LÝ THUYẾT BẤT ĐỊNH – MỘT SAI LẦM CỦA NHẬN THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY

II . THỰC TẠI KHÁCH QUAN – NHẬN THỨC VÀ TÍNH QUY ƯỚC.
Tiếp theo

http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSn_yOWSV7GBuKtVSMmKCBE4QGfzD4phsJgeIu8oVx3Ggi0A_w0

2/ Thực tại – nhận thức, khái niệm và tính quy ước. 
2.1/ Nhận thức thực tại
Bản chất của thực tại là bất định và tôi đã xác định điều này. Nhưng nhận thức của con người thì tùy theo cấu trúc vật chất trong sự bền vững tương đối với thời gian để xác định tính tất định trong thời gian tồn tại của nó. Và khái niệm về tính “tất định” 
chính vì tính bền vững tạm thời của cấu trúc vật chất trong thời gian đó. Tùy theo cấu trúc vật chất mà hình thức tồn tại tất định của nó có thể chỉ là 1/ 1000 tỷ s. Và cũng có thể là hàng tỷ năm. Thí dụ như sự bền vững của các thiên thể. Trên cơ sở này, con người đi tìm quy luật của vũ trụ trong sự xác định tính bền vững với khái niệm tất định của cấu trúc vật chất tương đối với thời gian với những khái niệm mang tính quy ước để khái quát nhận thức của mình. Chứ không phải vì bản chất của vật chất vốn bất định và người sống buông trôi trong sự nhận thức đó. 
Cho đến nay, khi nền tảng tri thức của nền văn minh nhân loại hiện đại – có xuất xứ từ nền văn minh Tây phương mới nhận thức được tính bất định của vật chất. Thực ra, nền văn minh Đông phương đã nhận thức được điều này lâu rồi. Đức Phật đã xác định: “Mọi sự tồn tại trên thế gian và cả vũ trụ này chỉ là nhân duyên giả hợp”. Đó chính là cách diễn đạt khác để miêu tả bản chất cấu trúc vật chất bất định với thời gian.
Khái niệm về “những nhân duyên” mà Đức Phật nói tới, cũng là cách diễn đạt tương ứng với khái niệm của tri thức khoa học hiện đại gọi là “dữ kiện đầu vào” của sự hình thành một sự kiện gì đó. Đức Phật nói là “nghiệp lực”, “nhân quả” chính là quy luật tương tác …..- nếu có thể tạm dịch ra như vậy.
Những tu sĩ cao cấp của Phật giáo , khi mới tu tập đã nhận thức bản chất của vật chất – cũng như những nhà khoa học quan niệm về bản chất bất định của vật chất. Họ cũng từng phát biểu: “Khi mới tu, tôi thấy núi không phải là núi, sông không phải là sông”. Chính vì khi mới tu, họ tiếp thu tính nhân duyên giả tạm được phổ biến trong Phật pháp về bản chất cấu trúc vật chất. Nhưng sau đó cũng chính các vị thiền sư đó nói: “Nhưng khi tu đã lâu, tôi lại nhận thấy núi là núi và sông là sông”. Họ thừa nhận tính bền vững của cấu trúc vật chất tương đối trong thời gian và vũ trụ đã an định với nhân duyên, nghiệp lực tạo ra nó – qui luật của sự phát triền vũ trụ – mà trong đó con người chỉ là một sản phẩm trong giai đoạn phát triển của nó.
Như vậy, bắt đầu từ nhận thức trực quan về tính bền vững của cấu trúc vật chất tương đối với thời gian, con người đã xác lập nền tảng tri thức của mình từ cơ sở đó, chứ không phải xác lập cơ sở nhận thức bởi bản chất bất định của vật chất.

