II . THỰC TẠI KHÁCH QUAN – NHẬN THỨC VÀ TÍNH QUY ƯỚC.
Tiếp theo
Có một thời thuyết Di Truyền của Gregor Johann Mendel, một linh mục người Áo sống ở Sec. bị coi là phi khoa học và một số nhà khoa học cực đoan ở một số quốc gia lên án. Chuyện này đã chấm dứt cách đây không lâu. Chừng hơn 40 năm. Có thể cho đến bây giờ, một số nhà khoa học phản đối thuyết Di truyền vẫn còn sống. Sở dĩ có chuyện này vì học thuyết Tiến hóa của Darwin xác định vạn vật luôn biến đổi để tiến hóa. Nó được coi là khoa học và là quy luật tất định của tự nhiên . Còn nội dung thuyết Di truyền của Mendel thì đặt giả thuyết về khả năng tồn tại của một loại cấu trúc có trong mọi sinh vật để xác định tính ổn định trong việc truyền giống của muôn loài. Đến bây giờ thuyết Di Truyền được xác định là đúng và thuyết Tiến hóa cũng không sai. Cả hai đều phản ánh những thực tại khách quan và đều là sản phẩm của nhận thức. Nhưng tại sao nó lại có một thời mâu thuẫn đến mức nhiều nhà khoa học phải khốn khổ vì nó và nó được nhiều người tin vào tính phủ định lẫn nhau của một trong hai học thuyết này?
Cá nhân tôi thường xác đinh trong phương pháp tư duy của mình:
* Khi hai ý kiến, hoặc hai học thuyết mâu thuẫn thì chỉ có một cái đúng hoặc cả hai đều sai.
* Người ta không thể tìm ra cái đúng từ một cái sai.
Và trường hợp mâu thuẫn giữa hai học thuyết này là một bằng chứng nữa cho tiêu chí trong phương pháp tư duy của tôi, mà mới nhìn nó có vẻ mâu thuẫn: Cả hai đều đúng! ?
Nếu như tiêu chí cho phương pháp tư duy này của tôi sai thì tôi không đủ tư cách để viết tiếp dưới tiêu đề:
“Lý thuyết Bất định – một sai lầm của nhận thức và phương pháp tư duy”.
Tôi đặt tựa trước khi tôi viết bài, chứng tỏ tôi đủ tự tin. Nếu có thể chỉ sửa lại, thêm bớt vài từ cho dễ hiểu, chứ không thay đổi về nội dung.
Hai hiện tương này không mâu thuẫn về bản chất. Đấy là câu trả lời của tôi.
Bởi vì, những mảng thực tại khách quan nhận thức được và thể hiện bởi những lý thuyết đó chưa phản ánh hết toàn bộ thực tại mà những mảng đó có thể liên kết với nhau như một chỉnh thể thống nhất và không mâu thuẫn. Nên họ – những nhà khoa học một thời đó – đã nhìn thấy nó mâu thuẫn là do phương pháp tư duy. Đến bây giờ, người ta lại nhìn thấy một mâu thuẫn giữa tính tất định, tính quy luật và khả năng tiên tri với tính bất định được hình thành với tư cách là một lý thuyết khoa học. Sự so sánh một thời mâu thuẫn giữa thuyết Di truyền và thuyết Tiến hóa với sự mâu thuẫn giữa thuyết Tất định và thuyết Bất định hoàn toàn không hề khập khiễng bởi bản chất của vấn đề được đặt ra. Lịch sử đang lặp lại dưới một hình thức khác trong qúa trình tiến hóa của trí tuệ. Sự mâu thuẫn này mới chỉ giới hạn nội tại trong tri thức khoa học hiện đại có xuất xứ từ văn minh Tây phương. Nếu chúng ta so sánh giữa hai nền văn minh Đông phương và Tây phương thì nẩy sinh một mâu thuẫn lớn hơn mà người viết trình bầy sau đây. Đó chính là phương pháp tiên tri Đông phương – hệ quả của hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành và phương pháp luận của nó. Phương pháp tiên tri Đông phương có đầy đủ những yếu tố của một phương pháp khoa học. Những phương pháp tiên tri này dự báo cho tất cả mọi vấn đề liên quan đến thiên nhiên, xã hội, cuộc sống và mọi hành vi của con người. Từ – Bốc Dịch, Mai Hoa Dịch, Tử Vi, Thái Ất, Lạc Việt độn toán …..cho đến các bộ môn khoa học khác hệ quả của lý thuyết này là: Đông Y, Kiến trúc (Phong thủy) đều có khả năng tiên tri trong phạm vi của nó. Những phương pháp tiên tri này hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học. Dữ kiện đầu vào là thời gian – Ngày giờ tháng năm………. Tất yếu, khi dữ kiện đầu vào là thời gian thì dữ kiện tương ứng phải là không gian vũ trụ tương ứng với thời gian đó theo một quy luật tương tác được xác định có khả năng tiên tri. Nói tóm lại, những tiêu chí khoa học xác đính tính khoa học cho một lý thuyết, hoặc một phương pháp khoa học đã được thỏa mãn khi so sánh