QUAN ĐIỂM CỦA GIÁO SƯ LÊ MẠNH THÁT VÀ NGUYÊN NHÂN KẾT THÚC THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG.

Gần đây trên báo Thanh Niên đã đăng một loạt bài của giáo sư Lê Mạnh Thát về nguyên nhân kết thúc thời đại Hùng Vương. Ông cho rằng: Thời Hùng Vương thực tế kéo dài đến thời kỳ Hai Bà Trưng chống Mã Viện. Ông đưa ra một số tư liệu lịch sử gián tiếp và suy luận cho quan điểm trên. Điều này được chấp nhận trong việc nghiên cứu khoa học. Nhưng kết luận của ông chỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích được những vấn đề liên quan đến nó một cách hợp lý. Tôi chưa tán thành quan điểm này của giáo sư bởi những việc cần lý giải sau đây:

@ Nhà Tần sau khi tiêu diệt Ba Thục thì tướng Tần là Đồ Thư đem quân tấn công Bách Việt. Hiện tượng lịch sử này cũng có nhiều tư liệu nói tới. Nhiều sử liệu và truyền thuyết cũng đề cập đến Đồ Thư đã thất bại và ngưới chống lại Đồ Thư chính là Thục Phán.

@ Việc Thúc Phán là một lực lương chính chống Tần thành công và sau này trở thành một lực lương chống lại vua Hùng là một diễn biến hợp lý.

@ Các sử liệu chính thức nhưng có niện đại muộn hàng nửa thiên niên kỷ cho rằng Thục Phán tiêu diệt triều đại Văn Lang. Song song với sử liệu này thì truyền thuyết cho rằng vua Hùng đã chấp nhận nhường ngôi cho Thực Phán và triều đại Hùng Vương kết thúc vào năm 258 trước CN.

@ Khi kết thúc thời Chiến Quốc bên Trung Hoa, chính nhà Tần hùng mạnh đã chiếm vùng đất Văn Lang lập thành quận Nam Hải với quan thái thú là Nhâm Ngao. Khi nhà Tần thất bại thì Triệu Đà nhân cơ hội này tuyên bố lập nhà nước Nam Việt.

@ Nhà nước Âu Lạc kế thừa Văn Lang tất yếu không thể chấp nhận sự lý khai của một bộ phận vốn đã mất từ trước thuộc nhà Tần. Nên việc chiến tranh giữa Nam Việt và Âu Lạc hoàn toàn là một vấn đề hệ quả hợp lý.

@ Toàn bộ đất nước Văn Lang vào cuối thời Chiến cquốc là những cuộc chiến tranh liên miên với Sở – Tần và nội chiến. Nhưng tư liệu lịch sử cho thấy tướng Sở là Kiếm Trung đã đánh sâu vào Văn Lang đến tận Quí Châu bây giờ, sau bị Tần diệt. Đất nước tất nhiên suy yếu. Bởi vậy các quốc gia nam Dương Tử nổi lên trong thời gian này ghi dấu ấn là Mân Việt, Điền Việt, Âu Lạc lần lượt bị Triêu Đà thôn tính là một điều hợp lý tiếp theo. Những bản văn lịch sử bang giao giữa Hán Triệu đã ghi nhận điều này. Đây chính là lý do mà tiến nhân của người Việt thừa nhận nhà Triệu như một nhà nước chính thống trong sử Việt. Mặc dù ông ta đã giành quyền thống trị bằng sức mạnh.

@ Nhà Triệu bị nhà Hán tiêu diệt. Đây chính là Bắc thuộc lần thứ nhất.

@ Chính sách hà khắc của Tô Định nhân danh sự thống trị của nhà Hán là nguyên nhân để xảy ra cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là một hệ quả hợp lý của những diến biến lịch sử nói trên. Đất nước Văn Lang xưa phục hồi lại lãnh thổ. Đây là nguyên nhân để Mã Viện – Tổng tư lệnh quân đội Hán – phải huy động lực lượng quân chủ lực để chiếm lại.

