DI VẬT KHẢO CỔ VÀ NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH
Lịch sử có nhiều góc khuất, những bí ẩn và những khoảng trống  của những thời kỳ lịch sử. Phương pháp nghiên cứu lịch sử cổ điển nhất là tra cứu, đối chiếu và so sánh các bản văn cổ liên quan, còn sót lại liên quan đến thời kỳ lịch sử đó.
Nhưng cấn xác định rằng: Nếu những bản văn cổ đó rõ ràng và có thể tin cậy được, không có mâu thuẫn với các bản văn cổ khác liên quan, thì lịch sử ở giai đoạn liên quan đó, không còn gì là bí ẩn. Và ngay với phương pháp nghiên cứu thuộc loại cổ điển đó, người ta cũng phải  so sánh, đối chiếu những bản văn đó, đề có một nhận định về thời kỳ lịch sử  liên quan. Để từ đó đưa ra những lập luận, mang tính lý thuyết sơ khai về giai đoạn lịch sử đó. Hay nói rõ hơn: với phương pháp nghiên cứu lịch sử cổ điển, bằng cách so sánh, đối chiếu văn bản, thì kết luận cuối cùng cũng phải hình thành một hệ thống luận cứ, để chứng minh cho một luận điểm về một thời kỳ lich sử có tính lý thuyết, trên cơ sở tổng hợp những văn bản cổ và các di sản khảo cổ liên quan. Lý thuyết, và luận điểm lịch sử đó, mới chính là kệt luận cuối cùng của một công trình nghiên cứu lịch sử theo phương pháp này.
Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã đề xuất những di sản khảo cổ là một phương tiện khách quan và là điều kiện để minh chứng cho những giai đoạn lịch sử bị khuất lấp. Một trào lưu nhân danh khoa học trở thành phổ biến, là người ta căn cứ vào di vật khảo cổ với niện đại được thẩm định bằng các phương tiện khoa học – như cacbon phóng xạ C14 – để bảo chứng cho sự tồn tại của thời kỳ lịch sử bị khuất lấp, liên quan đến các di vật khảo cổ đó.
Có một thời, những nhà nghiên cứu lịch sử rất cực đoan, trong việc họ coi di vật khảo cổ là bằng chứng xác thực như một yếu tố cần và gần như duy nhất, để minh định cho lịch sử. Như vấn đề về sự sai lầm của thứ tư duy cực đoan này lại là: có hay không tìm được di vật khảo cổ liên quan. Trong trường hợp nghiên cứu lịch sử, khái niệm “không có di vật lịch sử, cũng đồng nghĩa với “chưa tìm thấy”.
Nhưng ngay cả khí tìm thấy những di vật lịch sử và được minh định bằng các phương tiện khoa học hiện đại, xác định liên quan đến thời kỳ lich sử là đối tượng nghiên cứu, thì nó vẫn cần phải có sự liên hệ hữu cơ với một hệ thống lý thuyết, với những luận cứ thuyết phục chứng minh cho thời kỳ lịch sử đó. Bởi vì tự thân di vật đó không nói lên điều gì, ngoài hiện tượng tương đồng bởi thời gian qua kiểm định cacbon phóng xạ – một phương pháp vẫn còn có những sai số.
Do đó, ngoài vấn đề “tìm thấy”, hay “không tìm thấy” di vật khảo cổ, của thời kỳ  lịch sử liên quan, cuối cùng thì vẫn cần một hệ thống luận cứ có tính thuyết phục, mang tính lý thuyết về sự minh định của một thời kỳ lịch sử. Mà trong đó, các bản văn cổ, di sản khảo cổ, chỉ là những thực tế khách quan hỗ trợ để hệ thống luận cứ, mô tả thời ký lịch sử đó thuyết phục hơn mà thôi.
Do đó, đối với tôi, di vật khảo cổ không phải là bằng chứng duy nhất và đủ để chứng minh cho một sự kiện lịch sử. Mà để xác định một sự kiện, hoặc một thời kỳ lịch sử, cần phải có một hệ thống lý thuyết với những luận cứ chặt chẽ, phù hợp với những chuẩn mực thẩm định chân lý qua những tiêu chí khoa học. Những văn bản lịch sử và di vật khảo cổ chỉ là những bằng chứng khách quan làm sáng tỏ thêm, hoặc mang tính phản biện cho hệ thống luận cứ khoa học liên quan đến nó. Hoặc sự xuất hiện những di vật khảo cổ, gợi ý cho một sự kiện, hoặc một thời kỳ lịch sử bị khuất lấp, để từ đó xuất hiện những giả thuyết về thời kỳ, hoặc sự kiện lịch sử liên quan đến nó, qua những hệ thống luận cứ thuyết phục.
Tất nhiên, những bản văn cổ, nhưng di vật khảo cổ liên quan, phải được tích hợp một cách hợp lý và phải là một thành tố liên kết một cách hữu cơ với hệ thống lý thuyết mô tả về thời kỳ lịch sử đó, phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng.
Trong bài này, những di vật khảo cổ đáng tin cậy, đã hỗ trợ cho hệ thống luận cứ của tôi, chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử. Nhưng ngay cả khi chưa có, hoặc hoàn toàn không có những di vật khảo cổ này, thì điều đó cũng không làm lu mờ được chân lý.
Chia sẻ với quý vị và các bạn.
Vào cuối năm 2019, TTNC Lý họcĐông phương, kết hợp với TT Minh Triết Việt đã tổ chức một cuộc Hội Thảo Khoa Học “Tìm về cội nguồn Việt Sử” tại Hanoi.  Trong buổi Hội Thảo Khoa học “Tìm về Cội nguồn Việt sử”, có đầy đủ những di vật khảo cổ làm sáng tỏ sự huey6n2 vĩ của thời đại Hùng Vương, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tửvà có thể nói: Hầu hết những đại biểu tham gia có tham luận, đều thống nhất cao về cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử.
Chính sử của các triều đại phong kiến Việt Nam đã xác định:
Nước Văn Lang lập quốc vào năm Nhâm Tuất thứ 8 vận VII Hội Ngọ. Phía Bắc giáp Động Đình Hồ, phía Nam giáp Hồ Tôn, phía Tây giáo Ba Thục và phía Đông giáp Đông Hải. Tương ứng với lịch Tây phương là năm 2879 Trc CN.
Đây là chính văn của chính sử, không phải là một truyền thuyết và huyền thoại.
Quý vị và các bạn có thể tìm hiểu diễn biến tóm lược của Hội Thảo khoa học “Tìm về cội nguồn Việt sử” được mô tả dưới đây:
Ông Nguyễn Khắc Mai – Giám đốc Trung Tâm Minh Triết Việt đọc lời khai mạc Hội Thảo khoa học “Tìm về cội nguồn sử Việt”

Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung Tân Nghiên Cứu Lý Học Đông phương phát biểu đề dẫn và mục đích của Hội Thảo.
Mở đầu cho cuộc Hội Thảo khoa học về Cội nguôn Việt sử, là chương trính tham quan của các Đại Biểu về các di sản khảo cổ bằng Đá ở Lương Chử phái nam sông Dương Tử, do một nhà sưu tầm đồ cổ nổi tiếng Hanoi, đống ý đem những cổ vật mà ông sưu tầm được, trưng bày ở đây.
Ảnh: Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh và nhà sưu tầm cổ vật Lão Gàn và nhà sưu tầm đồ cổ với các cổ vật đá của ông.
Ông có nhã ý mời mọi người ghé bảo tàng tư nhân của ông ở số 9A Đào Duy Anh.
Bạn hãy tưởng tượng một khối đá granit cứng dài 25 cm. được người Việt cổ khoan xuyên từ đầu này sang đầu kia tròn vành vạnh. Đủ hiểu kỹ thuật khoan khắc đá đạt đến đỉnh như thế nào.

 

 

 

Cốc ngọc đựng rượu tìm được ở Lương Chử, phía Nam sông Dương tử..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ấn triện “Long đồ quy thư”, có niên đại từ hơn 5000 năm trước.
Chưa cần biết ấn triện này của chức vụ nào. Nhưng sự hiện diện của nó trên thế gian này, đã xác định từ hơn 5000 năm trước, đã tồn tại một xã hội có tổ chức và quyền lực xã hội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mặt ấn triện Long Đồ quy thư.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuông đá.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vị đại biểu đâu tiên phát biểu tại Hội Thảo là nhà sưu tầm cổ vật trình bày về hành trình tìm cổ vật liên quan đến cội nguồn Việt sử ở Lương Chử. Ông nói rõ:
Ông đã sang tận Nhật Bản để nhờ các nhà khoa học Nhật thẩm đinh Cabon phong xạ về niên đại các cổ vật của ông. Và chính các nhà khoa học Nhật chứng nhận niên đại các cổ vật của ông có trên 5000 năm.

 

 

 

 

 

Thích di vật khảo cổ, đây có di vật khảo cổ. Nhưng với lão Gàn thì di vật khảo cổ và các bản văn cổ liên quan, chỉ là những hiện tượng khách quan minh họa cho một lý thuyết, hoặc giả thuyết khoa học mô tả sự kiện hoặc một thời kỳ lịch sử. Nhưng nó phải được tích hợp như một mắt xích hợp lý trong toàn bộ hệ thống lý thuyết đó. Nếu không, nó sẻ là một thành tố tự phản biện.
Lão Gàn thì không cần đến vật chứng trực quan này, vẫn xác định Việt sử gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam Dương tử, bởi một hệ thống luận cứ chặt chẽ, được thẩm định bằng những tiêu chí khoa học xác định một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Tất nhiện hệ thống luận cứ đó, cũng phải xuất phát từ sự tổng hợp tất cả các sự kiện và hiện tượng liên quan đến nó.

GS Trần Đại Sĩ.
Ông nói về những chứng tích của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở bờ Nam Dương Tử.

GS Trần Đại Sỹ tặng quà cụ Nguyễn Khắc Mai.

 

 

Ngài cựu Chủ Tích Quốc Hội Nguyễn Văn An, cũng quan tâm, nên đã có mặt trong cuộc gặp này. Bức ảnh kỷ niệm chụp chung với cụ Nguyễn Văn An.

TS Trần Thanh Bình bày tỏ quan điểm về cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử.

 

 

 

 

Tiến Sĩ Trần Thanh Bình phat biểu bổ sung tại chỗ, những luận cứ xác định cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến.

 

 

 

 

 

 

 

Nhà nghiên cứu cổ văn hóa sử Việt – từ Sài Gòn tham gia cuộc gặp mặt. Ông đưa những luận cứ chứng minh cội nguồn truyền thống sử Việt

 

 

 

Nhà báo độc lập, đau đáu về cội nguồn Việt sử. Anh phát biểu tại chỗ về những quan điểm của anh về cội nguồn Việt sử với những luận cứ xác đáng về lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thơi huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử.

 

 

 

Nhà nghiên cứu ngôn ngữ cổ Việt – bác Lãn Miên – trình bày về sự minh triết của ngôn ngữ Việt và xác định: Ngôn ngữ Việt mới chính là cội nguồn của ngôn ngữ Hán.

 

 

BẰNG CHỨNG ĐÂY –  Chữ Việt Nho trên hình chiếc ấn của người Việt cổ có từ 5000 năm trước. Xin xem lại hình này:
Nhưng chưa. Tôi còn một cuốn sách của chính Trung Quốc xuất bản, nói về nguồn gốc chữ Hán, để xác định nguồn gốc ấy thuộc về người Việt cổ.
Gs Phạm Công Thiện đã nhận thấy được sự huyền vĩ cao siêu của ngôn ngữ Việt. Nhưng ông lấy làm tiếc vì nhận ra điều này quá muộn, nên không có thời gian để chứng minh.
Theo tôi: Tiếng Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong lịch sử văn minh nhân loại. Cho nên nó không thể có “nguồn gốc” từ các ngôn ngữ của các dân tộc gần gũi. Mà nó từ văn minh Atlantis.
Nếu tôi có thời gian, tôi sẽ chứng minh tính cao cấp của ngôn ngữ Việt và nguồn gốc Atlantis của ngôn ngữ này.

rao đổi với TS Trần Thanh Bình.
Tham luận của các đại biểu đều hướng tới xác định cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến.

.
Cụ Nguyễn Khắc Mai kết thúc buổi gặp bàn về Cội nguồn Việt sử.
Lão chưa vừa ý với sự hoàn hảo của buổi gặp mặt này.
Nhưng, điều quan trọng đối với lão là tính sáng tỏ chân lý. Chặng đường chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến, đã đặt được một viên gạch đầu tiên sau 30 năm tính từ 1992, cho nền tảng của nó.
Nền văn minh nhân loại sẽ không thể bỏ qua được một hệ thống LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT mà chính họ đang mơ ước. Ngoại trừ những người có trách nhiệm cho cả thế giới này, không muốn tiếp tục phát triển.