với các phương pháp tiên tri của nền Lý học Đông phương. Vấn đề còn lại là đi tìm một thực tại phản ánh cơ chế tương tác – có tính quy luật làm nên những nhận thức nền tảng của một hệ thống lý thuyết – là tiền đề của phương pháp tiên tri đó. Nếu so sánh phương pháp tiên tri của văn minh Đông phương tới từng hành vi của con người, chứng tỏ đã xác định những quy luật có thể tiên tri – thì – nền văn minh hiện đại có xuất xứ Tây phương còn đang tự mâu thuẫn trong nhận thức giữa tính Tất định và nguyên lý Bất định với những khả năng tiên tri hạn chế và cục bộ. Thí dụ về một phương pháp tiên tri của tri thức hiện đại:
Để xác định vị trí đỗ – trong tương lai, tức khả năng tiên tri – của con tàu vũ trụ từ trái Đất lên bề mặt sao Hỏa – người ta cũng cần có dự liệu đầu vào: Vị trí tương quan trái Đất và sao Hỏa vào thời điểm phóng con tàu, tốc độ con tàu, quỹ đạo vận đông tương quan của Địa cầu và sao Hỏa trong hành trình….trên cơ sở này, người ta sử dụng những công cụ tiên tri là những công thức, phương trình toán học để xác định vị trí con tàu đổ bộ lên sao Hỏa…..Kết quả nghiệm đúng trong tương lai: Sau vài tháng hành trình, con tàu đã lên được sao Hỏa. Phương pháp và công cụ tiên tri đúng và được coi là sự thẩm định khoa học bởi kết quả.
So sánh hai phương pháp tiên tri của hai nền văn minh thì chúng ta thấy rằng: Chúng hoàn toàn thỏa mãn những tiêu chí khoa học, nhưng phương pháp tiên tri Đông phương rõ ràng sâu sắc hơn vì nó phản ánh được khả năng tiên tri cho từng hành vi con người. Chỉ có điều là: Những phương pháp tiên tri của nền văn minh văn minh hiện đại có một nền tảng tri thức xã hội phổ biến làm tiền đề cho nó, nên nó được coi là hợp lý. Còn phương pháp tiên tri Đông phương đã thất truyền nền tảng tri thức của nó. Và có thể nói: Cả hệ thống lý thuyết là tiền đề cho các phương pahpo1 tiên tri Đông phương cũng thất truyền, nên con người thấy khó hiểu và khiến nó trở nên huyền bí. Từ sự huyền bí này, người ta có thể giải thích theo cách hiểu khác nhau với mọi góc nhìn theo kiểu”Thày bói xem voi”. Nhưng dù nhìn theo cách nào, nhân danh bất cứ cái gì – khoa học hay Thượng Đế – thì nền văn minh Đông phương không thể tự ý đặt ra những phương pháp tiên tri một cách tùy tiên với sức sống được chứng nghiệm trải hàng thiên niên kỷ. Chứng tỏ nó phải là hệ quả của một nhận thức thực tại và đã tổng hợp thành một lý thuyết còn hiện hữu trong những phương pháp luận của các phương pháp tiên tri và các bộ môn ứng dụng khác, như: Phong Thủy. Đông y….Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Một lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước.
Chân lý chỉ có một. vũ trụ vốn thường hằng và là đối tượng quán xét của con người trong quá trình tiến hóa của nhận thức. Do đó vấn đề còn lại chính là nhận thức của con người có phản ánh đúng thực tại khách quan hay không và giải thích nó như thế nào. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng nhận thức và phương pháp tư duy. Hệ quả cuối cùng của khả năng nhận thức và phương pháp tư duy sau đó chính là sự tổng hợp những nhận thức trở thành một hệ thống lý thuyết nhất quán phản ánh tự nhiên. Do đó, nếu lý thuyết nào có nội hàm tổng hợp nhận thức càng rộng – phản ánh từ khởi nguyên vũ trụ xuyên suốt lịch sử tiến hóa của vũ trụ, từ mọi sự vận đông của các thiên hà khổng lồ, đến các hạt vật chất nhỏ nhất với mọi hành vi của con người phù hợp với tiêu chí khoa học thì đó chính là lý thuyết thống nhất khoa học mà con người đang mơ ước.
Bởi vậy, sự mâu thuẫn giữa khả năng của hai nền văn minh và sự mâu thuẫn nội tại của nền văn minh hiện đại có xuất xứ từ văn minh Tây phương giữa tính Tất định và Bất định, chỉ có thể giải thích rằng: Đó chính là sự chưa hoàn chỉnh của khả năng nhận thức so với thực tại khách quan là đối tượng nhận thức của con người. Do đó, vấn đề mà tôi diễn đạt sau đây chính là “Thực tại và nhận thức” và xác định rằng: Bản chất của mọi sự tồn tại là bất định.
