn gì và họ cần được hỗ trợ như thế nào?

Trả lời: Tôi thấy có một nguy cơ có thật mà mọi người rất ngại nói đến, anh Lê Đăng Doanh, một nhà hoạt động xã hội rất dũng cảm, cũng đã có lần nhắc đến nguy cơ này, đó là nguy cơ của hàng hoá Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng, các xí nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cần được hướng dẫn bởi một chiến lược sắc sảo hơn thì mới tồn tại được.

Hiện nay chúng ta bàn về chuyện hỗ trợ khu vực kinh tế vừa và nhỏ như là một cách tranh giành quyền lợi chứ chưa phải là bàn đến việc kê đơn thuốc nào để làm cho nó khoẻ mạnh. Tôi đã viết về vấn đề này cách đây 7 năm, trong một bài viết đã được đưa vào quyển “Suy tưởng“. Trong đó, tôi phân tích chúng ta sống cạnh nước CHND Trung Hoa là sống cạnh một nền kinh tế khổng lồ như thế nào. Việc chúng ta sống cạnh Trung Quốc cũng giống như Nhà xuất bản Hội nhà văn sống cạnh Nhà xuất bản Longman vậy. Một quyển sách được xuất bản với số lượng 300.000 – 400.000 bản và một quyển sách được xuất bản với số lượng 3000 bản sẽ có giá thành rất khác nhau. Cùng sản xuất một loại hàng hoá thì nền kinh tế Việt Nam vĩnh viễn không cạnh tranh được với nền kinh tế của Trung Quốc. Cho nên, toàn bộ nghệ thuật để tồn tại bên cạnh Trung Quốc là tìm những cái họ không làm được để làm. Chúng ta phải xây dựng chương trình hay chính sách phát triển công nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam để tránh sản xuất những mặt hàng giống về chất lượng hoặc giống về công dụng đối với hàng hoá của nước Trung Quốc. Đấy không phải là chính sách để đối phó với Trung Quốc, mà là chính sách để chung sống hoà bình với họ. Bởi khi chúng ta không va chạm trong quá trình cạnh tranh về kinh tế trên những mặt hàng cụ thể thì về thực chất chúng ta mới thoả mãn được nguyên tắc chung sống hoà bình. Những kẻ cạnh tranh trực tiếp trên một đối tượng không thể chung sống hoà bình với nhau được. Cho nên, để chung sống một cách hoà bình thì không phải chúng ta chỉ nói khẩu hiệu mà cần phải nghiên cứu một chương trình phát triển công nghiệp sao cho không trùng với họ. Nhiều khi chúng ta vẫn xem nguy cơ hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc vào nhiều quá như là một phát hiện có tính chất đối địch, quan niệm ấy là sai. Chúng ta không đối đầu với Trung Quốc, mà chúng ta muốn thực hiện sự không đối đầu ấy thì chúng ta phải sản xuất khác họ. Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ thị trường, người Mỹ hay người Trung Quốc cũng đều phải làm nghĩa vụ thị trường và họ bán hàng sang nước chúng ta là đương nhiên. Nếu chúng ta có hàng hoá chất lượng hơn, có hàng hoá cao cấp hơn với giá cả cạnh tranh hơn thì chúng ta sẽ cạnh tranh được. Muốn vậy chúng ta phải đi tìm các lỗ hổng thị trường của các loại sản phẩm, tìm xem chỗ nào không có nó hoặc chỗ nào nó không thể có, tức là chúng ta phải làm công tác tình báo kinh tế. Để có được thông tin phục vụ cho việc tổ chức ra cấu trúc của nền sản xuất hàng hoá Việt Nam, chúng ta cần phải xây dựng hệ thống tình báo kinh tế đối với nền kinh tế Trung Quốc. Đấy là một nhiệm vụ có chất lượng chiến lược. Xây dựng hệ thống tình báo kinh tế không có nghĩa là chúng ta đối đầu với Trung Quốc. Nhiều khi chúng ta làm công tác an ninh, làm công tác về chiến tranh lâu quá, cho nên chúng ta cứ nghĩ tình báo kinh tế là một loại hoạt động gián điệp, nhưng không phải như vậy. Tình báo kinh tế chính là anh nắm được, mô tả được chính xác các đối tượng kinh tế khác để có thể chen chân được một cách hợp lý và đỡ tốn kém vào thị trường.

Trong bài này, khi được hỏi khủng hoảng kinh tế đã chạm đáy chưa, ông Bạt cho rằng thế giới còn chưa hiểu về bản chất của nó, nên không xác định rõ và chưa có câu trả lời thỏa đáng. Còn Thiên Sứ thì phát biểu thế này: Nó chạm đáy rồi. Tuy nhiên, vấn đề là cái trần chứ không phải là cái đáy. Thế giới cần hiểu thế nào là hội nhập toàn cầu đã, rồi mới hiểu được nguyên nhân khủng hoảng và nói đến thoát ra khỏi khủng hoảng.Thoát ra rồi thì mới vượt trần để phát triển.  Phức tạp nhỉ? Nói ra thì lại nhao nhao phản bác. Còn mệt.  Bởi vậy, SW Hawking quả là thiên tài khi phát biểu:
Nếu có một lý thuyết thống nhất vũ trụ thì chính nó sẽ quyết định con người có tìm ra nó hay không?
Mới chỉ có thế nào là Toàn cầu hóa – một khái niệm đang được nhiều người nhắc đến và có vẻ như hiểu cả rồi – mà còn chưa xong, huống chi bàn đến Lý Thuyết thống nhất. Mệt quá!

Bài này đã được đăng trong Chuyện đời. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.