Thưa quý vị và các bạn.
Nếu có ai đó chứng minh Urugoay có lịch sử 5000 năm và là một dân tộc rất văn minh, thì có lẽ bạn chỉ coi đó là một thông tin cập nhật và biết thế.
Nếu như một người ở Uruguay, cũng nhậnđược thông tin Việt sử 5000 năm và là một nền văn minh rực rỡ và dừng ở đó, thì có thể họ cũng chỉ coi đólà một thông tin cập nhật.
Nhưng điều khác biệt ở đây là: Nền văn hiến Việt có một món quà vô giá. Đó chính là một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại và chính là Lý Thuyết thống nhất vũ trụ mà những trí thức tinh hoa của nhân loại đang mơ ước.

TT Minh Triết Việt tặng lão Gàn một kỷ niệm.

Ẩn bớt
Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

CHUYỆN PHONG LONG – CHƯA ĐƯỢC “KHOA HỌC CÔNG NHẬN”.


Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết:
“Năng lượng khởi nguyên của vũ trụ còn nhỏ hơn nửa cái kẹo” (“Những con đường của ánh sáng”. Tập I).
Thiên Sứ Gàn viết:
“Năng lượng khởi nguyên của vũ trụ còn nhỏ đến mức cận “0” tuyệt đối” (Tìm về cội nguồn kinh Dịch. Nxb HD 2020).
Tiền đề:
Tất cả năng lượng của hạt nhân do con người tạo ra, chứa đựng một năng lượng khủng khiếp.
Hệ quả I tiền đề:
Nếu tất cả khối lượng vật chất của trái Đất này chuyển thành năng lượng, sẽ lớn hơn rất nhiều, gấp hàng tỷ lần tất cả năng lượng hạt nhân do con người tạo ra.
Hệ quả II tiền đề:
Nếu tất cả khối lượng vật chất của cả vũ trụ này chuyển thành năng lượng, sẽ lớn vượt ngoài trí tưởng tượng.
Nhưng tất cả năng lượng khổng lồ ấy, bắt đầu từ chỉ lớn bằng nửa cái kẹo – theo GS Trịnh Xuân Thuận, và còn nhỏ hơn rất rất nhiều – theo Thiên Sứ.
Vậy thì – xét về mặt lý thuyết – không cần phải dùng “nội công thâm hậu” để xóa sổ những thế lực chống lại cội nguồn Việt sử truyền thống, mà chỉ cần ‘hắt xì hơi” không đúng chỗ.
“Một con bướm vỗ cánh ở rừng Amazon, có thể là nguyên nhân của một cơn bão ở Thái Bình Dương”.
Đương nhiên, không phải bất cứ con bướm nào vỗ cánh ơ rừng Amazon cũng tạo ra một cơn bão ở Thái Bình Dương. Mà nó còn lệ thuộc vào Không gian/ Thời gian để có thể tạo một hiệu ứng cộng hưởng dẫn đến một cơn bão ở Thái Bình Dương. Cái này Đức Phật gọi là “Nhân duyên”. Để hiểu sâu về vấn đề này, cần biết các yếu tố tổng hợp qua sự tác động của “Trường Tương Tác”.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG VÀ VAIDOT TỦM.

MỤC ĐÍCH CUỐI CÙNG CỦA CẢ THẾ GIỚI NÀY, TRƯỚC ĐẠI DỊCH VAIDOT LÀ GÌ?
Câu này rất dễ trả lời: Tất nhiên là diệt “virus”!
Từ mục đích này, thì vấn đề là phương pháp để đạt mục đích.

Phương pháp đúng thì thành công, phương pháp sai: Chết.

I. ĐI TÌM MỘT PHƯƠNG PHÁP TỐI ƯU.
I.I/ DÃN CÁCH XÃ HỘI – MỘT CÔNG CỤ HỖ TRỢ HIỆU QUẢ CHỐNG DỊCH
– NHƯNG KHÔNG PHẢI PHƯƠNG TIỆN DIỆT VIRUS.
Hình như cái thế giới này người ta quên không phân lọai giữa công cụ hỗ trợ và biện pháp diêt virus. Bởi vậy, trong bài viết này, Thiên Sứ tôi phân loại thành “biện pháp hành chánh hỗ trợ” và “biện pháp diệt virus”.
Tất cả mọi biện pháp hành chánh như: Lệnh dãn cách xã hội, quy định các biện pháp lưu thông, cho phép những thành phần lưu thông, ngăn luồng, quy định về phân phối hàng hóa….Khắt khe như Phi Luật Tân, theo lệnh của Tổng Thống nước này: lôi thôi bắn liền; nhẹ nhàng như Mỹ: dân thích thì mang khẩu trang, không thì thôi. Dân Mỹ thi nhau biểu tình rầm rầm chống dãn cách xã hội, để thể hiện tinh thấn Tự Do và Dân Chủ theo Hiến Pháp Hoa Kỳ. Tổng Thống Hoa Kỳ Donald J. Trump khóc tiếng Hin du. Người cầm đầu biểu tình lăn ra chết vì vai dớt Tủm…Hoặc như Ấn Độ: Lễ hội đông như kiến. Chết vì vaidớt Tủm? Không sao. Đấy là cách lên cõi Phạm Thiên nhanh nhất…Tất cả đều chỉ là công cụ hành chánh và nó chỉ mang tính hỗ trợ. Bởi vì đây là một trận Đại Dịch cần có “biện pháp diệt virus” là mục đích chính. Nó không phải là vấn đề quản lý và tổ chức xã hội.
Và – giả thiết rằng: Với một biện pháp tối ưu và được thực hiện triệt để với một tình thần “Thượng tôn pháp luật” nghiêm túc nhất của dân chúng và nhà điều hành, thì vẫn chỉ tồn tại với tư cách là công cụ hỗ trợ để tránh lây lan, hoặc hạn chế lây lan loại virus nguy hiểm này. Nó không phải là biện pháp diệt virus, theo phương pháp phân loại của Thiên Sứ tôi.
Trên cơ sở phân tích và loại suy này, đã dẫn đến sự xác định rằng:
Tất cả các biện pháp hành chánh trên thế giới này, đều không phải biện pháp diệt virus. Cho dù nó tối ưu và đạt mức tuyệt đối. Ở đây chưa nói đến ở một số quốc gia, nó chưa tuyệt đối và chưa hoàn hảo. Tôi phân loại và xếp tất cả các biện pháp hành chánh ngăn chăn virus của tất cả các quốc gia trên thế giới vào tập hợp gọi là “biện pháp hành chánh hỗ trợ” ngăn chặn virus. Và tất nhiên nó không phải là “biện pháp diệt virus”. Hay nói cụ thể hơn: Nó không làm hết được Đại Dịch do Virus Tủm gây ra.
I.II/ PHÂN LOẠI CÔNG CỤ HÀNH CHÁNH.
Trong tập hợp “biện pháp hành chánh hỗ trợ”, là các giải pháp hành chánh, lại tiếp tục phân loại thành: công cụ hỗ trợ bao trùm mang tính tập hợp, như dãn cách xã hội là công cụ có tính tập hợp bao trùm, mang tính tổng quát. Và những biện pháp thực hiện như: Ngăn vùng cô lập, lập các chốt kiểm soát, duy trì chuỗi cung ứng hàng hóa…là những phần tử – những tập hợp con – trong một tập hợp tổng quát “biện pháp hành chánh hỗ trợ”.
Một “biện pháp hành chánh hỗ trợ” đúng theo các chuẩn mực khoa học, phải mang tính hợp lý, nhất quán, có tính hệ thống trong sự kiên kết mọi hiện tượng và các sự kiện với các vấn đề trong cuộc sống và xã hội. Tính hợp lý này phải bao trùm từ tập hợp tổng quát là “dãn cách xã hội”, đến các biện pháp thực hiện cụ thể (các phần tử cấu thành trong tập hợp này), như: phát triển kinh tế, hoặc chí ít duy trì hoạt động kinh tế, bảo đảm sinh hoạt, cuộc sống tối thiểu…Tất nhiên, để đúng theo chuẩn mực khoa học này, nó phải mang tính hợp lý với tất cả mọi vấn đề liên quan tới nó.
Để thẩm định một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, thì chuẩn mực của nó là tiêu chí khoa học được mô tả như sau:
“Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính nhất quán, tính hệ thống, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri”>
Triển khai rộng thì tiêu chí này không chỉ giới hạn cho việc thẩm định một lý thuyết khoa học. Mà nó có thể dùng để thẩm định tất cả mọi sản phẩm hệ quả nhận thức của tư duy con người. Từ những quyết sách quốc gia, cho đến những nhận xét về một hành vi của con người. Như vậy, để có một “biện pháp hành chánh hỗ trợ” chuẩn theo tiêu chí khoa học trên, nó phải hợp lý và cân đối không chỉ dừng lại ở ngăn virus lây lan, mà còn các vấn đề đời sống, kinh tế xã hội. Tức là thuộc phạm trù, mà tiêu chí khoa học trên đã nêu: “những vấn đề liên quan đến nó”.
Nhưng, như phần trên đã trình bày: “Tất cả các biện pháp hành chánh trên thế giới này, đều không phải biện pháp diệt virus. Cho dù nó tối ưu và đạt mức tuyệt đối”.
Bất lực trước Đại Dịch, hiện nay xuất hiện một xu hướng trên thế giới, là có nhiều chuyên gia xã hội, y khoa quốc tế… làm một thống kê cho rằng: Những người chết vì virus trong thời gian qua, chết ít hơn cả tai nạn giao thông, cảm cúm, ung thư…Và họ đề nghị chính phủ của họ, tập trung nguồn lực xã hội vào việc giải quyết các vấn đề trên và bãi bỏ giãn cách xã hội với quan điểm tổng quát, là “sống chung với virus Dịch”.
Với cái  nhìn của Thiên Sứ tôi thì đây là một sai lầm nghiêm trọng của tư duy và tầm nhìn cục bộ. Bởi vì: Họ mới chỉ thống kê số người chết trong cùng một thời gian – các sự kiện cục bộ về tương quan số người chết. Và hoàn toàn không quan tâm đến những nguyên nhân gây ra các vấn đề trên (Tư duy liên kết, tổng hợp), với khả năng khắc phục. Thí dụ – tôi luôn cô lập và loại suy, khi phân tích, nhận thức bản chất một đối tượng quan sát – và đặt trường hợp tối ưu khi quán xét vấn đề – cho nên, tôi giả thiết tối ưu cho luận cứ rất bi hài và ngu xuẩn này, là:
1/ Bệnh ung thư giết người gấp đôi virus Dịch – Hoặc họ thích thì cứ cho gấp 20 lần số người chết, cho nó thêm phần “thuyết phục” của quan điểm này (Tôi không quan tâm đến các tiểu tiết) –  trong cùng một thời gian trên thế giới, so với virus Dịch. Nhưng vấn đề liên hệ mang tính tổng hợp thì bệnh ung thư không mang tính lây lan. Sự xuất hiện của bệnh ung thư chỉ cho từng cá thể người bị bệnh đó và có nhiều yếu tố để xuất hiện bệnh này trong “một” con người. Từ vấn đề tâm lý cụ thể, môi trường sống, chế độ ăn uống sinh hoạt…Trong đó có cả yếu tố là Địa Lý phong thủy. Cụ thể: Cá nhân tôi chữa thành công hơn kém 20 ca Ung thử bằng Địa Lý phong thủy Lạc Việt. Kể cả một ca ung thư máu tận Hoa Kỳ và là một trong ba trường hợp đặc biệt khỏi ung thử máu, trong lịch sử ung thư máu quốc tế, được Hội Ung Thư Máu Hoa Kỳ xác nhận.
2/ Hoặc tôi cũng giả thiết rằng: Số người chết vì tai nạn giao thông gấp đôi số người chết vì virus hiện nay (Hoặc họ thích thì cứ cho gấp 20 lần). Nhưng nguyên nhân tai nạn giao thông lại phụ thuộc vào chính các biện pháp hành chính của từng quốc gia – tức luật giao thông và các quy định liên quan – và con người sử dụng phương tiện… Còn chúng ta không thể buộc virus Dịch tuân theo luật do con người đặt ra. Trong trường hợp này, không có sự phân loại giữa “biện pháp hành chánh hỗ trợ”và “biện pháp diệt virus”, như vấn đề được nêu trong bài viết này. Mà nó chỉ phụ thuộc vào duy nhất một vấn đề là các “biện pháp hành chánh” và giáo dục để hạn chế số người chết vì tai nạn giao thông.
3/ Còn cảm cúm? Vâng. Tôi cũng đặt một giả thiết để thỏa mãn luận cứ tư duy cục bộ này, là giả thiết số người chết gấp ba lần chết vì vai dớt Tủm (Hoặc họ thích thì cứ cho gấp 20 lần). Nhưng để khắc phục loại bệnh chết nhiều người này,qua lịch sử tồn tại hàng ngàn năm của con người, họ đã có kinh nghiệm khắc phục và chữa khỏi một cách nhanh chóng. Thời hiện đại thì đơn giản nhất là uống vài viên thuốc cảm. Nhưng với Đại Dịch hiện nay, phương pháp diệt virus, chưa có một loại thuốc nào hữu hiệu, khi nó lây lan và diễn biến bệnh rất nhanh, thì rõ ràng không thể sống chung với nó được.
Với cái nhìn của tôi, thì quan điểm này là một sự ngu xuẩn và dốt nát nhất, trong phương pháp chống Đại Dịch hiện nay. Cho dù ý kiến đó được đề xuất bới các chức danh Giáo sư, Tiến sĩ, Viện sĩ Viện Hàn lâm…Bởi vì, về thực chất – theo tôi – các chức danh đó, chỉ là những nhãn hiệu khác nhau của một bộ nhớ có sức chứa nhiều hay ít thông tin mà thôi. Giá trị của tư duy con người, chính là khả năng tổng hợp những dự liệu trong bộ nhớ và đưa ra một kết luận hoàn hảo. Trong hoàn cảnh hiện nay, một quyết định sai, sẽ đẩy cả một dân tộc, hoặc quốc gia đến sự hủy diệt. Bởi vì, đây là virus giết người nhiều nhất từ trước đến nay.
Với quan điểm này “bãi bỏ dãn cánh xã hội. Sống chung với virus Đại Dịch”, nó mới chỉ liên quan đến một trong hai tập hợp được phân loại. Cụ thể là, nó mới chỉ nằm trong tập hợp “biện pháp hành chánh”. Và là phần tử được tôi xác định là ngu xuẩn và dốt nát trong tập hợp này.
Do đó, vấn đề còn lại chúng ta xét đến biện pháp diệt Virus, là một tập hợp và là mục đích cuối cùng thực chất của con người trong Đại Dịch.
II. BIỆN PHÁP DIỆT VIRUS DỊCH.
Ngay đối với biện pháp diệt virus, cũng cần phân loại.
Tư duy phân loại thực chất là phương pháp tư duy nền tảng của tất cả các phương pháp tư duy xuất hiện trong quá trình tiến hóa của tư nhiên, từ đơn giải đến phức tạp. Trong giới hạn của các chuẩn mực tư duy khoa học thì cao cấp nhất là tư duy tổng hợp trừu tượng (Còn gọi là “Tư duy phức hợp”). Vượt ra ngoài giới hạn của tri thức khoa học hiện đại thì còn tư duy cảm ứng tâm linh. Trong tương lai gần, trí thức khoa học hiện đại sẽ tích hợp tư duy cảm ứng tâm linh vào hệ thống tri thức khoa học.
Trong biện pháp diệt virus Dịch hiện nay, tiếp tục phân loại làm hai dạng:
II. I. BIỆN PHÁP DIỆT VIRUS CỤC BỘ.
Tôi phân loại việc dùng thuốc các loại và phương tiện ở các bệnh viện với chuyên mộn của các thày thuốc, để chữa bệnh cho từng bệnh nhân – khỏi bệnh hoặc chết – vào tập hợp gọi là “Biện pháp diệt virus Dịch cục bộ”.
Trong tập hợp này, cũng phân loại thành “công cụ hỗ trợ” và “thuốc chữa bệnh với phương pháp chữa bệnh”. Số phận của bệnh nhân – tức “Biện pháp diệt virus Dịch cục bộ” – sẽ tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, để họ được chữa khỏi bệnh hay không?! Tức là phương pháp và phương tiện chữa bệnh với việc dùng thuốc gì cho từng bệnh nhân cụ thể.
Công cụ hỗ trợ là máy thở, Oxy…và phương pháp diệt virus là thuốc chữa bệnh, công khả năng của thày thuốc.
Và như phần trên đã trình bày, cho dù chúng ta có điều kiện tối ưu của một bệnh viện là thuốc chữa bệnh và công cụ hỗ trợ. Với bệnh nhân mắc virus cứ vào bệnh viện và bảo đảm khỏi. Chữa khỏi cứ nhanh như chữa cảm cúm với liệu pháp mà dân gian Việt gọi là “Cạo gió”; “Đánh gió”, hoặc như Tây Y chỉ uống vài viên thuốc cảm. Thì vẫn không phải là biện pháp diệt virus Đại Dịch này triệt để. Những người bị lây lan loại virus này, vẫn tiềm ẩn ngoài xã hội và chuẩn bị vào bệnh viện chữa tiếp. Đương nhiên đến một lúc nào đó, bệnh viện sẽ quá tải, do tính lây lan nhanh và diễn biến nhanh dẫn đến chết người của nó. Kể cả ở Hoa Kỳ, nếu chủ quan, thì các bệnh viện của chính Hoa Kỳ cũng sẽ quá tải. Ấn Độ là một siêu cường nữa làm thí dụ. Đây chính là kết quả của đề xuất ngu xuẩn “Sống chung với virus” nói trên.
Vâng. Thi dụ có ngay đây và ngay ngày hôm nay, khi tôi viết những câu trên cả tuần trước ngày này:

