Chúng tôi đi Bát Tràng. Riêng tôi đây là lần thứ hai. Vẫn thế! Như lần trước. Nhưng cứ mỗi lần về một làng nghề miền quê, tôi lại thấy lâng lâng trong tôi một sự gần gũi, một cảm giác ấm áp. nôn nao của một người viễn xứ trở về cố hương. Mặc dù quê tôi không phải Bát Tràng.…
Chú tài taxi chở chúng tôi đi theo hướng cầu Vĩnh Tuy.
Chà! Cây cầu đẹp thật! Đường phẳng lỳ, không nhấp nhô, rộng rãi sáng sủa.
Đây là đầu làng Bát Tràng.
Một làng nghề gốm sứ nổi tiếng ở Việt Nam. Họ tự hào với tấm biển “Xã Bát Tràng kính chào quí khách”.
Không phải làng quê nào ở Việt Nam cũng có tấm biển này. Rất nhiều du khách đến đây…
Nhưng cái mà tôi thấy thiếu thiếu ở đây chính là một cổng làng quê cổ kính, mà có thể nói hầu hết những làng quê ở vùng Bắc Bộ Việt Nam đều có một chiếc cổng làng. Hình tượng chiếc cổng làng đã đi sâu vào tâm thức Việt. Khiến cho nó trở thành một biểu tượng văn hóa Việt. Có rất nhiều bài viết hoài niệm về chiếc cổng làng. Nhưng ở đây, có lẽ để tiện cho xe ô tô các loại, chiếc cổng làng cổ kính đã biến mất và thay bằng một tấm biển bằng sắt tây, nghễu nghên trên mấy trụ sắt cắm bên lề đường.
Cổng làng quê xưa
Tôi nghĩ làng Bát Tràng nên khôi phục lại chiếc cổng làng truyền thống để xác định tính tiếp nối văn hóa truyền thống Việt. Nếu ai đó cho là chiếc cổng làng sẽ bất tiện cho việc vận chuyển hàng hóa thì giải pháp sẽ là dùng xe oto con – nếu muốn nhanh, hoặc xe trâu bò kéo – nếu muốn khôi phục lại một hình ảnh xa xưa ở một làng du lịch, để vẫn chuyển hàng hóa trong làng. Thực chất đường làng cũng nhỏ, không phải quãng nào xe tải cũng vào được.
Những ngôi nhà ngay đầu làng Bát Tràng.
Có thể nói rằng: Cách đây chừng 50 năm trước, ước mơ của những con người sống trong các miền quê Bắc Bộ, chỉ là một ngôi nhà ngói khang trang ba gian hai chái. Nhưng nay thấy những ngôi nhà hiện đại và đồ sộ này được cất trên mảnh đất mà những ước mơ thời xa xưa không hề nghĩ đến, mới thấy được sự phát triển nhanh chóng về đời sống kinh tế ở những miền quê này. Nhưng tôi thấy trong sự phát triển ấy, nó thiếu một cái gì đó trong sự tiếp nối văn hóa truyền thống. một cái gì đó gọi là “hồn Việt” trong sự phát triển này. Nếu như chúng ta đang đi trên một dãy phố bán đồ gốm sứ Bát Tràng thì cũng chẳng khác gì đi ở chính nơi quê hương tự hào đã mang một di sản làng nghể truyền thống.
Ông Chủ một cửa hiệu / tiệm bán đồ gốm sứ ở làng Bát Tràng.
