Y PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG – Lời giới thiệu

Thiên Sứ

LỜI GIỚI THIỆU

Dân tộc Việt Nam với lòng tự hào về một truyền thống gần 5000 văn hiến. Truyền thống đó được ghi trong chính sử Việt (Tính từ 2879 trước CN, theo chính sử Việt) và trải hàng ngàn năm trong cộng đồng dân tộc cho đến tận gần đây. Có thể khẳng định rằng: Dân tộc Việt Nam là dân tộc duy nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại tôn vinh những giá trị văn hoá của mình với danh xưng văn hiến. Chính những tri kiến sâu sắc về một học thuyết vũ trụ quan thống nhất và hoàn chỉnh là thuyết Âm Dương Ngũ hành – đă phổ biến và ứng dụng đến từng chi tiết trong sinh hoạt của người Việt, đã tạo nên một bề dày văn hoá – nền tảng của những giá trị văn hoá siêu việt Đông phương – đủ sức chống lại mọi sự tàn phá của thời gian, cùng những thăng trầm của lịch sử.

Nhưng cho đến khoảng hơn một thập kỷ gần đây, có rất nhiều nhà khảo cứu cả trong lẫn ngoài nước – Gần như đồng loạt, nhân danh khoa học – đưa ra luận điểm mới về lịch sử văn hoá của dân tộc Việt. Họ cho rằng: 

“Cội nguồn của dân tộc Việt Nam – “Thời Hùng Vương chỉ là một nhà nước sơ khai; hình thành vào khoảng thế kỷ thứ VII tr. CN” và “thực chất chỉ là một liên minh gồm 15 bộ lạc”.

Bởi vậy, y phục của tổ tiên người Việt – theo lập luận của họ – chỉ là những người dân “Ở trần đóng khố“. Mặc dù luận điểm này nhân danh khoa học, nhưng thực ra lại không hề đưa ra được một tiêu chí khoa học nào để biện minh cho những lập luận gọi là “khoa học” đó. Hay nói một cách khác: Những lập luận của mới về cội nguồn văn hiến của dân tộc Việt chỉ chứng tỏ cái nhìn chủ quan với tính hợp lý rất giới hạn, hoàn toàn không có cơ sở khoa học, mặc dù nhân danh khoa học. Những luận điểm này rời rạc, chắp vá không có khả năng giải thích những hiện tượng liên quan đến nó. Điều đáng quan tâm là: Có nhiều giả thuyết khác nhau về xuất xứ và thực chất về thời Hùng Vương – cội nguồn các dân tộc Việt Nam . Mặc dù chúng đều nhân danh khoa học, nhưng những luận điểm ấy lại có những khác nhau rất căn bản về nội dung, lộn sộn và rất mâu thuẫn.

Người cho rằng:

“Thời Hùng Vương chỉ tồn tại khoảng 300 năm, với những người dân ở trần đóng khố”.

Kẻ phát biểu:

“Thời Hùng Vương Bắt đều từ thế kỷ thứ X trước CN và là một liên minh 15 bộ lạc. Cùng lắm là một nhà nước sơ khai”.

Người đưa ý kiến:

“Thời Hùng Vương có thể từ 1200 năm trước CN”.

Kẻ lại bảo:

“Thời Hùng Vương cũng phải 1.500 năm trước CN”.

Họ cũng tranh luận sôi nổi, phản biện, bác bỏ xôm tụ, cứ y như là những ý kiến khách quan đang được mổ xẻ. Tất nhiên, vì tính phi lý của nó, cho nên sự tranh luận của những cái gọi là luận điểm lịch sử mới xét lại cội nguồn lịch sử truyền thống của dân tộc Việt lại tự bác bỏ nhau và bởi tính rất mâu thuẫn trong nội dung của từng luận điểm. Tất cả các luận điểm phủ định giá trị lịch sử truyền thống đó, chỉ có thể có một cái đúng , hoặc tất cả đều sai. Chúng không bao giờ có thể bổ sung cho nhau vì tính mâu thuẫn giữa các luận điểm đó. Có một điều tất cả những nhà sáng tạo ra những luận điểm phủ nhận cội nguồn truyền thống văn hoá sử của dân tộc Việt ấy, lại quên mất một điều rằng: Dù họ là ai, học vị gì, tập thể hay cá nhân thì họ cũng không đủ tư cách để cho rằng: Những lập luận của họ là có “cơ sở khoa học“. Bởi vì, cái kiến thức của những người nhân danh khoa học đó, không phải là “cơ sở khoa học” để khẳng định tính khoa học của một giả thuyết khoa học. Cho dù kiến thức đó là của tất cả các viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Anh Quốc cũng sẽ rất ngớ ngẩn khi nói khơi khơi như vậy.