Trích:

[“Thứ ba, 31/08/2021 – 21:46
Dân trí
Bệnh nhân Covid-19 tăng cao, nhiều bệnh viện Mỹ cạn kiệt oxy.
Biến chủng Delta nguy hiểm đang lây lan nhanh và số ca Covid-19 và nhập viện liên tục tăng do nhiều người Mỹ vẫn chưa tiêm chủng đã khiến các bệnh viện ở miền Nam nước Mỹ cạn kiệt oxy.
Bệnh nhân Covid-19 tăng cao, nhiều bệnh viện Mỹ cạn kiệt oxy - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Các bác sĩ làm việc tại một khu vực điều trị bệnh nhân Covid-19 ở bang Florida, Mỹ hôm 23/8 (Ảnh: USA Today).

Một số bệnh viện ở các bang Florida, Nam Carolina, Texas và Louisiana đang phải vật lộn với tình trạng khan hiếm oxy. Nhiều nơi có nguy cơ phải sử dụng nguồn oxy cung cấp dự trữ hoặc có nguy cơ sắp hết oxy, CNN đưa tin.Khi số ca nhiễm và nhập viện liên tục tăng, nhu cầu cung cấp oxy ngày càng nhiều trong khi các bệnh viện không thể xoay xở kịp để đáp ứng nhu cầu đó, Donna Cross, Giám đốc cấp cao về cơ sở vật chất và xây dựng tại công ty y tế Premier cho biết”].
*

Đây là một luận cứ nữa bổ sung cho sự phản bác biện pháp bãi bỏ dãn cách xã hội, sống chung với virus, mà tôi xác định ở trên> Đến nước Mỹ cũng chết, nếu sai lầm.
Tập hợp thứ hai trong sự phân loại này, là phương pháp diệt virus mang tính tổng quát. Cụ thể hiện nay, phương pháp dùng vacxin nói chung trên toàn thế giới.
II. II. BIỆN PHÁP DIỆT VIRUS TỔNG QUÁT
Biện pháp được phân loại trong tập hợp này – trên thực tế hiện nay – là dùng vacsin. Có rất nhiều loại vacsin trên thế giới này. Đây là biện pháp diệt virus và mang tính tổng quát. Ngoài vacxin, nhiều quốc gia trên thế giới đã chế ra thuốc uống có hiệu quả. Theo thông tin chính thống mà tôi biết được là Nhật Bản và Isarael. Ngay ở Việt Nam, nhưng bác sỹ Tây Y sử dụng kết hợp nhiều loại thuốc sẵn có, cũng chữa khỏi covid cho bệnh nhân.
Những thành tựu đạt được khiến con người hy vọng cho tương lai cuộc sống của mình.
Nhưng một thực tế rất phũ phàng và không cần phải sử dụng đến tư duy cao cấp, cũng nhận thấy một cách trực quan, rằng: Tất cả các loại vac và thuốc trình bày ở trên – trong tập hợp “Biện pháp diệt virus tổng quát – Và nó cho thấy trên thực tế: Nó chưa đủ hoàn hảo để chống lại covid với những biến thể như ma quỷ của nó. Ngay cả những siêu cường trên thế giới cũng phải mệt mỏi vì việc chống đại dịch chưa hoàn hảo với các loại vac và thuốc nói trên. Rõ ràng nó chưa có tác dụng diệt tận gốc loại virus này. Những quốc gia đã dính dịch virus Dịch, cho đến nay vẫn tiếp tục loay hoay chống dịch, bởi những bùng phát từ những tàn dư còn lại và tái diễn, với những biến thể khủng hơn trước.
Trên cơ sở phân loại này, tôi chia sẻ những vấn đề đặt ra:
Những cá thể bệnh nhân chữa khỏi lưỡi hái Tử Thần của virus Dịch với các chủng loại biến thể – nằm trong tập hợp “Biện pháp diệt virus Dịch cục bộ” – chỉ có ý nghĩa cho từng người bị nhiễm với hy vọng sống khi vào bệnh viện. Nó không phải là một phương pháp tiêu diệt tận gốc loại virus này.

