LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG – NGOẠI CẢM & CẢM ỨNG.

Bài viết này tôi đã trình bày trên web lyhocdongphuong.org.vn. Tôi đưa lên đây để các bạn quan tâm, nhưng không tham gia trang web Lý học này chia sẻ với tôi. Blog của tôi tuyệt đối không có bình luận. Mong những người bạn thật sự của tôi hãy thông cảm cho tôi. Tôi đã mệt mỏi quá nhiều bởi sự chỉ trích của thế nhân.

Kinh thưa quí vị quan tâm.
Có lẽ tất cả chúng ta đều biết rằng: Những phương pháp ứng dụng của Lý Học Đông phương chính là sự ứng dụng trong hầu hết các mặt trong đời sống con người Đông phương trải hàng thiên niên kỷ. Từ Đông Y; Phong thủy (Kiến trúc xây dựng); Thiên văn lịch số, dự báo đến từng chi tiết trong các hành vi của con người và cả những vấn đề xã hội và và các vấn đề quan hệ xã hội mà con người quan tâm….vv…Những hiệu quả của những phương pháp ứng dụng này còn tồn tại đến ngày hôm nay và được không ít những nhà nghiên cứu khoa học hiện đại quan tâm – kể từ khi sự phát triển của văn minh nhân loại khiến hai nền văn minh Đông Tây tiếp xúc với nhau.
Nhưng vào thời kỳ phôi thai của khoa học hiện đại – nếu tính bắt đầu từ Galile ra tòa án giáo hội và kéo dài đến những năm 50 của thế kỷ trước thì hầu hết những nhà nghiên cứu tri thức khoa học hiện đại đều cho rằng: “Lý học Đông phương là không có cơ sở khoa học”. Thâm chí có thể nói rằng: Cho đến tận ngày hôm nay, khi tôi đang gõ những hàng chữ này – tri thức khoa học hiện đại vẫn chưa giải thích được những yếu tố qui ước, những tiêu chí và cơ chế thực tại nào làm nên những phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương và những cơ sở phương pháp luận của nó. Những phê phán, phân tích, tìm hiều và hầu hết các công trình nghiên cứu của các học giả hàng đầu đều chưa có kết quả khả quan. Liên hiệp quốc đã tổ chức bốn lần hội thảo về Kinh Dịch – chỉ là một bộ phận – trong hệ thống Lý học Đông phương tại Bắc Kinh, nhưng vẫn bế tắc.
Khi tri thức khoa học hiện đại ngày càng phát triển, vượt trội và phổ biến hơn so với cách đây 50 năm trước với mạng thông tin toàn cầu, những nhà tri thức khoa học tên tuổi bắt đầu chú ý đến Lý học Đông phương. Nhưng họ cũng mới chỉ nhận thấy những điều kỳ diệu của nền tri thức Đông phương này và chưa nhận thấy hết những giá trị đích thực của nó. Họ chỉ dừng lại ở sự so sánh những hiện tượng giống, hoặc gần giống giữa những thực tại mà khoa học hiện đại phát hiện được với những qui ước, những tiêu chí của Lý học (Xem “Đạo của vật lý”). Khái niệm “giả khoa học”, trên thực tế – một cách không cố ý – thể hiện tính tương đồng giữa Lý học và những phát kiến của khoa học hiện đại. Xét về mặt ngữ nghĩa thì không thể gọi là “giả”, nếu nó không có những hình thức gần giống. Những hiện tượng này, là điều kiện để người viết có một gợi ý rằng:
Khi tri thức khoa học ngày càng phát triển thì tri thức khoa học thấy càng thấy gũi với Lý học Đông phương. Từ chỗ phủ định: “không có cơ sở khoa học”, “mê tín dị đoan”; dẫn đến sự liên hệ so sánh tính gần gũi ở một số mặt; rồi dẫn đến sự tìm hiểu, nghiên cứu và nhận ra những cơ sở khoa học của nó. Vậy, nếu như tri thức khoa học hiện đại ngày càng phát triển thì sự nhận thức sẽ tiến tới như thế nào với nền Lý Học Đông phương? Khi mà tính hiệu quả trải hàng thiên niên kỷ của Lý học Đông phương trong các phương pháp ứng dụng, với một phương pháp luận nhất quán và bao trùm lên tất cả – đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Điều này chứng tỏ phải có một chân lý đứng đằng sau nó.
Nhưng cái nhìn của không ít người – kể cả có bằng cấp cao – đã trộn lẫn tính huyền bí do thiếu hiểu biết về lý học Đông phương với hiện tượng ngoại cảm và tính cảm ứng tiên tri trong các phương pháp ứng dụng của nó. Do đó, tôi nghĩ cần thiết phải trình bày rõ hơn để phân biệt các vấn đề nêu trên trong bài viết này, từ cái nhìn chủ quan của riêng tôi. 

LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG & THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
Tôi cần xác định rằng: Tất cả những ai tìm hiểu về chỉ một bộ môn nào đó trong phương pháp ứng dụng bao trùm của nền Lý học Đông phương thì sẽ dễ dàng nhận ngay ra rằng: Chúng đều thống nhất về phương pháp luận liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Do đó, có lẽ tất cả những nhà nghiên cứu khoa học, hoặc những nhà Lý học thuần túy trực tiếp ứng dụng một hay nhiều bộ môn ứng dụng của Lý học – dù ủng hộ hay phản đối quan điểm của tôi (*) thì cũng đều phải xác nhận một điều hiển nhiên rằng: 

Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết nền tảng cho tất cả các phương pháp luận của nền lý học Đông phương
– cho dù họ hiểu nó như thế nào.
Như vậy, hiển nhiên thuyết Âm Dương Ngũ hành là một thực tại khách quan đã tồn tại trên thực tế lịch sử văn minh nhân loại – thì mặc dù người ta hiểu nó một cách rất mơ hồ – và có thể nhìn nó và giải thích nó như thế nào – về tất cả mọi mặt liên quan đến nó, gồm: lịch sử, nội dung và tính ứng dụng thì cũng không thể phủ nhận được thực tế này. Tính hiệu quả của nó trong ứng dụng thì có thể nói rằng: 

Chưa một lý thuyết khoa học nào – đầy tự hào của khoa học hiện đại – nằm mơ cũng chưa thể có được tính ứng dụng rộng khắp và tồn tại vượt không gian và thời gian, xuyên qua mọi không gian văn hóa, chính trị, lịch sử của con người như vậy.
Có lẽ không cần phải ví dụ, nhưng tôi có thể xác định làm cho các nhà khoa học tự ái khi phát biểu rằng:
Ở góc độ lý thuyết thì chẳng có một lý thuyết khoa học hiện đại nào – bây giờ và có thể hàng trăm năm nữa – có một ứng dụng rộng rãi trong hầu hết – (Không muốn nói tất cả) – các mặt nhận thức được của con người, như thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Những cái mà nền khoa học hiện đại mang lại cho chúng ta hiện nay – từ tên lửa vũ trụ cho đến chiếc hộp quẹt ga – được coi là những điều kỳ diệu – thì suy cho cùng, đó cũng chỉ là tri thức khoa học ứng dụng. Nhưng vì nó thỏa mãn cho những tiện lợi trong cuộc sống của chúng ta, cho nên chúng ta thấy nó ….vĩ đại vì tính thực dụng của nó. Nhưng ngay cả cái ứng dụng thực tiễn vĩ đại đó, có thật sự mang lại cho con người một tương lai tốt đẹp hay không? Khi mà thực tế đã cho thấy nguy cơ tàn phá môi trường sống của con người. mà những bộ óc ưu tú nhất hiên nay bắt đầu nhận ra và Liên Hiệp quốc đã lên tiếng. 