Do đó, cần phải có tiêu chí khoa học là cơ sở thẩm định tính khoa học của luận điêm về cội nguồn lịch sử và văn hoá của dân tộc Việt. Không thể có một giả thuyết nhân danh khoa học nào lại có thể phủ định những tiêu chí khoa học của nó. 

Trên cơ sở tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học, cho rằng:

Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng; nếu nó có khả năng giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có hệ thống, có tính quy luật, tính khách quan và có khả năng tiên tri“. 

Xuất phát và nhân danh tiêu chí khoa học nói trên, tôi xin được trình bày một luận điểm phản biện quan điểm lịch sử mới về mảng “Y phục dân tộc thời Hùng Vương“. 

Để bắt đầu vào nội dung của bài viết, quí vị hãy xem hình ảnh minh hoạ dưới đây về y phục của tổ tiên người Việt – vốn tự hào về cội nguồn văn hiến trải 5000 năm – được mô tả theo quan niệm lịch sử mới. Thật không khác gì y phục của những bộ tộc da đỏ mới cách đây vài trăm năm. 
 
Vua Hùng và các quan lang 
Lịch sử Việt Nam bằng tranh; tập III. Nxb Trẻ 1998.

Tất nhiên, không hề có cơ sở khoa học tối thiểu nào minh chứng cho hình thức y phục trong tranh trên mà họ gọi là của tổ tiên người Việt. Bởi vì, không hề có một luận cứ khoa học nào chứng minh cho hình ảnh trên là y phục thời Hùng Vương, mà chỉ là sự áp đặt của những người có quan điểm phủ nhận giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt. 

Bài tiểu luận mà tôi hân hạnh trình bày ở đây, là một sự tiếp tục chứng minh trên cơ sở khoa học – qua những tiêu chí khoa học – về nền văn hiến thực sự trải gần 5000 của dân tộc Việt. 

Trong những tiểu luận và sách đã xuất bản của mình, tôi đã chứng minh rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành – triết thuyết nền tảng của văn hoá Đông phương cổ – thuộc về nền văn minh Lạc Việt.

Không một triều đại nào của Trung Hoa coi học thuyết này là một học thuyết chính thống. Nhưng ngược lại, trong nền văn minh Lạc Việt, những nguyên lý căn bản của học thuyết này được ứng dụng đến từng hiện tượng trong cuôc sống và cả y phục dân tộc – là chủ đề chính của bài viết này. 

Trong đề tài này tôi hân hạnh được trình bày với quí vị quan tâm về y phục của người Việt cổ và sự ảnh hưởng tới những nền văn hoá cận Lạc Việt – trong đó có cả Trung Hoa – và y phục dân tộc hiện nay. Quí vị có thể coi luận đề này vừa là sự chứng minh tiếp tục của luận điểm Thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về người Lạc Việt, vừa là sự chứng minh cho y phục dân tộc và là sự phản bác các luận điểm lịch sử mới về nguồn gốc dân tộc Việt.