Ở đây, tôi đang đặt vào điều kiện tối ưu của những bệnh viện cực kỳ hiện đại với đầy đủ tiện nghi. Bệnh nhân đã vào chữa thì chắc chắn khỏi bệnh.  Trong tư duy nghiên cứu, gọi là phương pháp loại suy, cô lập đối tượng với khả năng tối ưu. Cho nên không bàn đến và không cần bàn đến những cơ sở chữa bệnh ở mức tối thiểu và những bệnh nhân không qua khỏi.
Và ngay trong điều kiện tối ưu này – thuốc, vacsin đầy đủ, bệnh viện tối ưu – nhưng rõ ràng nó vẫn không phải phương pháp hữu hiệu tiêu diệt virus Dịch. Vì nhưng người chưa vào viện, những đã nhiễm covid, vẫn có thể tiếp tục lây lan.
Như vậy, ngay cả trong điều kiện tối ưu, cũng không phải là một phương pháp tốt nhất và duy nhất để diệt virus. Vậy không lẽ con người bất lực trước con virus này chăng?
Cá nhân Thiên Sứ tôi cần xác định rõ:
Tôi ủng hộ – tức không phản đối – tất cả mọi thứ công cụ hỗ trợ, là các biện pháp dãn cách xã hội, đeo khẩu trang… và phương pháp chữa bệnh Tây Y, trong nước và trên toàn thế giới. Nếu bây giờ, Hội Đồng Y học của Liên Hiệp Quốc xác định rằng: “Ăn một cục đất sét sẽ khỏi vai dớt Tủm”. Tôi cũng vỗ tay luôn, mà không cần biết đến các luận cứ chuyên ngành trong các báo cáo khoa học, chứng minh rằng: “Nuốt thêm một cục đất sét, sẽ khói bệnh”. Bởi vì, nó là phần tử bổ sung trong “biện pháp diệt virus”, khi mà các biện pháp trước đó không hiệu quả.
Đây là phương pháp “tích hợp những phần tử đồng đẳng cùng tính chất trong một tập hợp” để quán xét đối tượng, trong phương pháp nghiên cứu của tôi. Phương pháp này chỉ là một phiên bản nâng cao của Tư duy phân loại. Vì bản chất của phân loại là đưa nó vào một tập hợp. Thí dụ:
Hàng ngày có thể bạn vận dùng từ “Con Gà”. Vâng! Con gà là một tập hợp đủ các thể loại gà khác nhau – là những phần tử trong “Tập hợp Gà”: Gà Tre, Gà Tây, Gà Ta, Gà Đồng; Gà Rừng, Gà công nghiệp, Gà Đồi (cái này nhậu tốt)…Tất cả những phần tử Gà này tuy có khác nhau về hình thức, nhưng cùng trong Tập Hợp Gà và là đối tượng nghiên cứu dưới nhiều góc độ. Kể cả góc độ dân ăn nhậu. Với dân ăn nhậu, chỉ cần một con gần giống con gà và có thể nhậu các món như gà, thì có thể phân loại vào tập hợp Gà và không cần thẩm định khoa học. Tương tự như vậy với đối tượng quán xét ở đây là “biện pháp diệt virus”. Do đó, khi bổ xung một phần tử có tác dụng tăng thêm khả năng diệt virus thì hoàn toàn chấp nhận được. Dù nó là cục đất sét.
Nhưng, vấn đề “Biện pháp diệt virus Dịch”, về mặt phương pháp mà tôi mô tả ở trên, thì hình như cái thế giới này, chỉ giới hạn những loại thuốc Tây, trong tập hợp các biện pháp diệt virus. Tức là nó xác định sự phủ nhận một cái vòng tròn giới hạn tri thức theo Định Lý Bất Toàn của Godel.
Trong khi, định lý Godel phát biểu rằng – đại ý:
“Tất cả những gì chúng ta nhận thức được là một tập hợp trong một vòng tròn, thì bao giờ cũng có một thực tại nằm bên ngoài vòng tròn đó. Và nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta”. Đó là nguyên nhân để tác giả cuốn sách minh họa ở bên Giáo sư Phạm Việt Hưng xác định rằng:
Không thể có Lý thuyết thống nhất.
Đến đây, tôi cần nói cho rõ: Định Lý Godel đúng trong quá trình tiến hóa của nhận thức thuộc Tập hợp được phân loại của tôi, gọi là: “chủ thể quan sát” (Tức là các nhà nghiên cứu khoa học/ Con người) và sai trong Tập hợp “Đối tượng quan sát” (Toàn thể lịch sử tồn tại, vận động và tương tác của vũ trụ). Sai lầm của GS Phạm Việt Hưng , là lấy cái đúng cục bộ để kết luận về cái Toàn thể.
Thực ra, Định lý Godel chỉ là một hình thức thể hiện khác của vế thứ nhất trong “Nghịch lý Toán học Cantor”.
Nghịch lý Toán học Cantor phát biểu rằng:
Vế thứ nhất:
“Tất cả mọi tập hợp, đều chỉ là phần tử trong một tập hợp lớn hơn bao trùm lên nó.
Vế này tương ứng với phát biểu của Định Lý Bất Toàn của Thiên tài Godel.
Vế thứ hai:
“Có một tập hợp lớn nhất, bao trùm lên tất cả mọi tập hợp và không có một tập hợp nào lớn hơn nó”.
Với nhận thức từ tư duy đơn giản, thì quả là “Vô lý đùng đùng”! Câu trước mâu thuẫn với câu sau. Bởi vậy, mới gọi là “Nghịch Lý Toán học Cantor”. Nên nó chưa được “khoa học công nhận”. Do đó, nếu không phải là người duy nhất, thì Thiên Sứ tôi là một trong số những người đầu tiên công nhận “Nghịch Lý Toán học Cantor”. Với tôi, không coi là “Nghịch Lý”, mà là một tất yếu của vũ trụ. Tôi đã chứng minh điều này trong cuốn sách của tôi : “Tìm về cội nguồn kinh Dịch” Nxb Hồng Đức 2020. Nhưng đây không phải chủ đề của bài viết này. Ở bài viết này, không có mục đích đi tìm cái “Tập hợp bao trùm lên mọi tập hợp, mà không một tập hợp nào lớn hơn nó”. Do đó, Thiên Sứ tôi chỉ hy vọng giới thiệu với quý vị và các bạn quan tâm, những thực tế nằm ngoài những phương pháp diệt virus hiện có, và đã chứng tỏ trên thực tế chứng nghiệm: Những phương pháp diệt virus hiện có, chưa phải là biện pháp tối ưu. Và  giới thiệu những thực tại có khả năng diệt virus, nằm ngoài cái vòng tròn của các biện pháp diệt virus hiện nay, theo Định Lý Godel.
Đến đây, tôi xin lưu ý các bạn là: Godel là một Thiên tài mà chính nhà bác học Albert Einstein cũng rất kính nể. Hay nói rõ hơn: Định Lý Godel đúng trong phạm vi giới hạn mô tả khả năng và phát triển nhận thức của con người. Tức mặc nhiên nó là chuẩn mực của khoa học. Do đó – căn cứ trên chuẩn mực này – những ai khăng khăng với cái biện pháp tổng hợp diệt virus Dịch hiên nay là duy nhất đúng, là đi ngược với chân lý. Họ đang bị bóp chết trong cái vòng tròn nhận thức của họ.
Đường link tham khảo liên quan đến các luận cứ ở trên, nhằm xác định về sự không hoàn hảo của các biện pháp diệt virus Dịch hiện nay.
Như vậy, tôi đã trình bày những vấn đề liên quan, để thấy rằng: Cần đi tìm biện pháp diệt virus một cách hiệu quả hơn, ngoài các biện pháp hiện nay. Tức là ra ngoài cái vòng tròn tập hợp tri thức hiện nay trong việc chống virus Đại dịch này.
III. VIRUS DỊCH VỚI GÓC NHÌN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG (LhDp).
Thưa quý vị và các bạn.
Tôi xin được cố gắng viết ngắn nhất, nhưng đủ ý về góc nhìn của LhDp với thế giới trong Đại Dịch hiện nay.
Trước hết, tôi đề nghị quý vị và các bạn đọc bài này, hãy bỏ thói quen nghĩ rằng: Lý học Đông phương, mà nền tảng là hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành, được thể hiện qua các ngành ứng dụng của nó là: Bói toán, Địa Lý Phong thủy; Đông y…là “Mê tín dị đoan”.
Nếu quý vị chưa thể công nhận, do chưa tìm hiểu gì về những nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương, rất mong quý vị hãy chấp nhận  TIỀN ĐỀ (Tiền: có dấu “Huyền”, chứ không phải “Tiên đề”), sau đây – Nhân danh nền văn hiến Việt với gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương, mà nền tảng là thuyết ADNh & Kinh Dịch:
1/ Thuyết Âm Dương Ngũ hành (ADNh) & Kinh Dịch là ba bộ phận cấu thành của một học thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh, mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ từ giây “O”, cho đến tương lai của vũ trụ với khả năng tiên tri.
2/ Vì là một hệ thống lý thuyết, nên nó tổng hợp tất cả những sự vận động và tương tác có tính quy luật của mọi dạng tồn tại của vật chất và mô tả dưới những khái niệm, thuật ngữ với những mô hình và hệ thống luận cứ của nó.
Đây chính là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT> Vì nó phù hợp với tất cả những tiêu chí khoa học, được đặt ra cho một Lý thuyết thống nhất cần phải có theo các tri thức tinh hoa của nền văn minh hiện nay.
Riêng tôi đề nghị thêm 2 tiêu chí còn khó hơn nhiều. Đó là hai tiêu chí sau:
1/ Một Lý thuyết thống nhất phải mô tả được diễn biến của vũ trụ sau giây “O” và trước “Trần thời gian”.
2/ Phải mô tả được một cách tổng quát toàn bộ diễn biến của lịch sử hình thành vũ trụ sau giây “O”, một cách hợp lý, có hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính quy luật, khách quan và khả năng tiên tri.
Trên thực tế, thuyết ADNh đã thất truyền và Kinh Dịch huyền bí trải hàng ngàn năm qua. Hai tiền để trên, nhân danh nền văn hiến Việt.
Thưa quý vị và các bạn.
Chấp nhận hai tiền đề này thì Đông y là hệ quả của thuyết ADNh & kinh Dịch và đã thất truyền về nguyên lý lý thuyết, nên phải dùng 2 tiền đề trên để tạm thay thế. Cuốn sách nổi tiếng về cơ sở lý luận của Đông Y là cuốn “Hoàng Đế Nội kinh Tố vấn”, vốn được coi là một kỳ thư trong nền văn minh Đông phương vì tính bí ẩn của nó. Trong cuốn sách này, hoàn toàn ứng dụng phương pháp luận của hệ thống lý thuyết ADNh.
Vậy thì về mặt lý thuyết – Đông y là hệ quả của một lý thuyết thống nhất cao cấp – thì nó phải có cơ sở thực tế và hệ thống phương pháp luận mô tả nó (Nhưng do thất truyền, nên khó hiểu). Hay nói một cách khác: Nền văn minh tạo ra cơ sở lý luận của Đông Y – hệ quả của thuyết ADNh – phải có cơ sở thực tế được trình bày dưới những khái niệm và thuật ngữ, hệ thống luận cứ của lý thuyết này. Do đó, mặc dù thất truyền, nên những luận cứ, danh từ, thuật ngữ mô tả có vẻ khó hiểu, nhưng thực tế ứng dụng trải hàng ngàn năm đã chứng tỏ một chân lý đứng phía sau các phương pháp chữa bệnh và hệ thống lý thuyết liên quan của Đông Y (Y học hiện đại với “vacxin” mới có khoảng 100 năm nay).
Có thể nói rằng: Đông y chính là sự sử dụng hoạt chất của thảo dược và các chất liệu phi thảo dược để chữa bệnh. Nhưng những hoạt chất đó được mô tả bằng thuật ngữ tổng hợp của một lý thuyết từ một nền văn minh đã thất truyền, nên khó hiểu mà thôi.
Một thí dụ sinh động đó là: Khi “quan Ôn bắt lính” (Tức Dịch bệnh xảy ra. Tên đầy đủ được gọi là “Ôn Dịch”. Nhưng các cụ gọi tắt là “Ôn”. Tiếng Bắc thường dùng mắng trẻ con phá: “Thằng Ôn con”. Tiếng Nam: “Thằng mắc Dịch”), các cụ nhà ta ngày xưa thường đốt cái chổi xể trước của nhà và phát biểu rằng: Chổi sể đốt để quét quan Ôn. Nhưng trong cuối những năm 60/ đầu 70 của thể kỷ trước, trong một tờ báo chuyên để là “Khoa Học Thường Thức”, xuất bản tại Hanoi, đã chứng minh trong chổi xể có một hoạt chất chống được “virut”. Như vậy, biện pháp chống dịch nói chung – tất cả các loại virus – của các cụ, rất có “cơ sở khoa học”. Có điều các bậc Túc Nho, không thể giảng giải về nguyên lý lý thuyết của thuyết ADNh, cho tất cả mọi người với nền tảng tri thức của hàng ngàn năm trước. Cho nên giải thích một cách dễ hiểu mang tính phổ thông là: “Quan Ôn bắt lính”. Khái niệm “Quan Ôn bắt lính”, thực chất chỉ là một phần tử trong công cụ hỗ trợ nằm trong tập hợp “Biện pháp hành chính”, để người dân từ hàng ngàn năm trước, tin tưởng mà tuân theo mà thôi. Từ hàng ngàn năm trước, ngay quan Đại Thần Đại Học sĩ Khổng An Quốc – đời Tây Hán – còn xác nhận con Long Mã hiện trên sông Hoàng Hà mang Hà Đồ, con Thần Quy hiện trên sông Lạc Thủy mang Lạc Thư. Khiến cho đến hơn 2000 năm sau, các học giả tinh hoa của dân Tàu, vẫn không hiểu bản chất Hà Đồ Lạc Thư là gì?! Vậy thì, trong khi ngay bây giờ, nếu ai đó chứng minh tính chất của các hoạt chất trong cái chổi xể, để khuyến cáo mọi người diệt Dịch bằng phương pháp này – Tức nói về chuyên môn sâu – cũng chỉ được ủng hộ vì tin tưởng ở các nhà khoa học mà thôi, người ngoài chuyên môn cũng sẽ không hiểu gì cả. Huống chi hàng ngàn năm trước. Bởi vậy, cụm từ “Quan Ôn bắt linh”, tôi phân loại vào “Công cụ hỗ trợ” thuộc “Biện pháp hành chánh”.
Không ai có chuyên môn sâu về tất cả các mảng tri thức, các chuyên ngành trên thế gian này. Bởi vậy, để tiếp cận chân lý, cần có phương pháp tư duy với các chuẩn mực là tiêu chí khoa học, để xác định chân lý. Một thí dụ cụ thể là:
Tôi không phải là một nhà Vật Lý Lý thuyết chuyên ngành. Nhưng chỉ đọc qua những phần cốt lõi của Lý Thuyết Higg. Tôi xác định ngay, bằng phương pháp tư duy của tôi, rằng: Lý thuyết Higg sai. Tôi đã công khai công bố điều này trên dd lyhocdongphuong.org.vn từ năm 2008. Khi mà chính cỗ máy LHC, để làm một thực nghiệm cho lý thuyết này, còn chưa hoàn chỉnh. Đến năm 2016. Các nhà khoa học tinh hoa xác định: Không có Hạt của Chúa.
Trong bài viết này, là phương pháp phân loại đối tượng và so sánh, đối chiếu, tổng hợp. Trên cơ sở này, tôi phân loại con vai dớt Tủm này như sau:
III. I. PHÂN LOẠI VAI DỚT TỦM THEO THUYẾT ADNH.
Nhân danh nền văn hiến Việt – Thuyết ADNh & Kinh Dịch, phân loại tất cả các sự kiện, hiện tượng, kể cả không gian, thời gian trong lịch sử vũ trụ theo thuyết ADNh & Kinh Dịch. Đây chính là tư duy nền tảng của tất cả mọi phương pháp tư duy trong quá trình tiến hóa của nhân loại, mà tôi đã trình bày ở trên, và nó thể hiện trong cấu trúc nội hàm của học thuyết này.
Trong phương pháp phân loại này, mỗi phần tử nằm trong tập hợp của một hành, thì tập hợp của hành đó, lại nằm trong một hành khác bao trùm lên nó. Thí dụ:
Loài cá nói chung thuộc Hành Thủy. Nhưng trong từng loài cá nói riêng, có con màu vàng thuộc Thổ, con màu xanh lá cây thuộc Mộc…
Đây chính là vế thứ I của “Nghịch lý Toán học Cantor” và là nội dung của Định Lý Bất Toàn Godel, được ứng dụng trong cấu trúc nội hàm của học thuyết ADNh &Kinh Dịch.
Xin được lưu ý:
“Nghịch lý Toán học Cantor” chưa được “khoa học công nhận”. Vì công nhận nghịch lý này, thì phải chứng minh được vế thứ II. Hay nói rõ hơn: Xác định được một Lý thuyết Thống Nhất. Nhưng khái niệm về Lý Thuyết thống nhất, mới chỉ là một giả thuyết có thể của nền văn minh hiện nay. Nhưng nền văn minh cổ xưa đã ứng dụng trong nội hàm của thuyết ADNh &Kinh Dịch.
Trên cơ sở này, Thiên Sứ tôi, xét hình dáng tất cả những con virus hình tròn đều thuộc Kim. Và như phần trên đã trình bày. Trong Tập hợp hành Kim, lại được tiếp tục phân loại thành các phần tử thuộc Ngũ hành. Và con virus Dịch này, Thiên Sứ tôi phân loại thuộc Hỏa trong Kim. Bởi vì nó có Gai trên thân hình của nó. Gai nói chung thuộc hành Hỏa.
Xin xem hình dưới đây:
Xin lỗi bạn đọc, hoặc do sự thiếu hiểu biết về thao tác trên mạng. Tôi ko đưa được những hình khác. Bị từ chối. Nên dành đưa hình này lên để minh họa có tính hình tượng.