(Ở đây, tôi chưa nói đến con người sống trong nền văn minh đã sáng tạo ra học thuyết Âm Dương Ngũ hành để so sánh với cuộc sống hiện đại của nền văn minh hiện nay – vì những quan điểm học thuật khác nhau – là: 
Họ có thực sự “lạc hậu” hơn chúng ta không? 
Nếu họ thực sự sống trong thời đại đồ đá, đồng….và cho đến ngay cả thời hiện đại này – theo cái nhìn lịch sử phát triển của tri thức văn minh hiện nay – thì tôi nghĩ đó không phải là nền tảng tri thức xã hội tạo ra được thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chúng ta thử đặt một giả thuyết rằng: 
Nếu xét về sự phát triển tổng quát, quen gọi là “vĩ mô” – với nền văn minh nhân loại phát triển theo chiều hướng hiện nay – khi tất cả những con người trên thế giới này, ngày càng có đầy đủ điều kiện sử dụng tiện nghi hiện đại thì cái gì sẽ xảy ra?)

Bởi vậy, với sự so sánh đó – cá nhân tôi – nhận thấy rằng:
Chỉ với những hiện tượng tồn tại trên thực tế còn lại của Thuyết Âm Dương Ngũ hành – qua các phương pháp ứng dụng: Phong thủy, Tử vi, Thái ât, Đông y…vv… – đã đủ để xác định rằng đó thực sự là một học thuyết vượt trội trên tất cả các lý thuyết khoa học hiện nay, cho dù người ta còn mơ hồ nội dung và những khái niệm của nó.

Do đó, nếu thực sự nghiên cứu về thuyết Âm Dương Ngũ hành – nhân danh khoa học – phải được nhìn nó với tư cách một lý thuyết đã từng tồn tại trên thực tế, với mọi góc độ của nó, gồm: Lịch sử phát triển, nội dung học thuyết và tính thực nghiệm hiệu quà qua các phương pháp ứng dụng với phương pháp luận của nó, trên cơ sở các tiêu chí khoa học cho một lý thuyết được coi là khoa học. 

Cho nên, không thể vì sự chưa hiểu biết sâu về thuyết Âm Dương ngũ hành – khiến nó trở nên huyền bí – nên đánh đồng nó với sự huyền bí do chưa khám phá ra cơ chế ngoại cảm và tính cảm ứng trong dự báo của Lý học Đông Phương.
————————————————————
* Chú thích:
Quan điểm của tôi và tôi đã chứng minh là: 
– Về lịch sử: 
Thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn hiến Lạc Việt trải gần 5000 năm lịch sử. Nền văn minh này một thời ngự trị ở miền nam sông Dương tử, dưới quyền trị vị của các vua Hùng với quốc hiệu Văn Lang: Bắc giáp Động Đình hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục và Đông giáp Đông Hải. Người Việt chính là hậu duệ còn sống sót của một nền văn minh toàn cầu cổ xưa đã tồn tại trên địa cầu.
– Về nội dung:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành bản chất là một lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán đã từng tồn tại vào thời đại của nó trong quá trình phát triển, tồn tại và huỷ diệt của các nền văn minh toàn cầu. Sự rời rạc và mơ hồ hiện nay là do thất truyền. 
Nguyên lý căn để của học thuyết này bị sai trong qúa trình Hán hóa học thuyết này từ văn minh Lạc Việt, khi nền văn minh này sụp đổ ở miến nam sông Dương Tử. Nguyên lý căn để của nó không phải là “Lạc Thư phối Hậu thiên Văn Vương”, mà là “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”. Tôi luôn xác định rằng: 
Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước.