* * *

Y PHỤC DÂN TỘC VÀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC 

Y phục dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc đó. Nếu như không có một bản sắc văn hóa thì khó có thể coi đó là một dân tộc. Do đó, nếu như ở thời Hùng Vương – y phục phổ biến của ông cha ta chỉ “ở trần đóng khố” , như hầu hết những sử gia hiện nay đang quan niệm thì không thể coi đó là một bản sắc văn hóa. Vì vậy, khó có thể nói về một nền văn hiến bắt đầu từ thời Hùng Vương, mà chỉ có thể coi là một giai đoạn trong sự tiến hoá tự nhiên của lịch sử nhân loại. Bởi vì “lịch sử của một dân tộc chỉ được tính từ thời điểm lập quốc của dân tộc đó“. Cho nên, vấn đề y phục thời Hùng Vương đặc biệt quan trọng và là một trong những yếu tố cần, nhằm chứng tỏ nền văn hiến của Việt Nam, bắt đầu từ thời đại của các vua Hùng. 

Sự khẳng định bản sắc văn hóa qua y phục dân tộc, không phải chỉ đơn giản thể hiện nền văn minh mà còn là khảng định tính độc lập và văn hóa đặc trưng của dân tộc đó. Triều đại Mãn Thanh khi xâm chiếm Trung Hoa, một trong những việc làm đầu tiên của họ là buộc tất cả người Hán phải ăn mặc theo y phục dân tộc của họ. Lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận: Chúa Nguyễn – để tạo ra một bản sắc văn hóa riêng cho Đàng Trong – đă buộc dân chúng mặc y phục phỏng theo quần áo Trung Quốc. Đoạn sử văn sau đây được trích lại từ cuốn: “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” chứng tỏ điều này. 

Bởi vậy mà vào năm 1665, vua Lê Huyền Tông đă phải ra chiếu chỉ cấm phụ nữ không được mặc quần để bảo toàn quốc tục mặc váy cổ truyền. Trong khi đó đến cuối thế kỷ XVII, để tạo nên sự đối lập với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở trong Nam đă ra lệnh cho trai gái Đàng Trong “dùng quần áo Bắc quốc” (Trung Hoa) để tỏ sự biến đổi. 

Qua sự kiện xảy ra vào thế kỷ XVII đă chứng tỏ rằng: Y phục dân tộc hết sức quan trọng, bởi yếu tố khẳng định bản sắc văn hóa và tính độc lập của dân tộc. Sự kiện này cũng chứng tỏ ít nhất là 700 năm sau khi nước Việt hưng quốc, người Việt đă có y phục thể hiện tính văn hóa đặc thù. Tính văn hóa đặc thù này – thể hiện ở y phục dân tộc (tất nhiên không phải chỉ có ở y phục phụ nữ) – đã có từ bao giờ? Nếu như đàn ông ở thời Hùng Vương chỉ “ở trần đóng khố”theo quan niệm lịch sử mới thì người Việt thể hiện bản sắc văn hóa trên y phục nói riêng từ thời điểm nào trong lịch sử? 

Tôi khẳng định và có tính thách đố rằng: 

“Những người theo quan niệm lịch sử mới không đủ khả năng chứng minh “bản sắc đặc thù của y phục dân tộc Việt chỉ bắt đầu từ thời Hưng quốc – Đinh; Lê; Lý Trần…”.

Bởi vì, trên thực tế y phục thể hiện bản sắc dân tốc đã có từ trước đó:  Từ thời Hùng Vương – cội nguồn của nền văn hiến của người Việt.

Hay nói cách khác: Chân lý không thuộc về họ.

Nhưng với cách đặt vấn đề như trên thì tự nó mới chỉ đặt ra một giả thuyết trên cái chung nhất là:

Những con người ở một xã hội đã tạo ra một hệ tư tưởng vũ trụ quan hoàn chỉnh là thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự ứng dụng toàn diện trên hầu hết mọi vấn đề mà con người quan tâm, xã hội ấy có một tổ chức hoàn chỉnh với đầy đủ những hình thái ý thức của nó trong một nền văn hiến nhân bản. Đặc biệt xã hội đó đã chứng tỏ những hình thái ý thức trong quan hệ xã hội với những giá trị đạo lý, được thể hiện qua những nghi lễ mang biểu tượng đầy tính người như trong truyền thuyết Trầu Cau. Với một xã hội được giới thiệu như vậy mà không phải là Văn Lang, liệu chúng ta có thể cho rằng: Những con người trong xã hội đó sinh hoạt rất thô sơ “Tất cả đều ở trần, nam đóng khố, nữ mặc váy” hay không? Do đó, y phục chính thức và phổ biến trong xă hội Văn Lang, chắc chắn phải phù hợp với những cái mà xã hội đó đã có. Tức là phải có y phục đầy đủ trong sinh hoạt xã hội và ở tầng lớp lãnh đạo phải có những trang phục đủ để chứng tỏ sự trang trọng trong những nghi lễ quốc gia. Sự chứng minh y phục dân tộc cao cấp của dân tộc Việt, sẽ chứng tỏ tính khoa học thật sự theo tiêu chí khoa học của luận điểm chứng minh cho cội nguồn 5000 năm văn hiến của dân tộc Việt. Nó chứng tỏ tính hệ thống, nhất quán và hoàn chỉnh và khả năng giải thích hợp lý mọi vấn đề liên quan đến nó, một cách khách quan, có tính qui luật và khả năng tiên tri.

* * *

Y PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG

Để chứng minh cho nhận định trên, quí vị so sánh những bức vẽ minh hoạ, nhưng hình ảnh di vật khảo cổ và những luận cứ được trình bày sau đây.

Với hình trên nếu được minh hoạ cho truyền thuyết về “Sự tích Đầm Nhất Dạ”, chắc chắn cũng có thể minh họa cho sinh hoạt của Chử Đồng Tử khi chưa mồ côi cha trong câu chuyện từ thời Hùng Vương này. Nhưng thực ra nó được chép lại từ cuốn “Ký họa Việt Nam đầu thế kỷ 20”(Nxb Trẻ 1989 – Nguyễn Mạnh Hùng giới thiệu). Đây là công trình sưu tầm của một học giả người Pháp có tên là Henri Joseph Oger. 

Nói một cách khác, ngay ở thế kỷ 20 này người ta vẫn ở trần đóng khố, nhưng đó không phải là y phục phổ biến trong sinh hoạt xã hội ở thời gian này.

Hình lớn trong trên đây mà bạn đang xem là bức tranh dân gian nổi tiếng: “Đánh ghen”, thuộc dòng tranh dân gian của làng Đông Hồ. Đó là bức tranh giàu tính nhân bản, thể hiện ở hình người con chắp tay lạy cha mẹ. Hình ảnh hai người phụ nữ trong tranh tuy không thuộc thời Hùng Vương, nhưng bạn đọc có thể so sánh với bức tranh minh họa về y phục thời Hùng Vương ở góc trên bên trái, được in lại trong cuốn “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” (Nxb Trẻ 1996, tập 3). Chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên về sự tương tự của người phụ nữ trong hai tranh. Đương nhiên bức tranh minh họa trong cuốn “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” không phản ánh sự thật về y phục phổ biến trong sinh hoạt của thời Hùng Vương. Bởi vì nó không thể liên hệ được sự giống nhau trong khoảng cách gần 2000 năm theo quan điểm lịch sử mới về y phục thời Hùng Vương mà họ miêu tả với bức tranh dân gian Việt.

Bây giờ, chúng ta so sánh hình người trên cán dao bằng đồng và một y phục phổ biến của phụ nữ miền Bắc trong hình dưới đây:

 

Hình trên mà các bạn đang xem là một cụm hình, được ghép bởi hình chiếc cán dao bằng đồng từ thời Hùng Vương – có niên đại được xác định là 300 năm tr.CN, được tìm thấy ở Lãng Ngâm – Hà Bắc – trên có tạc người phụ nữ với y phục thời Hùng Vương và hình vẽ miêu tả y phục của một phụ nữ miền Bắc do người viết thể hiện, được ghép bên cạnh cụm hình này để quí vị tiện so sánh. Kiểu y phục của hình vẽ này tuy không còn phổ biến, nhưng bạn vẫn có thể gặp ở một bà già cao tuổi sống trong một vùng nông thôn xa thành thị nào đó ở miền Bắc Việt Nam, ngay trong năm 2007 này. Đó là thế hệ cuối cùng nằm trên võng ru con, bằng cách kể lại những câu chuyện cổ tích từ thời xa xưa và truyền thuyết về một nước Văn Lang – nơi cội nguồn của người Việt – trước khi nhường lại cho những phương tiện thông tin đại chúng và những người nghiên cứu thông thái nói lại về những câu chuyện của họ. 