Tôi nghĩ rằng: Tất cả những ai, có kiến thức tối thiểu theo kiểu tình cờ đọc một cuốn sách về cơ thể người của ngành Đông Y, thì đều biết rằng: Phế/ Phổi thuộc Kim. Do đó, với nguyên lý “Đồng khí tương cầu” thì con virus thuộc Kim này tiến vào Phổi / Phế của bệnh nhân. Nhưng nó lại thuộc Hỏa trong Kim và môi trường tạo điều kiện cho nó phát triển theo Lý học là do Âm Khí tà gây nên, cho nên khắc Phế/ Phổi thuộc Kim.
Đây là luận cứ thứ nhất, phân tích trên cơ sở LhDp.
Nhưng, như GS Trịnh Xuân Thuận viết:
“Để giải thích một hiện tượng dù rất nhỏ, chúng ta phải viện dẫn đến toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ”.
Thiên Sứ tôi không có tham vọng này. Nên cố gắng vắn tắt. Một luận cứ thứ hai mang tính tập hợp lớn hơn, là:
III. II/ SỰ HÌNH THÀNH VIRUS, VI TRÙNG VÀ CÁC CÔN TRÙNG GÂY HẠI THEO LHDP.
Trong thuyết ADNh thì cặp phạm trù AD mô tả mọi trạng thái phân biệt và có nguyên lý phân biệt. Khái niệm Âm không hoàn toàn có nghĩa xấu, tương tự như vậy với khái niệm Dương. Thuyết ADNh cho rằng: Tất cả các loại vi trùng, vi rus và các loại côn trùng gây hại đều do Âm Khí xấu là nguyên nhân sâu xa tác động đến môi trường, khiến cho các loại sinh vật này phát triển gây ra.
Bởi vậy, nguyên lý chống các loại sinh vật có hại này trong thuyết ADNh & Kinh Dịch, là: dùng các hoạt chất mang Dương khí mạnh để khử Âm khí xấu, vốn là nguyên nhân tương tác tạo điều kiện cho chúng phát triển.
III. III. ÂM KHÍ TÀ LÀ GÌ?
Như phần trên tôi đã trình bày: Nếu những tri thức khoa học tinh hoa, thuyết trình trong một Hội thảo khoa học, hoặc công bố một công trình khoa học mang tính chuyên môn sâu, thì những người “ngoại đạo”, tham dự sẽ không hiểu gì cả. Nhưng họ vẫn tin vào uy tín và trách nhiệm của một tri thức khoa học mà ủng hộ thôi.
Tuy nhiên, vẫn có những phương pháp khác để tiếp cận chân lý ngoài chuyên môn. Như tôi đã xác định: Lý thuyết Higg sai.  Trong khi tôi chẳng có kiến thức chuyên sâu về các lý thuyết Hạt cả, ngoài kiến thức phổ thông về lý thuyết này theo kiểu A/B/ C, qua những cuốn sách mô tả một cách tóm lược với tri thức phổ thông về các lý thuyết này. Vấn đề là ở phương pháp tư duy.
Trên cơ sở luận cứ này, tôi cũng không thể trình bày để các bạn quan tâm hiểu về một vấn đề bí ẩn của nền văn minh Đông phương, mà trải hàng Thiên Niên kỷ, vẫn sừng sững thách đố trí tuệ của lịch sử văn minh nhân loại. Nhưng tôi có thể mô tả qua các hiện tượng gần gũi liên quan, như sau:
1/ Tất cả các nền văn minh Cổ Đại đếu xác định về sự vận động của các sao trên bầu trời, ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, qua phương pháp gọi là Chiêm tinh học. Và các phương pháp đó đều có khả năng tiên tri, đến từng hành vi và mọi sự kiện trong cuộc sống của con người. Tất cả các phương pháp này – dù ở các nền văn minh khác nhau – đều có hiệu quả và đó chính là nguyên nhân để nó tồn tại đến nay trải hàng Thiên niên Kỷ.
2/ Đương nhiên, sự vận động tương tác của các vì sao ảnh hướng đến từng hành vi của con người, tất yếu ảnh hưởng tới tất cả mọi hiện tượng trên Địa Cầu.
3/ Nền văn minh hiện đại chưa biết cơ chế tương tác nào để với các vị trí khác nhau của các vì sao trên bầu trời có thể ảnh hưởng đến Địa cầu và con người. Nhưng rõ ràng với cấu trúc khác nhau trong quá trình vận động của các vì sao thì nó phải có tương tác khác nhau.
Nền văn minh Đông phương – nhân danh nền văn hiến Việt – xác định đó là do cấu trúc vận động của vũ trụ khác nhau thì sẽ tạo ra khí chất khác nhau. Và sự thay đối khí chất của vũ trụ do sự vận động của chính nó, sẽ ảnh hưởng đến Địa Cầu. Trong Lý học Đông phương, nhân danh nền văn hiến Việt, thì Khí chính là Trường Tương tác trong toàn thể lịch sử hình thành vũ trụ. Nhưng cơ chế tương tác của Khí như thế nào, thì nó lại là kiến thức chuyên môn sâu.
Trên cơ sở này, thì năm ngoái và năm nay, theo Chiêm tinh Lạc Việt, gọi là Huyền Không Lạc Việt thì chúng ta chỉ còn cách chờ có sự thay đổi về Khí chất của trường tương tác trong vũ trụ để hết dịch…từ nguồn gốc ở vũ trụ. Tương lai xa xôi hơn là luôn năm 2022, tương tác mạnh theo chiều hướng xấu cho cuộc sống của con người vẫn đang có khả năng xảy ra.
Nhưng, như ngài SW Hawking đã xác định:
“Nếu chúng ta tìm được một lý thuyết thống nhất, thì chính những quy luật của vũ trụ sẽ giúp điều hành cuộc sống của chúng ta”.
Xa xôi hơn nữa, ngài Lenin cũng đã nói – Đại ý:
“Nếu con người tìm ra những quy luật tự nhiên, thì sẽ ứng dụng những quy luật đó để phục vụ cuộc sống của mình”.
Nhưng từ hàng trăm năm trước, Đại Thi hào Nguyễn Du đã viết:
“Có Trời mà cũng có ta.
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
Nội dung câu của cụ Nguyễn Du từ một góc nhìn khác, có thể hiểu rằng: Những quy luật của vũ trụ tương tác với con người, thì chính con người cũng sẽ tương tác trở lại, nếu có đủ khả năng nhận biết những quy luật của vũ trụ.
Bởi vậy, khi đã phân loại virus, xác định hành khí của nó, thì dùng các biện pháp đồng đẳng để tiêu diệt. .
IV. PHƯƠNG PHÁP TỔNG QUÁT & CỤC BỘ CHỐNG DỊCH CỦA ĐÔNG Y.
IV.I/ PHƯƠNG PHÁP TỔNG QUÁT.
Phương pháp này tương ứng với dùng vacsin của Tây Y. Tức dùng vôi, muối, xông nhà bằng các loại thảo dược, hoặc có thể thay thể bằng rượu và tinh dầu…
Trong đó LHDP xác định:
1/ Vôi là Dương trong Âm. Hoạt chất trong vôi mang Dương tính rất cao. Ấm, nóng. Nên có tác dụng khử Âm khí xấu rất mạnh. Ăn trầu – có vôi – là một biện pháp phòng bệnh, hữu hiệu của cổ nhân. Và không phải ngẫu nhiên, vào ngày dựng Nêu trong Tết cổ truyền, cổ nhân thường khuyên dùng vôi vẽ một cái cung và tên chĩa ra cửa. Đây là biện pháp phòng bệnh, nhằm khử Âm Khí xấu thâm nhập vào ngôi gia trong năm. Bây giờ có thể thay thế bằng một cái bình vôi đặt ở phòng khách. Trong trường hợp cụ thể này, có thể dùng vôi quét tất cả các vỉa hẻ nơi bị cách ly vì những người bị lây nhiễm.
2/ Xông nhà bằng thảo dược. Có thể nói: Nhà nào cũng có tích tụ Âm khí xấu/ Môi trường tạo điều kiện gây dịch bệnh. Vấn đề chỉ là ít hay nhiều mà thôi. Kể cả những ngôi gia được thiết kế chuẩn theo Địa Lý phong thủy. Do đó, cần phải xông nhà để khử Âm khí xấu. Trong điều kiện hiện nay thì nên bổ sung thêm rửa nhà bằng nước có pha rượu với tinh dầu thảo dược là Bạc hà, quế – là những thảo dược có dương tính mạnh. Và cần xông nhà bằng bồ kết, cây chổi xể, cây sả… Trung bình diện tích từ 80> 100 mét vuông dùng 1 lít rượu và khoảng 50 > 100 cc tinh dầu.
Nhà tôi trước đây 1 tháng rửa nhà 1 lần, nay chỉ 1 tuần một lần, kết hợp với xông bồ kết, hoặc trầm. Có thể thay thế bằng xả, bồ kết, hương nhu…
Phương pháp Y học hiện đại là dùng phun thuốc diệt khuẩn. Có ý kiến của những chuyên gia quốc tế cho rằng: Thuốc diệt khuẩn không có tác dụng diệt vi rus Đại Dịch. Nhiều nước đã bỏ phương pháp này. Sai! Cần phục hồi lại ngay phương pháp diệt khuển này.
IV.II/ PHƯƠNG PHÁP CỤ THỂ CHO TỪNG BỆNH NHÂN.
Phương pháp này tương ứng với điều trị bệnh nhân trong bệnh viện.
1/ Rượu tỏi. gừng.
Trong Đông Y các thày Lang đều xác định đây là ba loại mang Dương tính mạnh. Riêng tỏi thì có thể nói hầu hết các nền văn minh cổ xưa đều dùng để trị bệnh và tăng cướng sức khỏe, sinh lực. Bài thuốc rượu cao độ ngâm tỏi đặc đã được các thiền sư Tây Tạng dùng từ nhiều ngàn năm trước.
Dùng 1 kg tỏi, bỏ vỏ phơi nắng chứng 15 đến 30 phút, một lạng gừng rửa sạch. Tất cả cho vào máy xay sinh tố đổ rượu ngập vừa phải, xay nhuyễn. Đổ vào chai ngâm ít nhất 24 giờ. Hàng ngày xông mũi họng với vài giọt dầu nước xanh. Trong điều kiện chưa bị nhiễm và phải tiếp xúc nhiều với người có nguy cơ lây nhiễm – thí dụ như ở các chốt chặn – có thể dùng dung dịch trên, nhỏ mũi 4 tiếng 1 lần.
Xúc miệng, xúc xoang hàng ngày bằng nước muối có pha dung dịch rượu tỏi nói trên với tỷ lệ 1/ 2, nếu thấy có vấn đề thì 2/ 3.
Nếu có điều kiện – nhà có phòng xông hơi – thì tốt nhất, nên xông hơi toàn thân với các dung dịch rượu tỏi gừng, dầu nước xanh, tinh dầu quế…
Đây là bài thuốc và phương pháp mà tôi đã giới thiệu ngay từ đầu năm 2020. Rất nhiều người đã ứng dụng – cả trong và ngoài nước, cả Tây lẫn Ta – và thoát khỏi tử thần virus trong Đại Dịch này, kể cả đã nằm viện.
Hình minh họa cho tác dụng của Rượu tỏi. Đây chỉ là một thí dụ và không phải thí dụ duy nhất.

V. KẾT LUẬN.
V.I. CHÚNG TA BIẾT GÌ VỀ CON VIRUS 19?
Để mở đầu cho phần kết luận này, quý vị và các bạn đọc bài viết về TS Y Khoa Quan Thế Dân, đăng trên Fb của anh.
Qua bài viết này, làm rõ hơn những kiến thức của Y học hiện đại về con virus Dịch này. Về mặt phương pháp diệt virus tổng quát, có vẻ thế giới gần như bất lực với các phương pháp chữa bệnh và diệt virus của Tây Y hiện nay, điều mà tôi đã chứng minh ở trên. Mặc dù về các hiện tượng cục bộ – chữa bệnh cứu người – có những thành công.