Sự phát triển và phục hồi làng nghề truyền thống này khiến du khách Việt đều có thể tự hào vì những giá trị của nó. Những sản phẩm của họ thật độc đáo và đẹp một cách rất sâu lắng. Trước khi tôi bước vào đây, thì ở vỉa hè trước cửa tiệm này có bày bán một pho tượng ông thày bói. Một ý tưởng ngộ nghĩnh chợt thoáng qua trong tôi: Hình như chú chủ tiệm này là nguyên mẫu của pho tượng “Ông thày bói” bày bán trước cửa:
Hơi hơi giống nhỉ? Có điều “ông thày bói” già hơn một tý. Những sản phẩm của làng nghề Việt Nam, nhìn thoáng có vẻ ngô nghê và dễ bị coi thường bởi những kẻ ngạo mạn, có xu hướng thời thượng theo Tây học vì tính sản phẩm gía rẻ của nó. Nhưng đấy chỉ là những thứ tư duy “ở trần đóng khố” theo kiểu “Đồng hồ Tây thì có bao giờ sai”. Bạn hãy nhìn kỹ xem: Chúng rất có thần và lột tả rất đặc trưng trạng thái chủ đề. Chưa nói đến tính minh triết sâu lắng trong những hình tượng nhân vật. Để tạo ra những hình tượng này phải là những bậc thầy của nghệ thuật và truyền lại cho đám con cháu như ông chủ tiệm trong hình trên.
Tranh sứ của làng Bát Tràng.
Đây chính là văn hóa – theo định nghĩa văn hóa của tôi:
Những giá trị của tri thức (Văn) được phổ biến (Hóa) và thể hiện trong cuộc sống cộng đồng (Nguyên văn định nghĩa này để tôi tìm lại đã).
Bộ tranh Tứ Quí chính là sự nhận thức tinh hoa của bốn mùa được phổ biến trong cuộc sống và có trong những gia đình Việt Nam.
Tranh gốm sứ làng Bát Tràng: Bát tiên quá hải.
Bức tranh này miêu tả sự tích tám vị tiên và là câu chuyện nổi tiếng được coi là của Trung Quốc viết vào thờì Đường Tống. Nhưng tôi cho rằng: nền tảng tri thức để viết nên câu chuyện này chính là những huyền thoại về các vị tiên này còn lưu truyền, sau khi nền văn minh Việt sụp đổ ở Nam Dương tử. Chúng ta có thể thấy được những dấu ấn huyền thoại Việt ngay trong thơ Lý Bạch: “Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt” và những nghiên cứu về một nền văn minh thần quyền ở Nam Dương Tử phi Hán.
Tượng gốm sứ Bát Tràng.
Những sản phẩm gốm sứ Bát Tràng
Còn đây là “Ta giỏ đệm” nói theo tiếng miền Nam Bộ, còn miền Bắc thì có thể gọi là “Ta xách bị”. Vâng, một hình ảnh sinh động đối lập với “Tây Balo”.
Ở đây, bạn mua bất cứ sản phẩm gì, họ đều đóng gói rất cẩn thận và cho vào một cái bị cói rất ư truyền thống để bạn xách đi. Tùy theo sản phẩm to hay nhỏ, mà bạn sẽ có một cái bị tương xứng.
Ngày xưa, cái bị truyền thống này được hầu hết người Việt sử dụng như một phương tiện mang xách tiện lợi và phổ biến. Những kẻ sang trọng thì túi vải, túi da, ruột tượng….Sau này, vào thời Tây xâm lược nước ta, những cô tiểu thư ve vẩy những cái ví đầm và túi xách Tây, cho ra vẻ “con nhà hôi nách”. Í lộn – con nhà quí phái. Ở thành thị vào thời ấy thì giới cái bang vẫn sử dụng rất phổ biến. Ấy! Nhưng cái giỏ đệm của ăn mày đôi khi sử dụng đúng chỗ vẫn oai lắm. Đó là khi các đương kim tiểu thư, hoặc những cậu ấm con nhà giàu mà mắc bệnh quai bị thì cái tay bị của thằng ăn mày ban cho, cắt một khúc, treo lủng lẳng trên mặt có tác dụng khỏi bệnh đấy. Mà phải đúng quai bị của thằng ăn mày cơ. Còn quai bị khác của thường dân trở lên không có giá trị.
Bởi vậy, có nhiều bác ăn mày trúng mánh, khi chỉ xin vài đồng lẻ, mà được hẳn một hai hào vì cắt một khúc quai giỏ cho công tử con nhà giàu mắc bệnh quai bị. Chẳng biết các cụ quan niệm có đúng không, vì nó chưa được “khoa học công nhận”. Nhưng chính tôi ngày xưa đã mang trên mặt một khúc quai bị của ông ăn mày. Công với thuốc tây, thuốc ta mà tôi đã khỏi bệnh quai bị.