2.2/ Khái niệm và tính quy ước
Cho nên dù bằng những ngôn ngữ khác nhau, con người đã tạo ra những khái niệm mô tả nhân thức của con người trên cơ sở của mọi hiện tượng thiên nhiên và tìm hiểu nó. Như vậy, về mặt tri thức vật lý, con người tìm hiểu qui luật của thiên nhiên, vũ trụ và chính bản thân mình là căn cứ vào sự tốn tại bền vững của cấu trúc vật chất tương đối so với thời gian, chứ không phải bản chất bất định/ vô thường của vật chất.
Ta về giữa cõi vô thường….
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa.
Về mặt tri thức toán học, người viết quay trở lại với khái niệm “điểm” và bài toán ba vật thể của Poin Care.
Có thể có nhiều khái niệm về “điểm”. Nhưng tôi dùng khái niệm về điểm – Cho dù được thể hiện bằng nhiều ngôn ngữ của các dân tộc trên thế giới – 
trong toán học như sau:
“Điểm” là một khái niệm trừu tượng căn bản trong toán học, mô tả có tính quy ước một phần tử trên thực tại tiến tới 0 và không bằng 0.
Như vậy, chúng ta thấy rằng: Ngay cơ sở khái niệm đầu tiên của toàn bộ tri thức toán học phát triển trong lịch sử văn minh nhân loại – để rồi hình thành nên nền văn minh toàn cầu hiện đại ngày nay – đã bắt đầu từ nền tảng căn bản của nó là tính bất định. Nhưng người ta vẫn phải xây dựng tất cả mô hình toán học siêu đẳng nhất, được thừa nhận về tính chân lý toán học – của tất cả các nhà khoa học tài ba trên thể giới bắt đầu từ chính khái niệm bất định này. Bởi vì, bản chất của nhận thức những quy luật vật lý cho mọi vật thể trong thiên nhiên và vũ trụ là quán xét cấu trúc hình thể bền vững tương đối trong thời gian, trên cơ sở quy ước qua những khái niệm mà toán học mô tả.
Như vậy, người viết đã xác định rằng: Con người xây dựng tri thức của mình trên cơ sở quán xét sự vận động của những cấu trúc vật chất bền vững tương đối trong thời gian. Và vấn đề là sự 
vận động của những cấu trúc vật chất bền vững tương đối trong thời gian ấy, có mang tính quy luật có thể tiên tri hay không. Chứ không phải nhằm xác định bản chất vốn bất định của vật chất. 
Một trong những minh chứng cho điều này chính là khái niệm “điểm” trong toán học đã phản ánh bản chất bất định của vật chất. Và chính từ khái niệm này và tính quy ước của nó mô tả cấu trúc vật chất bến vững tương đối trong thời gian của toàn bộ bộ môn toán học hiện đại. Trong Lý học Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm văn hiến – nó tương đương với một gạch trong Bát Quái.
Vậy vấn đề cần được tiếp tục khảo sát ở đây sẽ là: Sự nhận thức và tính quy ước của khái niệm nhận thức.
Trở lại khái niệm “điểm” trong toán học. Đó chính là một khái niệm trừu tượng và bất định. Nhưng chính nó đã tạo ra toàn bộ nền văn minh toán học hiện đại vì tính quy ước của nó.Và chính tính quy ước này tạo ra toàn bộ lịch sử của nền văn minh khi con người nhận thức của các cấu trúc vật chất bền vững tương đối trong thời gian
 và tính quy luật của nó.
Có thể nói rằng: Tất các tri thức khoa học hiện đại và của cả nền văn minh nhân loại lưu truyền trong lịch sử, đã hình thành trên cơ sở tính quy ước của những khái niệm phản ánh thực tại và không phải thực tại. Tất nhiên hệ quả hiển nhiên của nó là những lý thuyết khoa học đã được hình thành trên cơ sở của những khái niệm và tính quy ước. Những khái niệm càng khái quát, tính quy ước càng chính xác thì con người càng tiến gần đến chân lý. Sự nhận thức chân lý cuối cùng chính là lý thuyết thống nhất mà những nhà khoa học hàng đầu đang mơ ước.
Viết đến đây, tôi cảm hứng mà viết thêm rằng: Chính khái niệm Âm Dương trong tiếng Việt là khái niệm trừu tương phản ánh một cách chính xác nhất khái quát tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ.
Có lẽ tôi phải nói thêm một khái niệm quy ước nữa để làm sáng tỏ vấn đề.
Nếu như khái niệm “điểm” mang tính bất định cho chính nó, thuộc về nó và do nó. Nếu phân loại thì khái niệm điểm là một phần tử và nó có thể nằm trong bất cứ một tập hợp nào. Nhưng còn một khái niệm bất định nữa, vừa có thể coi là một phần tử trong một tập hợp nào đó tùy theo sự phân loại, vừa là một tập hợp bất định của những hiện tượng và sự kiện thuộc về nó. Đó là khái niệm “tôi”. “Tôi” cũng là một khái niệm quy ước mà hàng ngày chúng ta sử dụng. Về bản chất nó là một khái niệm bất định. Nó là tập hợp những phần tử gồm những hiện tượng, sự kiện thuộc về nó. Chẳng ai có thể chỉ ra cái ‘tôi” chính xác nó nằm ở đâu cả. Nó là tập hợp của những cái thuộc về cái “tôi”, mà người ta hay gọi là “của tôi”. Nhưng chính khái niệm “tôi” đầy bất định và mang tính quy ước ấy lại thể hiện cấu trúc vật chất bền vững tương đối trong thời gian của một kiếp người và tương tác theo tất cả những vần đề được xác định trong cuộc sống, xã hội với những quy luật, những định chế xã hội…vv….

Như vậy, chúng ta thấy rằng: Không chỉ tri thức toán học, mà cả chính con người chúng ta cũng bắt đầu xây dựng nền tảng tri thức bằng những khái niệm quy ước hoàn toàn bất định. Nhưng từ đó, trong lịch sử tiến hóa đã gây dựng nên toàn bộ văn minh nhân loại.
Chúng ta cũng thấy rằng: Chính những gía trị nền tảng của văn minh nhân loại được xây dựng từ những nhận thức những cấu trúc vật chất bền vững tương đối trong thời gian, thông qua những khái niệm và tính quy ước của nó. Hay nói theo một cách khác: Chính lịch sử phát triển của toán học đã bắt đầu xấy dựng từ một khái niệm có tính quy ước mang tính bất định – đó là khái niệm “Điểm” – để mô phỏng thế giới vật chất với cấu trúc bền vững tương đối trong thời gian bằng những ký hiệu Toán học của nó. Trong quá trình phát triển mô phỏng thế giới vật chất bền vững tương đối với thời gian – là đối tượng phản ảnh của toán học, đồng thời cũng là của cả văn minh nhân loại – thì chính nó đã nhận thấy tính bất định của vật chất và mô phỏng hiện tượng này bằng những công trình toán học.
Như vậy, sau khi xác định bản chất bất định của vật chất, cấu trúc vật chất bền vững tương đối trong thời gian, xác định bản chất của nhận thức và tính quy ước của khái niệm. Chúng ta cùng quán xét lý thuyết bất định/ hỗn độn để tìm xem mâu thuẫn này có từ đâu?
Vấn đề sẽ nằm ở đối tượng nhận thức và phương pháp tư duy.

Còn tiếp

Bài này đã được đăng trong Các Đề Tài Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.