 

Chính bởi hệ thống những tác nhân và hệ quả diễn biến hợp lý với nhiều chứng cứ lịch sử tuy mơ hồ, nhưng có liên hệ hợp lý trong một thời gian lịch sử trải gần ba trăm năm là điều quan điểm của giáo sư Lê Manh Thác cần lý giải một cách hợp lý. Nếu không lý giải được những điều này thì quan điểm của giáo sư Lê Mạnh Thát chỉ là một gỉa thiết dựa trên một vài tư liệu gián tiếp và nó sẽ là suy luận với quan điểm chủ quan.

Tôi cũng xin bày tỏ sự khâm phục những khám phá những tư liệu rất có giá trị của giáo sư có khả năng chứng minh cho lịch sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ ở Nam Dương Tử với quốc gia Văn Lang, cội nguồn của dân tộc Việt dưới thời các vua Hùng. Nhưng tôi nghĩ cùng một tư liệu lịch sử – giả thiết tư liệu hoàn toàn chính xác – người ta có thể có những luận điểm khác nhau và phương pháp khác nhau cho việc tiếp cận sự thật lịch sử. Bởi vậy cần phải có tiêu chí khoa học để thẩm định cho những giả thiết khoa học.

Một giả thiết khoa học được coi là đúng nếu nó giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhất quan, hoàn chính, có tính quy luật, tính khách quan và có khả năng tiên tri.

Tôi cho rằng giáo sư Lê Mạnh Thát đã có mục đích đúng khi chứng minh cho cội nguồn lịch sử văn hiến Việt. Nhưng để đạt được mục đích còn cần có cách phân tích hợp lý và phương pháp đúng.

Thay cho lời kết luận của bài viết này, tôi xin giới thiệu một tư liệu lịch sử gián tiếp ca ngợi nền văn hiến huyền vĩ Việt ở Nam Dương tử. Đó chính là bài thơ “Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt” của Thi Tiên Lý Bạch. Ông là một danh sĩ tài hoa nổi tiếng thời Đường, có niên đại sau khi nền văn hiến Việt sụp đổ ở bờ nam Dương Tử ngót 800 năm. Nhưng chỉ với những di sản văn hoá Việt còn lại ở đây đã khiến thi Tiên Lý Bạch phải muốn hoá thân vào những giá trị Việt.

 

MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT

Thơ Lý Bạch

Hải khách đàm Doanh Châu,
Yên đào vi mang tín nan cầu
Việt nhân ngữ Thiên Mụ,
Vân hà minh diệt hoặc khả đổ.
Thiên Mụ liên thiên hướng thiên hoành,
Thế bạt Ngũ Nhạc, yểm Xích Thành.
Thiên Thai tứ vạn bát thiên trượng,
Đối thử dục đảo đông nam khuynh.
Ngã dục nhân chi mộng Ngô Việt,
Nhất dạ phi đô kính hồ nguyệt.
Hồ nguyệt chiếu ngã ảnh,
Tống ngã chí Diễm Khê.
Tạ công túc xứ kim thượng tại,
Lục thuỷ đãng dạng thanh viên đề.
Cước trước Tạ công lý
Thân đăng thanh vân thê.
Bán bích kiến hải nhật
Không trung văn thiên kê
Thiên nham vạn hác lộ bất định,
Mê hoa ỷ thạch hốt dĩ mính,
Hùng bào long ngâm âm nham tuyền.
Lật thâm lâm hề kinh tằng điên.
Vân thanh thanh hề dục vũ,
Thuỷ đạm đạm hề sinh yên.
Liệt khuyết tích lịch,
Khâu loan băng tồi.
Động thiên thạch phi,
Hoanh nhiên trung khai.
Thanh minh hạo đãng bất kiến để,
Nhật nguyệt chiếu diệu kim ngân đài.
Nghê vi y hề phong vi mã,
Vân chi quân hề, phân phân nhi lai hạ.
Hổ cổ sắt hề loan hồi xa,
Tiên chi nhân hề liệt như ma.
Hốt hồn quý dĩ phách động,
Hoảng kinh khởi nhi trường ta.
Duy giác thì chi chẩm tịch,
Thất hướng lai chi yên hà.
Thế gian hành lạc diệc như thử.
Cổ lai vạn sự đông lưu thuỷ,
Biệt quân khứ hề hà thì hoàn ?
Thả phóng bạch lộc thanh nhai gian.
Tu hành tức kỵ phỏng danh sơn.
An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quý,
Sử ngã bất đắc khai tâm nhan!