Qua hình ảnh minh họa đã trình bày với bạn đọc ở trên, chúng ta không cần phải thông minh lắm và cũng chẳng cần phải học đến giáo sư tiến sĩ, cũng nhận ra sự trùng khớp hoàn toàn bởi những đường nét chính giữa y phục trên cán dao đồng và y phục của người phụ nữ Việt hiện đại còn mặc, tuy không còn phổ biến. Điều này chứng tỏ một cách sắc sảo rằng: Y phục của người phụ nữ miền Bắc còn mặc hiện nay chính là sự tiếp nối truyền thống y phục từ thời Hùng Vương thể hiện trên chiếc cán dao đồng. Đồng thời sự so sánh này cũng cho thấy:
Từ 2300 năm qua trở lại đây – về căn bản – hình thức y phục phổ biến trong dân gian không có sự thay đổi đáng kể.

Đặc biệt là thời gian sôi động và u tối nhất trong lịch sử Việt Nam, đó là 1000 năm bị đô hộ với âm mưu đồng hóa khốc liệt dưới thời Bắc thuộc. Do đó, hoàn toàn có cơ sở để cho rằng: 

Kể từ lúc xuất hiện chiếc cán dao bằng đồng – thể hiện y phục từ thời Hùng Vương 300 năm tr.CN – trở về trước, cũng không có thay đổi là bao nhiêu.

Như vậy, có thể khẳng định:

Dưới thời Hùng Vương, ông cha ta đã có những y phục tương tự như y phục phổ biến của người Việt trước thời Trịnh – Nguyễn phân tranh và tương tự như y phục dân tộc còn tồn tại ở các vùng thôn quê Việt Nam .

Qua đó chúng ta cũng nhận thức được rằng: Y phục của tầng lớp bình dân trong xã hội thời Hùng Vương đã mang tính văn hoá đặc thù của dân tộc Việt và xã hội này phải có một nền văn minh phát triển để chế tác ra những cấu trúc y phục cầu kỳ đó.

* * *

Y PHỤC TẦNG LỚP TRÊN TRONG THỜI HÙNG VƯƠNG

Tất nhiên, trong một xã hội văn minh thời cổ xưa, khi mà trang phục phổ biến của các tầng lớp bình dân đã hoàn chỉnh và đa dạng thì y phục của tầng lớp trên cũng phải phù hợp với đẳng cấp của nó vì sự trang trọng và việc thực hiện những nghi lễ quốc gia văn hiến.

Bây giờ, chúng ta tiếp tục so sánh những hình dưới đây để minh chứng y phục tầng lớp trên trong xã hội Văn Lang và tìm về cội nguồn y phục của người Lạc Việt.

Hình trên mà bạn đọc đang coi được chép lại từ bộ truyện tranh “Tam quốc diễn nghĩa” do chính các họa sĩ Trung Quốc thực hiện, Nxb Mũi Cà Mau in lại vào năm 1995, trọn bộ 30 tập. Đây là hình thứ 3795 trong tập 16. Hình người nổi bật trong tranh bên chính là Tôn Quyền (Thế kỷ II và III sau CN). Hình người phụ nữ ở giữa cụm tranh này chính là Tôn Phu Nhân, em gái Tôn Quyền, vợ Lưu Bị cũng được chép lại từ bộ truyện tranh trên. Bạn hãy so sánh y phục của tất cả những nhân vật Tam Quốc, thể hiện nền văn hoá Hán trong các tranh trên với hình người trên cán dao bằng đồng của thời Hùng Vương có trước đó 500 năm (Tư liệu trong sách “Thời đại Hùng Vương” Nxb Khoa học Xă hội Hà Nội 1995).