Đây là hình ảnh kỷ niệm để tri ân ông ăn mày nào đó, ngày xưa đã cho tôi cái quai bị chữa bệnh quai bị cho tôi và để thể hiện hình ảnh khác biệt với Tây Balo.
Dị nhân thì phải khoác bị, vừa đi vừa mút kem. Chứ cứ oai như cóc thế này thì đâu phải dị nhân:
Hàng thứ phẩm bị loại……
Những bán thành phẩm chờ tiếp tục tráng men…
Thợ Bát Tràng kiểm tra sản phẩm….
Chuẩn bị làm sản phẩm….
Trên đường từ đầu làng đến chợ cũng khá xa với người đi bộ. Tôi la cà ở mấy cửa hàng dọc đường. Mặc dù là làng nghề gốm sứ, nhưng cũng có một số cửa hàng bán đồ lưu niệm. Vì dù sao nó cũng mang dáng dấp của một làng nghề và tham quan du lịch. Nhưng chính ở một trong những cửa hàng lưu niệm ấy, tôi đã gặp một may mắn bất ngờ.
Lạy Chúa! Cái gì thế này?
Một pho tượng giả cổ…Một chú tiểu mặc áo cài vạt bên trái….Tất nhiên đây không phải là “di vật khảo cổ” , Nhưng là di sản văn hóa phi vật thể, nó có mối liên hệ với tất cả những bản văn cổ, những di sản phi vật thể còn lại trên đất nước này. Tôi hỏi mua và không trả giá: Có 400 ngàn đồng ở một tiệm bán đồ lưu niệm gần chợ.
Pho tượng nay thuộc quyền sở hữu của tôi. Tôi chụp lại hai cái ảnh này để các bạn vào đây chia sẻ với tôi nhìn cho rõ:
Áo chú Tiểu này cài vạt bên trái!
Đạo Phật vào đất Việt trước khi thâm nhập vào văn hóa Hán – như thiền sư Lê Mạnh Thát đã xác định. Bởi vì, nếu Đạo Phật thâm nhập văn hóa Hán trước khi truyền vào văn hóa Việt sau Bắc thuộc thì không thể chú tiểu cài vạt áo bên trái.
Tất nhiên vấn đề cần mổ sẻ tiếp với những tư liệu liên quan. Chứ không phải vài câu trên cái blog này.
Cách đây khoảng hơn 10 năm trước tôi cũng gặp may. Tình cờ đến thăm ông anh chuyên bán sách cũ. Tôi cũng chợt thấy cuốn Heritage của hãng Hàng không Việt Nam, nằm lăn lóc trong đống sách bán “son” rẻ tiền. Trên bìa cuốn sách in hình những con rối nước cài vạt áo bên trái. Nó chính là sở cứ cho một vấn đề xã hội và cuộc sống thời Hùng Vương để minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến, trong tiểu luận “Y phục thời Hùng Vương”. Chính bắt đầu từ đó, tôi tìm hiểu sâu hơn những sự kiện liên quan. Nó xác định rằng: Xã hội thời Hùng Vương với y phục rực rỡ và rất cao cấp. Chính nền văn hóa Hán phải chịu ảnh hưởng của Việt tộc, chứ không phải ngược lại như đám tư duy “Ở trần đóng khố” rêu rao.
Nếu Thiền Sư Lê Mạnh Thát vào đây, tôi xin tặng ông những tấm ảnh này để ông làm tư liệu minh họa. Tôi chưa một lần gặp ông. Nhưng nghe danh ông đã lâu. Hy vọng giúp được gì cho những luận cứ của ông góp phần minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến. Tôi chưa được xem những cuốn sách gây chấn động của ông. Nên tôi không vội vàng có ý kiến. Tôi không căn cứ vào nội dung bài báo để nhận xét.