——————————–

HIỆN TƯỢNG NGOẠI CẢM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Tôi đã hân hạnh trình bày với quí vị rằng: Ngoại cảm là một thực tế khách quan. Nó không phải là một lý thuyết, hay một giả thuyết khoa học. Thậm chí nó cũng không phải là một sự giải thích mang tính nhận thức, dù giải thích với bất cứ cách nhìn nào và phương pháp luận nhân danh cái gì. Với tôi, hiện tượng ngoại cảm hoàn toàn mang tính phát triển đột biến của tư nhiên trong cơ chế cấu tạo tâm sinh lý của con người. Có thể ngay chính người có khả năng ngoại cảm cũng không hiểu được cơ chế nào mà họ có được khả năng này. Điều này đơn giản, như con người nghe bằng tai, nhìn bằng mắt từ ….cả trăm ngàn năm – lúc con người nhận biết về mình cho đến ngày nay – thì cũng có nhiều giải thích khác nhau về các giác quan đó. Đầu tiên là do Thương Đế đã sáng tạo và điều này cũng chẳng khác nào một nhà ngoại cảm nào đó phát biểu: Thượng Đế đã ban cho tôi khả năng này; hoặc người âm nhập…vv…Đấy chỉ là cách giải thích.
Trên cơ sở này tôi xác định rằng:
Mục đích nghiên cứu hiện tượng ngoại cảm suy cho cùng chính là tìm ra cơ chế tạo ra khả năng này, nhằm phục vụ cho sự phát triển của những khả năng con người.
Việc đưa vào phòng thí nghiệm, thống kê hiện tượng…vv….chỉ là những phương pháp nghiên cứu. Tất nhiên phương pháp sai thì nghiên cứu sẽ không kết quả. Tất nhiên cũng chẳng ai đem một hiện tượng tự nhiên vào phòng thi nghiệm để xem nó có đúng là một hiện tượng tự nhiên hay không.

“Chẳng ai tìm ra một cái đúng từ một cái sai”.

Và tôi cũng xác định định luôn mang tính tiên tri rằng:
Với tất cả những phương tiện khoa học hiện đại nhất của nền văn minmh ngày nay, sẽ chưa thể tìm ra cơ chế nào để phat sinh hiện tượng ngoại cảm.
Cơ sở để tôi xác quyết điều này là: Ngày nay, con người chưa tìm được cơ chế nào để có sự nhận biết từ các bộ phận của não bộ liên quan tới các bộ phận giác quan – là những phương tiện nhận biết – thông qua não bộ. Đấy là những hiện tượng tự nhiên có ngay trong chính con người tồn tại một cách mặc định và hiển nhiên, còn chưa tìm ra. Vậy thì với “giác quan thứ 6” mơ hồ này vốn cũng có mối liên hệ thông qua não bộ – thì chẳng có cơ sở nào để gọi là: Chứng minh bằng thực nghiệm cả.
Bởi vậy, không thể căn cứ vào mấy cái thí nghiệm vớ vẩn để phủ định ngoại cảm.
Với hiện tượng ngoại cảm – một hiện tượng tự nhiên hiếm gặp – hoặc là những lý thuyết khoa học hiện đại có thể giải thích được nó; hoặc là nó sẽ buộc các nhà khoa học phải tìm ra một phương pháp luận giải thích được nó một cách hợp lý.
Tất nhiên , trong điều kiện hiện nay – khi mà các phương tiện khoa học hiện đại nhất thế giới bất lực trong việc tìm ra cơ chế thực tại nào làm nên hiện tượng ngoại cảm – thì người ta chỉ có thể đặt ra một giả thuyết khoa học có thể kiểm chứng trong tương lai giải thích một cách hợp lý hiện tượng này theo các tiêu chí khoa học. Và điều này cũng đã thông minh lắm rồi. Chỉ số IQ sẽ được xác định là cao. so với làm đường cao tốc (Từ khi vị đại biểu Quốc Hội nào đó cho rằng nên làm đường cao tốc với viện dẫn dân tộc làm đường cao tốc có chỉ số IQ cao, khiến Thiên Sứ bị ảnh hưởng vì tính ấn tượng của phát biểu này).
Cá nhân tôi đã đưa giả thuyết về hiện tượng này:

Sự đột biết trong phát triển của tự nhiên trong quá trình tiến hóa của con người. Khiến cho nó tạo ra những phương tiện nhận biết mới và nhận biết được những tồn tại tự nhiên mà các giác quan phổ biến của con người bình thường không nhận thức được.

Đây cũng chỉ là một giả thuyết, có thể đúng mà cũng có thể sai. Nhưng nó nhân danh khoa học.