Bạn sẽ thấy một sự tương tự trong y phục. Chỉ có khác chăng là tay áo thụng của các nhân vật Tam Quốc và tay áo bó của hình người trên cán dao đồng, còn phần y phục gần như hoàn toàn giống nhau. Nếu như y phục của các bậc vương giả thời Tam Quốc không phải là bắt chước y phục thời Hùng Vương, thì chắc chắn y phục của cô gái ở trên cán dao đồng thời Hùng Vương không thể bắt chước các nhân vật Tam Quốc. Bởi vì, chiếc cán dao này có niên đại trước thời Tam Quốc ít nhất 500 năm. Vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở đây. 

Về y phục của tầng lớp trên trong xă hội Văn Lang, người viết xin được trình bày một đoạn trích dẫn trong kinh Thư. Kinh Thư là một trước tác từ trước đến nay vẫn được coi là sản phẩm của nền văn minh Trung Hoa, nhưng lại có rất nhiều dấu ấn chứng tỏ thuộc về nền văn minh Văn Lang. Dấu ấn đầu tiên của người Lạc Việt trong kinh Thư được chứng minh trong sách “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” (Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb Văn Hoá Thông Tin tái bản lần thứ 2 – 2002) chính là Hồng phạm cửu trù, bản hiến pháp đầu tiên của người Lạc Việt. Đoạn trích dẫn sau đây – liên quan đến y phục dân tộc thời Hùng Vương – được trích trong cuốn “Thượng Thư – sách ghi chép thời thượng cổ” (bản dịch Võ Ngọc Liên, Trần Kiết Hùng. Nxb Đồng Nai 1996, trang 156): 

Ba loại như mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú thì làm tinh kỳ, rồng chỉ y phục của vua, hổ chỉ y phục của đại thần theo sự phân biệt ba loại y phục khác nhau: cổn miện (của vua), tệ miện, tuyệt mịch. Tên của ba loại quần áo là dựa vào hình vẽ trên y phục mà gọi, như “cổn”thì có long cổn, cổn miện có chín bậc trong đó có long cổn đứng đầu. Tệ tức là chim trĩ, tệ triều có bảy loại trong đó có hổ đứng đầu. 

Qua đoạn văn trên, bạn đọc nhận thấy rằng “cổn miện” (tức là mũ của vua) có chín bậc. trong đó long cổn đứng đầu; “tệ miện tức là cái mũ có hình chim trĩ“. Về hình ảnh mũ có hình tượng rồng của vua và mũ có hình chim trĩ của các quan – oái oăm thay – lại được chứng tỏ trên trống đồng của nền văn minh Văn Lang.

Xin bạn đọc xem hình vẽ sau đây:

 

Bạn đọc dễ dàng nhận thấy, trên mũ của những hình người trên trống đồng này thể hiện chiếc đầu rồng và đầu chim phượng đã được cách điệu để chứng tỏ địa vị của người đó trùng hợp với văn bản của Kinh Thư (rất lớn, rất rõ nét, rất dễ nhìn và không cần phải giáo sư tiến sĩ với cộng đồng khoa học thế giới phân tích suy ngẫm với những công trình khoa học vĩ mô. Chỉ cần thông minh một chút cũng có thể nhận thấy). Nếu như hình vẽ trên trống đồng và những vấn đề y phục của vương triều nói trên trong kinh Thư chỉ là một lần trùng hợp duy nhất, thì có thể coi đó là một hiện tượng ngẫu nhiên. Nhưng vấn đề lại không phải đơn giản như vậy! Khi mà một thiên được coi là quan trọng nhất của kinh Thư: Thiên Hồng phạm, lại hoàn toàn mang nội dung của người Lạc Việt và một lần nữa cũng không chỉ dừng lại ở đấy. Người viết xin được đặt vấn đề để các bậc trí giả minh xét với đoạn trích dẫn sau đây (Việt Lý Tố Nguyên, Kim Định 1971): 