Tất nhiên, tôi biết rất rõ rằng: Sau lưng tôi rất nhiều kẻ gọi là phản biện. Họ tất nhiên sẽ phủ nhận hiện tượng. Thâm chí có thể cho rằng: Tôi vẽ chuyện, tôi tự sửa lại tượng vạt bên phải thành bên trái….vv…..Thâm chí họ còn dựng chuyện: “Những người nào không ủng hộ 5000 năm văn hiến tôi không cho học phong thủy”. Tóm lại, những lý luận rất cùn và giẻ rách. Những lý luận của đám tư duy “Ở trần đóng khố” ấy sai căn bản, chỉ có tính giải thích rất tiểu tiết và cục bộ, không có tính hợp lý hệ thống.
Từ bức tượng giả cổ này – tất nhiên là nó mới sản xuất gần đây – cái này thì không cần chỉ số IQ cao để hiểu được – thì một giả thuyết được đặt ra là:
Nguồn gốc hình tượng chú tiểu có vạt áo bên trái này phải có từ rất xa xưa. Từ thời văn minh Văn Lang còn ngự trị ở nam Dương Tử. Sau đó nó được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đến ngày nay, khi các hình tượng cổ được chú ý, một nghệ nhân nào đó đã lấy nguyên mẫu và tạc ra để bán. Nếu giả thuyết này đúng thì đạo Phật phải truyền vào Nam Dương Tử từ trước thế kỷ thứ III BC thì mới có thể xuất hiện hình tượng chú tiểu mặc áo cài vạt bên trái. Xét đạo Phật ra đời từ thế kỷ thứ VI BC, ở một quốc gia ngay bên cạnh Văn Lang qua Ba Thục thì việc các Đại đệ tử của Đức Phật truyền đạo vào Văn Lang trước thế kỷ III BC là điều không khó giải thích. Những dấu ấn trong các văn bản mang tính hàn lâm, như các tài liệu của thiền sư Lê Mạnh Thát tôi chưa xem, nên không biết. Tuy nhiên, chỉ cần nhìn từ góc độ ngôn ngữ dân gian như:
Tại sao trong dân gian Việt cổ lại gọi phổ biến là ông Bụt, chứ không gọi là ông Phật?
Budda là tiếng Phạn – phi Hán – trực tiếp phiên âm ra tiếng Việt. Như vậy, đây là một dấu chứng nữa xác định rằng: Đạo Phật đã phổ biến ở văn minh Việt rất lâu trước khi bị Hán hóa. Cho nên tiếng Budda/ But trực tiếp từ tiếng Phạn mới là tiếng phổ thông trong dân gian Việt. Chưa hết, trong văn hóa truyền thống Việt – cây Nêu ngày Tết – lại mang dấu ấn Phật giáo. Mà Phật giáo thế giới thì lại không phổ biến cây nêu – trừ Việt Nam. Điều này cho thấy Phật giáo vào Việt Nam rất lâu, trước khi nền văn minh Việt sụp đổ ở nam Dương tử. Tức là từ khi tục trồng nêu phổ biến ở nền văn hiến Việt và là một phong tục truyền thống còn độc lập với Phật giáo và mang một ý nghĩa minh triết khác. Tất cả những hiện tượng này và còn nhiều hiện tượng khác liên quan, cho thấy tính hệ thống và hợp lý của hình tượng chú tiểu cài vạt áo bên trái hoàn toàn là một sự xác định rõ nét thêm về nền văn hiến Việt một thời huy hoàng ở miền nam Dương Tử. Tất nhiên kèm theo đó là những văn bản liên quan, mà giới hạn bài viết về chuyến “du lịch xách bị” này chưa thể chuyển tải.
Lê lết mãi, chúng tôi cũng vào đến cổng chợ Bát Tràng.
BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH




























Users Today : 17
Users Yesterday : 23
Users Last 7 days : 220
Users Last 30 days : 697
Views Today : 18
Views Yesterday : 32
Views Last 7 days : 239
Views Last 30 days : 890
Views This Month : 107
Views This Year : 908
Total views : 20633
Who's Online : 1
Your IP Address : 216.73.216.44