 

Dịch nghĩa
Mơ đi chơi núi Thiên Mụ, làm thơ để lại lúc từ biệt

Khách đi biển kháo nhau về Doanh Châu,
Khói sóng mù mịt, tin rằng khó tìm được.
Nay người Việt nói về núi Thiên Mụ,
Mây ráng khi tỏ khi mờ cũng có thể nhìn thấy.
Thiên Mụ liền trời mà vươn chắn ngang trời,
Có cái thế vượt Ngũ Nhạc, ép cả Xích Thành.
Núi Thiên Thai cao bốn vạn tám nghìn trượng,
Trước nó cũng bị áp đảo mà nghiêng về đông nam.
Ta muốn nhân đó mơ về Ngô Việt,
Một đêm bay qua vầng trăng hồ Kính.
Trăng hồ soi bóng ta,
Đưa ta đến Diễm Khê.
Ở đấy nay vẫn còn nhà của Tạ Linh Vận,
Nước biếc rập rờn, vượn kêu lanh lảnh.
Chân mang giày Tạ công,
Mình đi lên thang mây xanh.
Đến lưng chừng vách núi thấy mặt trời ngoài biển,
Nghe gà trời gáy vang không trung.
Nghìn núi muôn khe, khó xác định đường đi,
Say mê ngắm hoa đứng tựa núi đá, bỗng trời sập tối.
Gấu thét rồng gào vang dội núi đá, suối khe,
Rừng sâu chấn động, núi thẳm kinh hoàng.
Mây xanh xanh chừng sắp mưa,
Nước mờ mờ như bốc khói.
Chớp giật sấm vang,
Núi tan gò lở.
Động trời cửa đá
Rầm rầm mở ra ở giữa.
Xanh mờ thăm thẳm không thấy đáy,
Mặt trời mặt trăng lấp lánh soi lầu vàng gác bạc.
Cầu vồng làm áo, gió làm ngựa,
Thần mây bời bời bay xuống.
Cọp gảy đàn, loan kéo xe,
Người tiên đông như cỏ gai.
Bỗng hồn kinh phách động,
Tỉnh dậy sợ hãi mà than dài…
Chỉ thấy chăn gối lúc đó,
Khói ráng vừa qua biến mất.
Những cuộc vui trên đời cũng như vậy thôi !
Mọi việc xưa nay trôi qua như nước chảy về đông.
Giã từ anh ra đi, biết bao giờ trở lại ?
Hãy thả con hươu trắng nơi ghềnh núi xanh.
Hễ cần thì cỡi ngay ngựa, thăm núi nổi tiếng,
Chứ sao lại cúi mày khom lưng thờ bọn quyền quý,
Khiến ta không sao mở lòng mở mặt !

 

 

 

Dịch thơ

Khương Hữu Dụng

 

Khách biển đồn Doanh Châu,
Khói sóng mịt mù tìm được đâu!
Người Việt nói Thiên Mụ,
Mây ráng tỏ mờ nay thấy đó.
Thiên Mụ liền trời chân trời xanh,
Thế lay Ngũ Nhạc, đổ Xích Thành.
Thiên Thai một vạn tám nghìn trượng,
Đứng trước Thiên Mụ cũng nghiêng mình.
Ta muốn nhân đây mộng Ngô Việt,
Một đêm nương trăng Kinh Hồ vượt.
Trăng hồ rọi bóng ta,
Đưa ta đến Diễm Khê.
Tạ công chốn cũ nay còn đó,
Trong veo tiếng vượn, nước xanh lè.
Xỏ chân dép họ Tạ,
Cất mình thay mây đi.
Vừng đông, nửa vách thấy,
Gà trời, giữa lừng nghe.
Núi ngàn ngoắt ngoéo đường lắm hướng,
Mê hoa tựa đá bỗng tối om.
Beo gầm rồng kêu núi khe dồn,
Run rừng sâu hề rợn từng non.
Mây xanh xanh hề mừa chớm,
Nước mờ mờ hề khói un.
Sét đánh chớp lòa,
Gò nhào cồn tan.
Động trời cửa đá,
Ầm ầm mở toang.
Xanh mờ thăm thẳm chẳng thấy đáy,
Ánh trời ánh trăng ngấn bạc vàng.
Mặc áo ráng hề cưỡi ngựa gió,
Thần trong mây hề bời bời bay xuống đó.
Hổ đánh đàn hề loan đẩy xe,
Người tiên đông hề đông gớm ghê.
Bỗng hồn kinh mà phách động,
Hoảng vùng dậy mà than dài.
Tan khói mây lúc nãy,
Trơ chăn gối mình đây.
Cuộc vui trên đời nào khác vậy,
Xưa nay muôn việc xuôi nước chảy!
Giã người đi hề bao giờ lui?
Toan thả hươu trắng núi xanh khơi,
Cần đi hẳn cưỡi dạo non chơi.
Dễ đâu cúi đầu gãy lưng phụng quyền quý,
Khiến ta chẳng được mặt mày tươi.