CẢM ỨNG VÀ TIÊN TRI
Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong tiêu trí khoa học có một yếu tố quan trong không thể thiếu để xác minh tính khoa học của một phương pháp, giả thuyết hoặc lý thuyết khoa học là: Khả năng tiên tri.
Không có khả năng tiên tri thì không thể coi là một giả thuyết, hoặc một phương pháp khoa học. Điều này đã được công đồng khoa học thực sự của thế giới công nhận (Chứ không phải thứ “công đồng khoa học thế giới” rởm của cái quan điểm phủ nhận lịch sử văn hóa truyền thống Việt). Thuyết Âm Dương Ngũ hành đã thể hiện khả năng tiên tri trên tất cả mọi phương diện ứng dụng của nó: Từ chính trị, xã hội, đông y, thiên văn, phong thủy…vv….Và có thể nói rằng: Do tính cô đọng của phương pháp tiên tri và tính mô hình, biểu tượng mang tính khái quát bao trùm những hiện tượng được phân loại của một quẻ bói, cho nên các khoa học gia thường nhấn mạnh tính cảm ứng, linh cảm trong khả năng tiên tri của lý học Đông phương – cho kết quả dự báo. Và chính tính cảm ứng này khiến các nha khoa học nghi ngờ tính khoa học của phương pháp dự báo trong Lý học Đông phương.
Bởi vậy, bài viết này tôi sẽ chứng minh với bạn đọc về tính khoa học thật sự của các phương pháp dự báo Đông phương trên cơ sở một cái nhìn tổng quát và đồng thời cũng chứng tỏ tính khoa học cao cấp và vượt trội của nền Lý học Đông phương với tất cả lý thuyết khoa học hiện đại.
Tôi thí dụ và bắt đầu qua phương pháp Bốc Dịch – là phương pháp phổ biến nhất mà các nhà khoa học có thể ít nhiều biết đến. Một trong những phương pháp bốc dịch có thể làm ví dụ dễ hiểu cho trường hợp này là Mai Hoa Dịch.
Phương pháp này căn cứ vào ngày giờ tháng năm đặt vấn đề dự báo, người dự báo – tiên tri – lập được quẻ Dịch cho sự kiện cần dự báo. Dịch học có 64 quẻ.Nhưng chúng ta cũng biết rằng: Sự kiện cần dự báo thì hàng tỷ trên thế gian. Từ công ăn việc làm, hôn nhân, gia đạo, đầu tư kinh doanh, công việc sự nghiệp, chuyện sống chết, bệnh tật ốm đau, thiên tai, nhân họa, chiến tranh, hòa bình….vv….Như vậy về lý thuyết 64 quẻ Dịch này bao trùm mọi vấn đề trên thế gian.
Chúng ta cũng biết rằng: Chỉ cần một sự kiện rất nhỏ xảy ra – như hạt bụi bay vào mắt, cũng đủ gồm hàng tỷ yếu tố tương tác cực kỳ phức tạp. Nó phức tạp đến mức câu nói nổi tiếng của giáo sư Trinh Xuân Thuận phát biểu:
“Để giải thích một sự kiện dù rất nhỏ, cũng phải viện dẫn toàn thể lịch sử hình thành vũ trụ”.
Vậy thì khả năng tiên tri của 64 quẻ Dịch này, phải là biểu tượng – có thể tạm gọi là “mô hình” – cô đọng nhất phản ánh sự vận động của tất cả quy luật tương tác căn bản của vũ trụ và trong đó, mọi sự vật, sự việc, hiện tượng…vv….đã được phân loại. Hya nói một cách khác: Một quẻ Dịch trong 64 quẻ chính là tập hợp tất cả những sự vật, sự việc, hiện tương trên thế gian đã được phân loại trong phạm trù của nó. Và sự diễn tiến, vẫn động, phát triển hay suy thoái của các hiện tượng này chính là chu kỳ của 64 quẻ Dịch.
Tính phân loại của Bát Quái – nhân tố cấu thành 64 quẻ Dịch – có thể thấy được qua việc miêu tả tính chất của từng quái trong cuốn Kinh Dịch nổi tiếng:
Thí dụ:
Quái Khảm: Là nước, là vực sâu, là âm mưu, là hiểm trở, là cây có lõi cứng và to, là khuyết hãm…..vv….
Đây chính là những sự vật, sự việc, hiện tượng…vv….đã phân loại nằm trong phạm trù của quái Khảm. Chúng ta cũng biết rằng: Một lý thuyết hoặc một phương pháp khoa học cao cấp nhất, chính là tính phân loại của mọi hiện tượng. Thí dụ như bảng tuần hoàn hóa học của Menledeef đã phân loại tất cả các nguyên tố hóa học và có khả năng tiên tri trong phạm vi của nó về các nguyên tố sẽ xuất hiện trong bảng phân loại này.
Trên cơ sở này, quí vị cũng thấy rằng: Bát quái trong Dịch học chính là những ký hiệu – vì nó không phải là văn tự – siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mô tà toàn bộ qui luật và thực tại của vũ trụ, thiên nhiên, cuộc sống và con người.
Tất nhiên, với tư cách là một siêu công thức toán học bao trùm mọi hiện tượng và phản ánh qui luật của mọi hiện tượng thì nó phải có khả năng diễn giải mọi vấn đề liên quan đến diễn biến của mọi hiện tượng. Đó chính là khả năng dự báo vậy. Hay nói rõ hơn: Đó chính là khả năng tiên tri – một trong những yếu tố cấu thành trong tiêu chí khoa học cho một lý thuyết được coi là khoa học.
Trong phạm vi bài viết này, tôi xin được trình bày về v/d cảm ứng tiên tri thể hiện trong phương pháp tiên tri cụ thể của Mai Hoa Dịch
Như tôi đã trình bày, phương pháp dự báo của Mai Hoa Dịch căn cứ vào ngày giờ tháng năm của sự kiện, của thời gian đặt vấn đề cần dự báo….vv… như là những dữ kiện cần để thực hiện dự báo. Thời gian, chính là yếu tố xác định chu kỳ vận động của mọi hiện tượng trong không gian. Bởi vậy nó chính là yếu tố xác định thời điểm mang tính chất của hiện tượng cần dự báo và khả năng diễn biến theo quy luật đã xác định.
Như vậy, đây chính là một bài toán trừu tượng bậc nhất được giải theo phương pháp của nó. Đương nhiên nó cần một tư duy trừu tượng phát triển và một cảm ứng liên quan đến nó. Và vấn đề cảm ứng tiên tri không phải là một hiện tượng phi khoa học, mà nó thuộc về khả năng của con người tồn tại khách quan trên thực tế. Khao học gia Nguyễn Văn Tuấn xác định điều này – trong bài “Phong Thủy là Khoa học?”:


Nội dung trích dẫn
“2 * Khoa học là một phương pháp suy nghĩ và hành động nhằm vào mục đích hiểu và cảm nhận được thế giới chung quanh một cách trực tiếp hay gián tiếp, quá khứ hay hiện tại. Những phương pháp trí tuệ bao gồm linh cảm, ước đoán, tư tưởng, giả thuyết, lí thuyết, và mô hình. Những phương pháp thực tiễn bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, thu thập dữ kiện, hệ thống hóa dữ kiện, cộng tác cùng đồng nghiệp, thí nghiệm, tìm tòi và khám phá, phân tích thống kê, viết báo cáo khoa học, trình bày trong các hội nghị khoa học, và công bố kết quả nghiên cứu”.


http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=11137
————————————
Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy, tôi đã chứng minh rằng: Tính cảm ứng trong dự báo hoàn toàn không phải là một hành vi tín ngưỡng, một thứ “giả khoa học”. Mà là một thực tại khách quan tồn tại trong khả năng của con người. Chẳng qua vì trí thức khoa học hiện đại chưa biết được căn cứ vào đâu để có phương pháp dự báo của nền Lý Học Đông phương, nên tính cảm ứng bị gắn với sự huyền bí của nó.
Có thể xác định rằng: Trong mọi vấn đề của cuộc sống quanh ta, đều có sự hiện diện của cảm ứng. Nếu chúng ta thành thật suy ngẫm về điều này
Cảm ơn sự quan tâm của các bạn.

Bài này đã được đăng trong Lý Học Đông Phương. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.