Trong mấy thiên đầu kinh Thư chữ “Viết” cũng đọc và viết là “Việt”. “Viết nhược kê cổ” cũng là“Việt nhược kê cổ”. Các nhà chú giải lâu đời nhất như Mã Dung và Khổng An Quốc cũng chỉ giải nghĩa rằng đó là câu nói giáo đầu (phát ngữ từ) nhưng không đưa ra lý do tại sao lại dùng câu đó, tại sao chữ viết với Việt lại dùng lẫn lộn… Vì thế mà có câu lập lờ mở đầu “Việt nhược kê cổ”. Cả Mã Dung lẫn Khổng An Quốc đều cho chữ “nhược” là thuận, chữ “kê” là khảo. Vì thế câu trên có nghĩa rằng: “Người Việt thuận theo ý vua xin kê cứu việc cổ xưa”. Nếu nói “Viết nhược kê cổ” thì ra câu văn thiếu chủ từ. Còn khi thay vào bằng chữ Việt thì có chủ từ là người Việt, nhưng phải cái phiền là ghi công người Việt vào đầu kinh Thư không tiện, nên cho rằng chữ “Việt” với “Viết” như nhau…” 

Qua phần trích dẫn của ông Kim Định, người viết không nghĩ rằng: “Việt nhược kê cổ” tức là “Người Việt thuận theo ý vua xin kê cứu việc cổ xưa” và “người Việt có công chép lại kinh Thư cho nền văn minh Trung Hoa ”. Từ những sự phân tích trên, hoàn toàn có cơ sở để đặt một dấu hỏi hoài nghi về nguồn gốc đích thực của kinh Thư: 

Phải chăng bộ sách nổi tiếng này có nguồn gốc từ nền văn minh Văn Lang? 

Và câu tên có thể hiểu là:

“Lược khảo những câu chuyện cổ của người Việt”. 

Như vậy, với những dấu chứng của văn minh Văn Lang trong kinh Thư; hoàn toàn không thể cho rằng: Y phục của các vị vua thời Nghiêu, Thuấn trùng hợp một cách ngẫu nhiên với những hình ảnh trên trống đồng. Hiện tượng này chỉ có thể nhận xét một cách hợp lý rằng: 

Y phục của vương triều được nhắc tới trong kinh Thư, chính là y phục của vương triều Văn Lang. Việc gán ghép cho vua Nghiêu, Thuấn chế tác ra y phục cũng giống như sự gán ghép những học thuật của văn minh Văn Lang cho các vị vua cổ đại Trung Hoa, khi những hình ảnh của y phục vương triều lại được thể hiện trên trống đồng Lạc Việt. Kinh Thư chính là cuốn “Lược khảo những câu chuyện cổ của người Việt” mà điều này đã ghi rõ ngay trên câu đầu của cuốn sách “Việt nhược kê cổ” và nội dung của nó hoàn toàn trùng khớp với hnhững di vật khảo cổ liên quan đến văn hoá Việt đã trình bày. 

Nếu theo quan niệm mới cho rằng: Thời Hùng Vương chỉ tồn tại khoảng vài trăm năm (thế kỷ thứ VII tr.CN) và địa bàn nước Văn Lang chỉ vỏn vẹn ở miền Bắc Việt Nam, thì sẽ không thể liên hệ và có sự minh chứng một cách chặt chẽ về sự liên quan giữa y phục trên trống đồng Lạc Việt với vương triều của vua Nghiêu (khoảng 2000 tr.CN theo bản văn chữ Hán) thể hiện trong kinh Thư, bởi một khoảng cách hàng vạn dặm về địa lý và hàng thiên niên kỷ về thời gian.

Trở lại vấn đề y phục, qua sự so sánh trên cho thấy: 

Sự có mặt của vua Nghiêu (2253 tr.CN) trong việc quy định y phục vương triều, gắn với hình ảnh trên trống đồng Lạc Việt (là một di vật khảo cổ), đã chứng tỏ một cách sắc sảo rằng: nền văn minh Văn Lang không những đã chế tác ra y phục phổ biến cho con người trong xã hội, mà ở tầng lớp trên đã có những y phục thể hiện sự trang trọng trong nghi lễ quốc gia và sự phân biệt ngôi thứ.