Tôi sắp được về rồi hả bác sĩ, mừng quá trời
Phố xá vắng lặng, không một bóng người. Thỉnh thoảng có tiếng còi hú của xe cứu thương và xe chở người F0 đi cách ly. Những gương mặt buồn bã lướt qua. Cứ đúng 7 giờ là xe đưa rước lại đổ nhân viên y tế trước sảnh lớn bệnh viện. Chúng tôi mau chóng xuống xe, xếp hàng 1 đi qua cổng kiểm soát nhiệt độ rồi mau chóng tỏa về các tầng. Một ngày làm việc căng thẳng lại bắt đầu.
1. Một căn bệnh bí ẩn
Phải nói ngay, đến bây giờ ngành y vẫn biết rất ít về căn bệnh Covid này. Trong ngành y nếu đủ hiểu biết về một căn bệnh, thì người ta sẽ chữa được nó, nếu vẫn để chết người, là chúng ta vẫn chưa biết hết về nó. Người ta có thể tóm sống ngay virus, giải mã trình tự bộ gen của nó, biết cách nó bám vào thụ thể nào để đi vào cơ thể, biết cách làm sao nó lại nhân lên bên trong tế bào… tức là người ta có vẻ như biết tất tật về con virus này. Thế nhưng sao bệnh nhân vẫn chết. Trong đời hành nghề của mình chưa bao giờ thấy căn bệnh viêm phổi nguy hiểm đến thế. Mới mắc, chỉ ho khan vài tiếng, vẫn khỏe mạnh. Nhưng chỉ một vài ngày sau là khó thở, phải nhập viện. Rồi khó thở tăng nhanh. Lúc mới vào chỉ thở oxi gọng kính 5 lít/phút, rồi sau mau chóng chuyển sang thở mặt nạ oxi 15 lít/ph, vẫn không đỡ, SpO2 thấp dưới 90, phải chyển sang thở oxi dòng cao 60 lít/phút, oxi phun phè phè, vẫn không đỡ. Đành chuyển sang vũ khí cuối cùng đặt ống nội khí quản và thở máy. Nhưng hình như chiếc máy thở là con tàu không có vé khứ hồi, ít ai đặt chân lên con tàu này mà còn quay trở lại được. Đây là tôi kể về tình trạng điều trị Covid ở Italia và Hoa kỳ đấy nhé, không lại bảo tôi nói xấu chế độ tươi đẹp. Các bác sĩ ở phương Tây trước khi đặt ống cho bệnh nhân đều cho bệnh nhân gọi điện lần cuối về cho gia đình, nói lời từ biệt. Nhiều câu chuyện về những người già khi mắc Covid nặng đã xin bác sĩ không đặt ống, để cho họ được ra đi trong bình yên. Họ thật là những người dũng cảm.
2. Bệnh nền
Nhớ hồi tầm này năm ngoái, khi chúng ta chữa khỏi cho bệnh nhân số 91, báo chí đã ca ngợi thành tựu của ngành y VN lên tận mây xanh. Đến khi dịch lại bùng phát ở Đà nẵng, bộ chỉ huy gửi ngay đội quân Quyết thắng covid vào dập dịch với mệnh lệnh ngắn gọn: không được để xảy ra tử vong. Dân tình cũng tự đắc: ui xời, chết thế nào được, bọn bác sĩ Mỹ thua xa bác sĩ Việt Nam. Thế nhưng bọn giặc Covid khó bảo, vật chết một lúc 34 mạng người. Báo chí lúc đó mới luống cuống trấn an, chết vì bệnh nền! Mà kể ra cũng đúng, lắm bệnh nền thì chết thôi.
Nhưng đợt dịch thứ 4 này thể hiện một bộ mặt rất khác, bệnh nhân trở nặng lên mà hầu như không có dấu hiệu gì báo trước. Ngành y đã đúc rút ra mấy nhận diện người sẽ dễ trở nặng là: đàn ông, lớn tuổi, bệnh nền. Thì bây giờ có vẻ như chưa đúng. Rất nhiều người chết trẻ, là đàn bà, và không hề có bệnh nền. Trong bệnh phòng tôi thấy tràn ngập các bà các chị tuổi từ 30 – 50, đúng kiểu các bà nội trợ phía nam, to béo, hay mặc bộ đồ hoa. Họ nằm nghiêng, bụng mỡ to quá không nằm sấp được, nếu bác sĩ nào máy móc bắt nằm sấp là họ suy hô hấp ngay, SpO2 tụt re. Nhìn họ nằm nghiêng bụng mỡ sệ xuống giường, thoi thóp thở, tôi thấy hình như béo phì là nguy cơ tử vong cao nhất của Covid, rồi mới đến các yếu tố khác.
3. Những lời nhắn gửi
Tùy từng góc nhìn, nếu bạn chống covid ở cộng đồng, bạn chỉ tiếp xúc với các người thể nhẹ, mà những người này chiếm tới 80% tổng số người nhiễm, thì các bạn thấy cuộc chiến chống covid nó như là một cuộc dạo chơi. Bạn sẽ thấy những bài viết của tôi quá u ám, bạn cho tôi là cố tình bôi đen hiện thực. Nhưng tôi làm ở chóp nhọn của dịch bệnh, chỉ chiếm 5% số bệnh nhân, nhưng toàn là người bệnh nặng, và ½ trong số này sẽ tử vong. Nên trong mắt tôi, đại dịch này đầy chết chóc.
Người bệnh của chúng tôi cũng hiểu thế. Họ nhìn thấy các giường xung quanh cứ lần lượt ra đi. Nhiều người hoảng loạn. Có người cứ nằm khóc, bác sĩ ơi, cho tôi về, tôi không chữa nữa đâu, cho tôi về để tôi nhìn con tôi lần cuối. Có anh thanh niên thì nói: bác ơi, bác cố cứu tôi nhé, tôi còn con nhỏ, vợ tôi mới mất hôm trước rồi. Chúng tôi nước mắt lăn dài, cố tỏ ra vẻ gắt gỏng, chết thế nào được, nằm yên thở đều đi rồi sẽ khỏe. Những lời nói dối lúc này có khi còn hiệu quả hơn những liều thuốc. Vì bệnh nhân hốt hoảng sẽ thở nhanh hơn, đòi hỏi nhiều oxi hơn, thì sẽ quá sức chịu đựng của lá phổi đang tan nát. Giá mà lúc này có các đội từ thiện của các tôn giáo vào an ủi bệnh nhân thì tốt biết mấy.
Chị nằm yên ở giường ngoài, ngoan ngoãn nghe theo lời khuyên của bác sĩ, bảo nằm nghiêng là nằm nghiêng, bảo nằm sấp là nằm sấp, không kêu than. Sáng nay đo thấy oxi máu tốt quá, SpO2 lên 98%. Giảm liều oxi thở xuống, một lúc sau quay lại đo, vẫn 98. Tôi bảo: em đỡ nhiều rồi rồi nhé, mai cho chuyển sang buồng nhẹ hơn, sắp về được rồi. Chị mỉm cười mừng rỡ, hỏi lại tôi, giọng thì thào: Tôi sắp được về rồi hả bác sĩ, mừng quá trời. Vẻ mừng rỡ của người thoát chết nó ấn tượng ghê lắm, chính chị cũng không tin là có ngày về.
Cầu mong cho ngày mai tôi được gặp lại chị và chính tay tôi viết trong bệnh án chuyển chị về khoa nhẹ”].
*
Bài viết của Tiến Sĩ Quan Thế Dân là một ví dụ điển hình của tập hợp “Diệt virus cục bộ”. Và kết quả không phải khả quan. Đây là đoạn trích lại trong bài viết trên,  chứng tỏ điều này:
Trích:
[“Nhưng tôi làm ở chóp nhọn của dịch bệnh, chỉ chiếm 5% số bệnh nhân, nhưng toàn là người bệnh nặng, và ½ trong số này sẽ tử vong. Nên trong mắt tôi, đại dịch này đầy chết chóc.

Người bệnh của chúng tôi cũng hiểu thế. Họ nhìn thấy các giường xung quanh cứ lần lượt ra đi”].

Tiếp theo quý vị và các bạn đọc tiếp thông tin trên web Điện Tử Dân Trí, để thấy rõ hơn sự bất lực của thế giới qua Tổ Chức Y Tế thế giới WHO với virus Đại Dịch:
Trích:

Thứ tư, 25/08/2021 – 14:35

WHO kêu gọi các nước hoãn tiêm bổ sung vắc xin Covid-19 - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus (Ảnh: Reuters).
WHO kêu gọi các nước hoãn tiêm bổ sung vắc xin Covid-19.Dân tríLãnh đạo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kêu gọi các nước tạm hoãn tiêm vắc xin Covid-19 liều tăng cường để những nơi khác có thêm nguồn cung vắc xin, giảm nguy cơ xuất hiện các biến chủng nguy hiểm hơn.Nhấn để phóng to ảnhTổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus (Ảnh: Reuters).”Phát biểu với các phóng viên tại thủ đô Budapest, Hungary ngày 23/8, Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus nói, ông cảm thấy “thực sự thất vọng” với tình hình phân phối vắc xin Covid-19 trên thế giới hiện nay. Ông Tedros cho biết, hiện thế giới đã tiêm khoảng 4,8 tỷ liều vắc xin, trong đó 75% tập trung chỉ ở 10 nước”.
*
Cả thế giới có vẻ như đang bất lực với virus Tủm. Sự bất lực này thể hiện ở biện pháp đề nghị bỏ dãn cách và sống chung với Virus, bằng một sự thống kê so sánh số lượng người chết vì các bệnh khác một cách đơn giản. Rồi từ đó làm “cơ sở khoa học” để đưa ra đề nghị này. Họ bỏ qua nguyên nhân chết và tác động của từng loại bệnh. Nhưng việc xóa bỏ dãn cách luc này, chính là tự sát. Vì nó là công cụ hữu hiệu nhất để bảo đảm sự sống, khi chưa có biện pháp diệt virus Đại Dịch hiệu quả. Điều mà tôi đã chứng minh ở trên.
Hay nói rõ hơn: Bãi bỏ dãn cách hay tiếp tục dãn cách bằng các biện pháp tổng thể thích hợp và phù hợp với tư duy khoa học, đều không phải “Biện pháp diệt virus”. Và nếu ko diệt đươc virus này, sẽ là một thảm họa.
Suy cho cùng: chúng ta đang sống chung với virus Dịch. Có điều tùy từng quốc gia – với các biện pháp hành chánh – mà người dân sống như thế nào mà thôi. Bây giờ, muốn có một giải pháp dung hòa, giữa bỏ dãn cách – vì con người chấp nhận bất lực trước khả năng diệt virus đang phổ biến trên thế giới – và dãn cách triệt để – nhưng lại không biết đến bao giờ mới diệt hết virus như các biện pháp hiện nay – cần phải có một khả năng tìm một giải pháp tổng hợp cao cấp, phù hợp với các chuẩn mực khoa học cho một giải pháp nhân danh khoa học.
Đó là, Trong trường hợp Đại Dịch giết chết nhiều người và nhanh chóng, như hiện nay và các phương pháp diệt virus Đại Dịch đã bất lực trên thực tế, thì cần có một phương pháp tổng hợp hoàn hảo, phải cân bằng được “dãn cách xã hội triệt để” và các vấn đề đời sống, sinh hoạt xã hội với phát triển kinh tế với sự tổng hợp tất cả các khả năng huy động được để diệt virus Đại Dịch. Tức là, phải hợp lý, nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống với các vấn đề liên quan đến nó.
Hay nói rõ hơn bằng một cách khác: Chúng ta phải cân bằng giữa sự phát triển đời sống kinh tê xã hội, không thể để nó sụp đổ và các biện pháp ngăn chặn và diệt virus Tủm. Nhưng hiện nay, các biện pháp công cụ hành chánh chống virus Đại Dịch và sự phát triển đời sống kinh tế xã hội, có vẻ mâu thuẫn. Suy cho cùng: Đó chính là nguyên nhân sâu xa để xuất hiện biện pháp cực đoan thuần hành chánh là “Bãi bỏ dãn cách” và “sống chung với Virus Tủm” – với luận cứ ngu xuẩn: Người chết ít hơn cả cảm cúm. Tức là nó chỉ thỏa mãn một vế trong các sự kiện liên quan, là mục đích kinh tế và bỏ qua sự nguy hiểm chết người hàng loại của loại virus này.
Là một người xác định không có mâu thuẫn trong “Nghịch lý toán học Cantor” – một nghịch lý Toán học thách thức trí tuệ của cả một nền văn minh. Tôi hy vọng rằng có thể tìm ra được giải pháp.
Tôi xin trình bày giải pháp này như sau:
V. II. CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ NGHỊ:
V.II. I. TẬP HỢP THỨ NHẤT – CÔNG CỤ HÀNH CHÁNH HỖ TRỢ.
Căn cứ vào những yếu tố cần để duy trì sinh hoạt cuộc sống con người, gồm: Các hoạt động kinh tế; diệt virus, chữa bệnh…. Tức là các vấn đề và sự kiện liên quan theo tiêu chí khoa học.
1/ Các hoạt động kinh tế cần được duy trì bằng hệ thống lưu thông hành hóa. Trên cơ sở này:
a/ Tất cả các tài xế xe vận chuyển nói chung, từ shiper xe Honda, đến các xe tải nặng đường dài, đều được ưu tiên tiêm chủng vacsin. Và họ tiếp tục được hành nghề. Khuyến cáo nên dùng thuốc diệt virus thường xuyên> Đông Tây gì cũng được. Đơn giản nhất là dùng rượu tỏi, gừng.
b/ Khử trùng tất cả các kho tàng bến bãi, chợ …dùng biện pháp gì cũng được: Tốt nhất nên dùng vôi, xông tinh dầu và rửa rượu. Tiếp tục mở lại các hoạt động ở đây. Tất cả các cửa hàng buôn bán trong nhà đều được mở cửa trở lại. Nhưng mọi giao dịch đều giao cho shiper. Khách mua hàng không được trực tiếp mua hàng. Nếu số lượng shiper hoạt động không đủ thì các nhân viên cửa hàng, siêu thị có quyền đăng ký shiper và chính ngừa theo tiêu chuẩn nói trên. Ngay cả các bà bán thực phẩm ở chợ, hoặc cũng phải ship hàng – qua hệ thống dân phòng; hoặc chính họ đi giao hàng với các biện pháp tiêm phòng đầy đủ và các biện pháp cách ly cụ thể khi giao dịch. Tất cả các nhà sản xuất nông sản từ nông dân làm vườn đến các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động và giao hàng qua vận chuyển.
c/ Tiếp tục dãn cách xã hội, ai ở nhà nấy, cấm tụ tập đông người và các sinh hoạt tụ tập đông người: Ăn nhậu, nhà hàng, lễ hội…. Cho đến khi xác định được virus đã không thể tồn tại. Nếu các nước lân bang vẫn còn Dịch thì đóng cửa biên giới luôn. Những kẻ xâm nhập coi như xâm phạm lãnh thổ quốc gia.
Những ý tưởng này, tôi đã đề cập đến trên Fb của tôi ngay từ đầu mùa dịch.
V.II. II. TIÊU DIỆT VIRUS ĐẠI DỊCH.
Căn cứ vào thực tại các loại thuốc chữa bệnh phổ biến hiện nay, chưa đạt mục đích.
Cần bổ sung bất cứ loại thuốc nào từ Tây và Đông y. Đặc biệt các loại thuốc dân gian đã có chứng nghiệm từ hàng ngàn năm qua, như rượu tỏi, gừng, xông bồ kết…Có thể phổ biến ngay trên TV để mọi người có thể lựa chọn và áp dụng những khả năng diệt virus của các loại thuốc Đông Y. Tất cả các hãng thuốc Đông Tây Y đều có quyền quảng cáo thuốc chữa Virus. Và mọi người có quyền lựa chọn. Vấn đề là: Tại so cc1 loại thuốc chữa sâu răng. hôi nách, hắc lào, trị nội ngoại…kể cả cảm cúm – một loại bệnh được àm luận cứ để bãi bỏ dãn cách – đều được quảng cáo. Nhưng riêng các thuốc và biện pháp diệt Virus Tủm lại không?
Sử dụng Đông y và các bài thuốc theo kinh nghiệm và truyền thống dân gian vào phương pháp diệt virus.  Đây là điều tôi đã phân tích ở trên: Nó là sự bổ sung vô hại và không phủ định các phương pháp chữa bệnh hiện nay. Hay nói một cách khác:
Tích hợp tất cả các khả năng trong tập hợp diệt virus Đại Dịch, để bảo vệ sự sống của con người.
Thưa quý vị và các bạn.
Trên đây, cũng chỉ là ý kiến mang tính Tập hợp Tổng quát của một phương pháp. Còn những biện pháp tổng quát này có thể bổ sung đến từng chi tiết, cho cả việc quy định cho bàn bán rau phải ngồi thế nào và phương pháp bán hàng của bà ta. Tất nhiên, có thể có ý kiến phản biện. Nhưng tôi nghĩ không thể đem cái cục bộ khó thực hiện, để chứng minh cái tổng thể sai. Mặc dù trong phản biện biện khoa học, người ta có quyền chỉ ra chỉ ra một mắt xích sai trong toàn bộ hệ thống, mà chủ thể của giải pháp, lý thuyết, giả thuyết khoa học đó không biện minh được, thì coi như giải pháp đó sai.
Ông Tổ Y học hiện đại của nền văn minh thế giới hiện nay – Hypporocrates đã nói rằng:
“Thức ăn của bạn phải là thuốc cho bạn và thuốc men của bạn phải là thức ăn”.
Thảo dược từ tự nhiên chính là thảo dược tốt nhất mang lại sức khỏe bền vững cho cơ thể.
Thưa quý vị và các bạn>
Tôi không có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến bất kỳ bài thuốc nào của tôi. Cụ thể là tôi không phải là người bán tỏi và rượu. Mà chỉ vì trước sự đe dọa cuộc sống con người mà viết bài này với tất cả sự chân tình và lương tâm. Tôi không thể áp đặt lên bất cứ ai về phương pháp diệt virus của tôi, mà chỉ là một sự khuyến cáo và chia sẻ một phương pháp khả thi với những ai quan tâm. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” (Câu này về sau cụ Vũ Khiêu sửa lại là “Quốc gia hưng vong; ‘Sĩ phu’ hữu trách”). Trên đây, tôi chỉ ứng dụng phương pháp phân tích, so sánh đối chiếu theo hiểu biết của tôi, để hy vọng chia sẻ  với quý vị và các bạn một khả năng giảm thiểu thiệt hại chết người vì Đại Dịch này.
Xin cảm ơn vì đã quan tâm.
PHẨN BỔ SUNG CÁC BÀI THUỐC NAM CÓ THỂ DIỆT VI RÚT CHỮA BỆNH.
5 người khác
2 giờ 
Nước dừa tưoi 1 trái + một miếng gừng bằng ngón tay út + Đường vừa uống tất cả cho vào nồi đun sôi 2 phút rồi uống khi còn ấm. Ngày 1 lần để chữa Con vid.
Rưọu tỏi: tỏi ta giã nát để 15 phút cho rượu vào ngập tỏi. Sau 1 ngày chắt lấy nước dùng nhỏ mũi (khi có triệu chứng xoang, mũi, họng). Khi ko có triệu chứng thì nhỏ vào khẩu trang trước khi đeo sẽ giúp sát khuẩn, phòng bệnh.
– https://hellobacsi.com/an-uong-lanh-manh/thong-tin-dinh-duong/tac-dung-cua-nuoc-dua-tuoi/?fbclid=IwAR0b8zfmserfcgsK42otip7uyfm0gc9DVbGeGBac-SIqY_OlOmivu4MmVUc.
– https://benh.vn/cong-dung-ky-dieu-cua-cu-gung-2557/
– https://thaythuocvietnam.vn/ban-da-biet-het-cac-tac-dung-chua-benh-cua-gung/?fbclid=IwAR0nNrWuEGoBiAW2Nzhe3rnQ6v2iIXqx3YxtEmFs_BXXeU4_vfhVZIPu7ZY
– https://www.facebook.com/hollis.andino.5/posts/360620719065061
Đăng tải tại Lý Học Đông Phương | Để lại phản hồi

LÝ HỌC VIỆT VÀ NGUỒN GỐC THÁNG CÔ HỒN

Chúng ta đang sống trong tháng Bẩy, năm Canh Tý Việt lịch 2020. Trong dân gian quen gọi là tháng “Cô hồn”. Rất nhiều truyền thuyết mang tính tôn giáo và tâm linh, mô tả cho nguyên nhân của Tháng Cô Hồn này. Trong đó có cả truyền thuyết liên quan đến Phật Giáo, về Ngài Mục Kiều Liên xuống Địa Ngục cứu mẹ. Trong Phật Giáo gọi là lễ Vu Lan, báo hiếu các bậc sinh thành. Trong dân gian Việt còn gọi là ngày lễ “Xá tội vong nhân”, tức là ngày mà các linh hồn người chết bị đọa dày dưới Địa Ngục được tha tội để về nơi Dương thế. Có thể nói, hầu hết các dân tộc Đông phương đều có những nghi lễ cúng bái trong “Tháng Cô Hồn” này với những cách giải thích khác nhau tùy theo tín ngưỡng và tôn giáo. Nhưng có một điểm chung cho các truyền thuyết về những nghi lễ thực hiện trong rằm tháng Bảy này, là liên quan đến vong linh của những người đã chết.

Do đó, vấn đề được đặt ra sẽ là bản chất thật của “Tháng Cô Hồn” này xuất phát từ đâu?
Chúng ta đặt vấn đề rằng: nếu nó xuất phát từ một tín ngưỡng, thì đó phải là một tín ngưỡng phổ biến rộng rãi thuộc về nền văn minh này. Từ đó, nó mới có thể phổ biến thành truyền thống về tháng Cô Hồn trong di sản của nền văn minh Đông phương, gồm nhiều quốc gia.

Một trong những cách giải thích khá phổ biến về nguồn gốc của tháng Cô Hồn có nguyên nhân từ Phật giáo, qua các sự tích về Lễ Vu Lan, báo hiếu của ngài Mục Kiều Liên xuống Địa Ngục cứu mẹ, và sự tích về ngài Anan cúng Ngã Quỷ. Xét về tính phổ biến thì Phật Giáo là một tôn giáo xuất phát từ Đông phương hơn 2500 năm trước và phổ biến trên toàn thế giới. Cho nên giải thích nguyên nhân từ Phật giáo với tính phổ biến của Phật giáo và tính phổ biến của tín ngưỡng liên quan đến “Tháng Cô Hồn” là khả thi. Nhưng no chỉ có tính hợp lý cục bộ. Vấn đề được tiếp tục đặt ra là: Những điều kiêng cữ trong lễ Tháng Cô Hồn” không hoàn toàn thuộc về hệ thống Phật pháp. Bởi vậy, truyền thuyết về ngài Mục Kiều Liên xuống Địa Ngục cứu mẹ, hoặc ngài Anan gặp ngã quỷ – để giải thích cho nguyên nhân của  quan niệm về “Tháng Cô hồn”, chỉ có thể được hình thành rất lâu sau khi Phật pháp trở thành phổ biến trong xã hội Đông phương. Nó không hề có trong kinh điển chính thống của Phật giáo.

Bởi vậy, chúng ta hoàn toàn có thể đi tìm nguyên nhân của quan niệm “Tháng Cô hồn” từ một cách giải thích khác.

Những dấu ấn còn lại của quan niệm về tháng “Tháng Cô hồn”, cho thấy nó liên quan đến Lý học Đông phương. Một trong những dấu ấn đó chính là từ “Quỷ Môn quan” – được coi là nơi xuất phát của ma quỷ lên trần gian vào tháng Bảy này. “Quỷ Môn quan”, hay còn gọi là “Quỷ Môn”, là một khái niệm trong Địa lý Phong Thủy mô tả trục Đông/ Tây trong Phong thủy Đông phương nói chung và trục Đông Bắc/ Tây Nam theo Địa Lý Lạc Việt (Sẽ được trình bày rõ hơn ở phần sau).

Trong lịch sử nền văn minh Đông phương, cũng đã ghi nhận một tôn giáo phổ biến ở Nam Dương tử, đó chính là Đạo Giáo. Tôn giáo này có thời điểm xuất xứ tương đương sự xuất hiện của Phật giáo – từ 2500 năm cách ngày nay. Tôn giáo này đã bị mai một cùng với sự sụp đổ của nền văn hiến Việt, từ 300 năm trước CN. Nó chỉ còn lại những dấu ấn qua những truyền thuyết về tiên thánh trong tính ngưỡng dân gian, ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Riêng ở Việt Nam thì di sản của Đạo Giáo còn trong tục thờ Mẫu, Ngũ phủ công đồng, các vị thánh…vv…

Trong Đạo Giáo, hầu hết mọi phương tiện hành pháp đều liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Từ đó, tôi nhận thấy rằng: Hoàn toàn có cơ sở xem xét cội nguồn của “Tháng Cô Hồn” từ Lý học Đông phương.

Bây giờ, chúng ta bắt đầu với mô hình Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt. Quý vị và anh chị em xem hình dưới đây:

 HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ

Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng: Trong mô hình Hà Đồ (và cả Lạc Thư) đều có 9 ô. Các ô trên Hà Đồ đều phối với Thiên Can tích hợp với độ số của nó, gồm: Giáp 1, Ất 2, Bính 3, Đinh 4, Mậu 5 (Mậu thuộc Thổ) , Kỷ 6, Canh 7, Tân 8, Nhâm 9, Quý 10 (Quý thuộc Thủy). Riêng ô giữa – Trung cung của Hà Đồ có hai Thiên Can phối là “Mậu/ Quý” với độ số 5/ 10, phù hợp với độ số Trung cung của Hà Đồ.

Và điều này liên quan gì đến “Tháng Cô Hồn” với tháng Bảy Việt lịch hàng năm?

Chúng ta đều biết rằng: Trong truyền thống văn hóa Việt, ông cha ta thường gọi tháng 11 Việt lịch là tháng Một; Tháng 12 là tháng Chạp; tháng 1 là tháng Giêng…Sau đó mới thuận tự theo số đếm phổ thông. Do đó, tháng thứ 5 tính từ tháng Một – theo cách gọi dân gian Việt – tức cũng là tháng Ba Việt lịch. Đây cũng chính là tháng kỷ niệm giỗ Tổ Hùng Vương 10/ 3 Việt lịch. Hay nói cụ thể và rõ hơn là: ngày giỗ Tổ Hùng Vương của Việt tộc vào ngày mùng 10, tháng thứ 5 Việt lịch, tính từ tháng Một (11). Đây chính là con số của Trung cung Hà Đồ, thuộc Mậu/ Dương Thổ.