II.1. Thực tại và nhận thức
1/ Thực tại vốn bất định.
Vật chất luôn luôn vận động. Ai cũng thuộc lòng điều này khi qua Phổ thông trung học. Đó chính là tiền đề của sự bất định. Vật chất vận động như thế nào – thì – với các chuyên gia Vật Lý chắc không cần đến tôi phải diễn giải. Tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ”. Nhưng vì bài viết này có nhiều bạn tôi không phải chuyên gia vật lý cũng quan tâm, nên tôi muốn nói vắn tắt với họ. Sự vận động của vật chất không chỉ ở tương quan giữa các cấu hình vật chất so sánh với nhau, như: Mặt trăng quay quanh trái đất, trái đất quay quanh mặt trời….mà còn là sự vận động của các cấu trúc vật chất ngay nội tại của cấu hình đó. Từ đó suy ra đến các dạng cấu hình nhỏ nhất của vật chất cũng đang vận động ngay bên trong cấu hình của nó. dạng vận động sóng/ hat chính là một dạng vận đông của cấu hình vật chất nhỏ nhất mà tri thức nhân loại hiện đại nhận thức được. Nếu chúng ta dừng ở đây cũng đủ xác định rằng: Bản thể thực tại là bất định. Nếu chúng ta suy luận sâu hơn và vi mô hơn thì sóng cũng là một dạng cấu hình của vật chất có thể quan sát được – thì tính hợp lý tiếp theo chính là : bên trong cấu hình đó cũng có sự vận động của một dạng tồn tại của vật chất. Dù có gọi dạng tồn tại đó là “Hạt của Chúa” – thì – bên trong “Hạt của Chúa” đó cũng đang tiếp tục vận động dưới một dạng tồn tại khác.
Như vậy, bản chất của vật chất là Bất định – đó là thực tại. Đó chính là lý do để ngay từ đầu tôi xác định rằng: Lý thuyết bất định hoàn toàn khoa học và nó phản ánh đúng thực tại của tự nhiên.
Ngay từ thể bản nguyên vũ trụ theo quan niệm của Lý học Đông phương thì vốn đã là một thể “bất định” gọi là Thái cực – “Cực” là sự giới hạn. “Thái” là sự vượt qua sự giới hạn. Đó là một tính từ được dùng làm danh từ chỉ thể bản nguyên của vũ trụ – tương ứng cách giải thích về khởi nguyên vũ trụ của tri thức khoa học hiện đại với khái niệm vật chất cô đặc/ điểm kỳ dị trong cách giải thích khởi nguyên vũ trụ của thuyết Big bang.
Thái cực trong thuyết Âm Dương Ngũ hành mô tả trạng thái tuyết đối ở khởi nguyên vũ trụ. Không lớn/ không nhỏ; không dài/ không ngắn; không tối/ không sáng, không nhanh/ không chậm….Tóm lại Thái Cực là trạng thái không có cái để so sánh. Như vậy, với quan niệm này của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nền tảng của Lý học Đông phương về khởi nguyên vũ trụ thì bản chất của vũ trụ đã là “bất định” ngay từ trạng thái khởi nguyên của nó. Và đó cũng là bản chất của tự nhiên trong quá trình tiến hóa của nó. Đây chính là cơ sở nhận thức thực tại để hình thành nguyên lý bất định, hoặc phát triển cao hơn trở thành lý thuyết bất định/ hỗn độn. Nhưng lý thuyết này sẽ sai, nếu nó phủ định khả nhận thức và phương pháp tư duy trong quá trình tiến hóa của văn minh nhân loại đạt đến một sự nhận thức tổng hợp những quy luật vũ trụ. Sự tồn tại mặc dù rất mờ nhạt của một lý thuyết cổ xưa – thể hiện qua những phương pháp ứng dụng có khả năng tiên tri vượt trội trải hàng thiên niên kỷ, vượt qua mọi không gian văn hóa, lịch sử của xã hội loài người đến ngày hôm nay – đã xác định điều này. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhưng để xác định sự phủ đính tính tất định lý thuyết nhân danh một thực tại nhận thức của thuyết Bất định/ Hỗn độn thì lại là một sai lầm – Và để chứng minh điều này, tôi sẽ không dẫn chứng gì về sự tồn tại củ thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bởi vì, tạm thời nó mới được chú ý, chứ chưa được “khoa học” công nhận. Chúng ta trở lại khái niệm “Điểm” trong toán học.
Còn tiếp
2/ Thực tại – Nhận thức và khái niệm.

Users Today : 39
Users Yesterday : 23
Users Last 7 days : 242
Users Last 30 days : 719
Views Today : 47
Views Yesterday : 32
Views Last 7 days : 268
Views Last 30 days : 919
Views This Month : 136
Views This Year : 937
Total views : 20662
Who's Online : 0
Your IP Address : 216.73.216.217