Điều này minh chứng bổ xung cho những vấn đề được đặt ra ở những phần trên và có sự liên hệ tiếp nối như sau: 

* Hình người trên trống đồng mà giáo sư Nguyễn Khắc Thuần – cho rằng: “Hình người đang múa” thực ra đây là hình ảnh thể hiện những người đứng đầu nhà nước Văn Lang đang thực hiện những nghi lễ quốc gia. Điều này được minh chứng qua hình ảnh đầu rồng và đầu chim phượng trên những chiếc mũ của các ngài đang đội. 

* Từ đó đặt vấn đề: Hình chữ nhật được cách điệu trên tay các ngài chính là những văn bản được đọc trong khi hành lễ. Tính văn bản được chứng tỏ bằng nếp gấp phía trên góc hình chữ nhật. Giả thuyết này bổ sung việc minh chứng cho sự tồn tại một hệ thống chữ viết của người Lạc Việt. 

Đó là loại chữ Khoa Đẩu (Chữ hình con nong nọc) mà cho đến cuối thời Lê – Trịnh loại chữ này vẫn lưu truyền trong vương tộc họ Trịnh. Và trong Cơ Mật Viện do Bằng Công Nguyễn Hữu Chỉnh chủ toạ. Các quan cũng đã bàn đến việc dùng chữ Khoa Đẩu trở lại làm chữ viết chính thức trong xã hội Việt. Ý kiến này bị Nguyễn Hữu Chỉnh bác bỏ. 

* Sự tồn tại hình ảnh những người đứng đầu nhà nước Văn Lang trên trống đồng là: Vua = đội mũ có hình đầu rồng; đại thần = đội mũ gắn hình chim phượng, đã khẳng định sự tồn tại một nhà nước có tổ chức chặt chẽ ở thời cổ đại, tương tự như các quốc gia cổ đại hùng mạnh khác vào thời bấy giờ. Chính những y phục đã tồn tại hàng thiên niên kỷ trước Công nguyên trong nền văn minh Văn Lang, đã trở thành căn nguyên cho bản sắc văn hóa thể hiện trong y phục truyền thống của người Việt Nam hiện nay. Những lập luận và hính ảnh minh họa về y phục thời Hùng Vương ở trên được bổ trợ bằng một phát hiện của ngành khảo cổ như sau: 

19.2.1.1 Trước hết, đó là tơ tằm. Cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang có từ rất sớm. Trong những di chỉ khảo cổ thuộc hậu kỳ đá mới cách đây khoảng 5000 năm (như di chỉ Bầu Tró), đã thấy có dấu vết của vải, có dọi xe chỉ bằng đất nung. Đến giai đoạn Đông Sơn (cách nay khoảng 3000 – 2500 năm), hình người trên trống đồng đều mặc áo, váy và đóng khố. Cấy lúa và trồng dâu, nông và tang – đó là hai công việc chủ yếu luôn gắn liền nhau của nền nông nghiệp Việt Nam. Người Hán từ xưa cũng luôn xem đó là hai đặc điểm tiêu biểu nhất của văn hóa phương Nam: đó chính là hai đặc điểm đầu tiên mà Từ Tùng Thạch kể đến trong cuốn Việt giang 178 lưu vực nhân dân (Kim Định 1971a: 108); trong chữ “Man” mà người Hán dùng để chỉ người phương Nam có chứa bộ trùng chỉ con tằm. 

(Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam – sách đã dẫn) 

Thiên Sứ

Xem tiếp: Y phục thời Hùng Vương (2)

Bài này đã được đăng trong Lý Học Đông Phương. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Có 1 bình luận về Y PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG – Lời giới thiệu

  1. Pingback: Y PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG (2) | Thiên Sứ Lạc Việt

Không cho phép ghi chú.