Bản dịch: Khương Hữu Dụng

208

 

MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT

Cảm tác thơ Lý Bạch

Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Khách hải hồ kể mãi xứ Doanh Châu.
Cõi huyền thoại nơi chân trời giáp biển.
Chuyện thần tiên văn hiến Việt ngàn xưa.
Nơi ấy.
Lồng lộng trên cao
Thiên Mụ chắn ngang trời.
Giữa huyền không bời bời.
Ngũ nhạc còn bé, Xích thành nhỏ nhoi.
Núi Thiên Thai hùng vĩ xuyên mây.
Trước Thiên Mụ cũng ngả nghiêng chao đảo.
Ta ôm mộng sống trong huyền thoại Việt.
Mơ vượt sóng trào hồ Động Đình đất Kính.
Xuyên Ngô Việt trong trăng thanh lung linh.
Về Diễm Khê thanh bình.
Theo bóng trăng đến lều tranh Tạ Linh Vân.
Nơi nước biếc soi áng mây thơ thẩn.
Hạc kêu, vượn hót
Gió giục mây vần.
Mượn hài thần Tạ công, ta nhẹ bước thanh vân.
Lưng chừng núi chợt thấy mặt trời lồng lộng.
Mão Nhật kê tinh gáy gọi hừng Đông
Đường đi mênh mông.
Mây buông ráng hồng.
Chợt trời sập tối.
Sầm sập mây trôi.
Nghe Kỳ lân gào thét.
Tiếng Rồng gầm vang khe.
Gió giật chớp loè.
Núi tan, non lở.
Chợt vỡ toang cửa trời rộng mở.
Thăm thẳm huyền vi.
Chói loà trời trăng soi lầu vàng, gác bạc.
Thiên thần lừng lững bay.
Giáp trụ hiên ngang, lấp lánh bẩy sắc cầu vồng.
Cưỡi thần mã phi nhanh như gió.

Cõi trời huyền thoại Việt.
Toàn người đẹp nghiêng thành.
Ảo huyền như trăng thanh.
Dáng tiên thanh tú .
Đông như cỏ manh.
Nghe hổ chơi đàn.
Hồn Bá Nha chứa chan.
Chợt nhìn phượng múa.
Vũ khúc Nghê Thường mê man…

Giật mình tỉnh giấc mơ vàng.
Mang mang như khói hương tàn trôi đi.
Ngàn thu qua có nhắc gì?
Mơ xưa xứ Việt ngang mi dâng sầu.
Đất trời nhắc cuộc bể dâu.
Nào mơ danh tướng công hầu mà chi.

Thiên Sứ 

Tôi nghĩ rằng còn rất nhiều di sản lịch sử trực tiếp và gián tiếp khác tồn tại trong văn hoá Việt ghi dấu ấn cho nền văn hiến Việt, tồn tại trong văn hoá Việt, đủ minh chứng hùng hồn cho lịch sử dân tộc Việt trái gần 5000 năm văn hiến một thời huyền vĩ ở Nam sông Dương Tử.

Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Bài này đã được đăng trong Lý Học Đông Phương, Thơ Thiên Sứ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.