Vậy tháng cô hồn liên quan gì đến mô hình Hà Đồ này?

Đây chính là tháng thứ chín, tính từ tháng Một (11) Việt lịch. Cho nên theo chu kỳ Cửu cung, tháng này nhập trung cung Hà Đồ, tương ứng với độ số 10 của Thiên Can Quý thuộc Thủy. Tháng này vì do Thiên Can Âm Thủy là Quý quản trung cung, nên Âm khí – theo Lý học Việt rất vượng. Cho nên nó thể hiện bằng thời tiết phổ biến trên trái Đất là mưa gió sụt sùi (Mưa Ngâu), hoặc bão tố, lũ lụt…vv…..với sự tích Ngưu Lang Chức Nữ nổi tiếng của nền văn minh Đông phương. Trong truyền thuyết này thì nước mắt vì cuộc tình ngang trái của vợ chồng Ngâu trên Thiên Đình, đã làm nên mưa gió sùi sụt trong tháng Bảy ở trần gian.
Nhưng tại sao nó lại được mô tả là “Tháng Cô Hồn”? Để giải thích vấn đề này, chúng ta xem tiếp mô hình dưới đây:

MÔ HÌNH LA BÀN ĐỊA LÝ LẠC VIỆT.

Trên mô hình này, chúng ta thấy rằng tháng Bảy Âm lịch hàng năm là tháng Thân, bắt đầu từ tháng Giêng là tháng Dần; tháng 2 Mão; tháng 3 Thìn; tháng 4 Tỵ, tháng 5 Ngọ; tháng 6 Mùi, tháng Bảy Thân…. Nếu theo mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”  thì Vị trí cung Khôn ở Tây Nam. Xin xem mô hình dưới đây:
MÔ HÌNH LA BÀN THEO HẬU THIÊN VĂN VƯƠNG PHỐI LẠC THƯ.

MÔ HÌNH LA KINH DÙNG TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY TÀU & LẠC THƯ.

Rất rõ ràng: Nếu theo mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” thì cung Khôn Tây Nam phối Cấn Đông Bắc, sẽ là trục “Sinh Khí”. Và cũng theo mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” thì chúng ta sẽ có bốn trục như sau:
1/ Trục Phúc Đức – Bắc Nam, tức Khảm phối Ly (Chỉ có ở người Đông Tứ Trạch).

2/ Trục “Tuyệt Mạng” –  Đông Tây, tức Đoài phối Chấn (Chung cho cả hai loại trạch mệnh).

3/ Trục Sinh Khí – Tây Nam Đông Bắc, tức Khôn phối Cấn (Chỉ có ở người Tây Tứ Trạch).
4/ Trục Họa Hại – Tây Bắc Đông Nam, tức Càn phối Tốn (Chung cho cả hai loại trạch mệnh)..
Trong đó, trục Đông Tây Tuyệt Mạng, còn một tên gọi khác là trục Quỷ Môn trong Địa Lý phong thủy. Và rất dễ dàng nhận thấy sự vô lý trong cấu trúc của mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” ứng dụng trong Địa Lý phong thủy:

Người Tây Trạch không có trục Phúc Đức và người Đông trạch không có trục Sinh Khí?!

Và với mô hình này thì chúng không thể có sự liên hệ lý giải liên quan, cụ thể trong bài viết này về bản chất “Tháng Cô Hồn”.

Ngược lại, với mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” – đổi vị trí Tốn Khôn – chúng ta sẽ nhân thấy ngay tính đồng đẳng của hai loại mệnh trạch như sau:

1/ Trục PhúcĐức: Người Tây Trạch – ở trục Tây Bắc Đông Nam, tức Cản phối Khôn, và người Đông trạch – ở trục Bắc Nam, tức Khảm phối Ly.
2/ Trục Tuyệt Mạng: Người Tây Trạch – trục Tây Nam Đông Bắc, tức Tốn phối Cấn, và người Đông trạch – trục Đông Tây, tức Đoài phối Chấn.
Đến đây, chúng ta thấy rằng: Trục Tuyệt Mạng còn gọi là trục Quỷ Môn.
Xin xem mô hình dưới đây:
MÔ HÌNH HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ –

Trong ứng dụng Địa Lý phong thủy với tính chất các trục trong Trạch mệnh.

Như phần trên, người viết đã trình bày: Trục Tuyệt Mạng trong ứng dụng Địa Lý phong thủy còn gọi là trục Quỷ Môn. Và như vậy, chúng ta sẽ nhận thấy ngay rằng: Vởi Hậu Thiên Lạc Việt phôi Hà Đồ thì Tốn ở Tây Nam phối Cấn Đông Bắc sẽ là trục Quỷ Môn, tức là cửa Địa Ngục. Và trục này lại gắn liền với sơn Thân của 12 Địa Chi, nằm trong cung Tốn Tây Nam.
Tổng hợp những yếu tố người viết đã trình bày, liên quan đến Thiên Can Quý Thủy nhập trung vào tháng thứ 9, tức tháng Bảy tháng Thân theo Việt lịch; và sự phối hợp vị trí liên quan của sơn Thân trong trục Quỷ Môn theo “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”, cho chúng ta thấy nguồn gốc thật sự của tháng “Cô Hồn”, từ chu kỳ tương tác của vũ trụ liên quan đến Địa Cầu trong năm. Và đó cũng chính là sự mô tả dưới dạng truyền thuyết về ngày rằm tháng Bảy là ngày mở cửa Quỷ Môn, để các vong hồn được trở lại trần thế, còn gọi là ngày “Xá tội vong nhân”. Thực chất đó chỉ là ngày Âm khí Thổ Vượng, có nguồn gốc từ vũ trụ vượng nhất trong năm, nên nó được mô tả bằng “Địa Ngục” (“Địa” là Đất/ Thổ; “Ngục” là hình tượng mô tả khí chất dưới đất) và nâng cấp thành những truyền thuyết liên quan đến “Tháng Cô Hồn” với những ma quỷ từ Địa Ngục chui lên, hoành hành trên thế gian.
SW Hawking đã phát biểu:
“Nếu quả thật chúng ta tìm ra được một Lý thuyết thông nhất, thì sẽ ứng dụng những quy luật vũ trụ để điều hành cuộc sống của chúng ta”.
Phải chăng, chính những quy luật vũ trụ được mô tả trong bài viết này, qua mô hình Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt, ứng dụng trong những nghi thức liên  quan đến Tháng Cô Hồn, chính là một sự thể hiện tính ứng dụng của quy luật vũ trụ trong cuộc sống?
Vài lời chia sẻ.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi

Luận tuổi Lạc Việt: Bài 7

LUẬN TUỔI LẠC VIỆT

BÀI VII. SAO MỘC – THÁI TUẾ LÀ THỰC TẠI CỦA 12 ĐỊA CHI

& PHÂN LOẠI NGŨ HÀNH

SAO MỘC – THÁI TUẾ TRONG LÝ HỌC VIỆT

VII. I. HIỆU ỨNG VÀ TƯƠNG TÁC VŨ TRỤ TRONG LÝ HỌC VIỆT.
Để anh chị em có thể hiểu được bản chất của những mô hình dự báo Đông phương về mặt tổng quát và 12 Địa Chi là thực tế ứng dụng của khóa học này. Nội dung bài VII sẽ mô tả những nguyên nhân đích thực và thực tại nào của các phương pháp dự báo, mà ông cha ta quen gọi là “bói toán” Đông phương. Nhưng chủ yếu tập trung vào giải thích hiện tượng sử dụng 12 Địa Chi trong bói toán.

Khi hai nền văn minh Đông Tây giao lưu, những phương pháp bói toán của nền văn minh Đông phương bị coi là “mê tín dị đoan” và bị các nhà khoa học – trong giai đoạn nền tảng tri thức khoa học còn ở dạng sơ khai – từ nửa đầu thế kỷ trước, kịch liệt phản đối. Một thời nó còn bị cấm đoán ở một số nước trên thế giới. Thậm chí cho đến ngay đầu thế kỷ XXI, các cuộc tranh luận về Tử Vi và khoa học hiện đại giữa vị Chủ tịch Hội Thiên Văn Việt Nam và một Tử Vi gia trên một nguyệt san – nếu tôi nhớ không nhầm, là “Kiến Thức Ngày Nay” (Hoặc Tri Thức Trẻ; Thế giới Mới), vào những năm 1998, 1999. Qua đó cho thấy rằng: Cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, những tri thức cổ Đông phương vẫn bí ẩn đến huyền vĩ. Và hai nền văn minh Đông Tây vẫn còn một khoảng cách quá xa để có thể hội nhập.
Nhưng trong các nghiên cứu của tôi thể hiện trên các bài viết trong diễn đàn Lý học Đông phương và các sách đã xuất bản, tôi đã đặt vấn đề:

Tất cả các mô hình dự báo Đông phương, như Tử Vi. Tử Bình, Mai hoa Dịch số của Thiệu Khang Tiết, Thái Ất Độn Giáp, Lạc Việt độn toán…đều lấy yếu tố thời  gian là giờ, ngày, tháng, năm làm dữ kiện đầu vào. Như vậy, chứng tỏ nó phải phản ánh một không gian vũ trụ vận động theo thời gian tương ứng với nó. Từ cơ sở này, một giả thiết được đặt ra:
Sự vận động có tính quy luật của không gian vũ trụ tương tác với trái Đất là thực tại của các ngành dự báo Đông phương cổ, qua dữ kiện thời gian tương ứng. Tất cả những luận cứ liên quan, đều mô tả kỹ trong cuốn “Tìm về cội nguồn kinh Dịch” (Nxb Hồng Đức 2020). Nhưng do anh chị em không phải ai cũng đã đọc cuốn sách này. Cho nên, ở đây tôi giới thiệu với anh chị em những hình ảnh mô tả và luận cứ liên quan như sau:

MÔ HÌNH MÔ TẢ LỰC TƯƠNG TÁC BIỂU KIẾN TỪ NGÂN HÀ LÊN ĐỊA CẦU. Hình I.

Tri thức khoa học hiện đại cũng cũng có thể đã mô tả được lực hấp dẫn giữa các thiên thể. Và họ cũng nhận thấy bằng thực chứng sự ảnh hưởng sức hút của mặt Trăng với thủy triều và sức khỏe phụ nữ. Nhưng họ chưa thể mô tả một cách chi tiết những quy luật tương tác của từng hành tinh trong Hệ mặt Trời và và các vì sao gần gũi Thái Dương hệ, ảnh hưởng như thế nào lên cuộc sống con người trên trái Đất.
Nhưng ngược lại, một nền văn minh cổ xưa – mà tôi đặt tên là văn minh Atlantic – đã khám phá ra quy luật tương tác và vận động của vũ trụ, liên quan đến Địa cầu. Họ đã mô hình hóa các quy luật tương tác này, để mô tả nó có tính tiên tri. Nơi chịu lực tương tác mạnh nhất của vũ trụ lên Địa cầu, họ gọi là Thiên Môn/ Tuất và Địa Hộ/ Thìn. Trong mô hình dưới đây, Địa cầu được giả định ở tâm vòng tròn chia 8 phương vị với hai sơn Thìn / Địa Hộ và Tuất/ Thiên Môn..

MÔ HÌNH MÔ TẢ THIÊN MÔN/ ĐỊA HỘ TRÊN 24 SƠN CỦA 8 PHƯƠNG VỊ. Hình II

Ở phương Tây Bắc, gồm 3 sơn là Tuất, Càn, Hợi. Ở Đông Nam gồm ba sơn là Thìn, Khôn (Theo Hậu Thiên Lạc Việt) và Tỵ. Vòng tròn đỏ ở Trung Tâm mô hình biểu kiến là Địa cầu của chúng ta trong giải Ngân Hà. Hai sơn Tuất/ Thìn là hai vị trí chịu lực tương tác mạnh nhất từ mặt phẳng Hoàng Đạo. Trong các ngành ứng dụng của Lý học Việt gọi là Thiên Môn: Tuất và Địa Hộ: Thìn.
Bây giờ anh chị em xem tiếp và so sánh hình trên với mô hình này:

MÔ HÌNH HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT, KẾT HỢP ĐIA CẦU.

Ở mô hình biểu kiến trên, anh chị em cũng thấy rằng: Đây chính là mô hình thu gọn mô tả lực tương tác mạnh từ vũ trụ lên Thiên Môn, Địa Hộ quy ước trên Địa Cầu (Xem hình I, II). Mặt phẳng Hoàng Đạo chính là mặt phẳng biểu kiến cho lực tương tác này.

Do trái Đất tự quay quanh trục và nghiêng so với mặt phẳng Hoàng Đạo, cho nên hai sơn quy ước Thìn/ Tuất, luôn tự xoay và chịu tương tác từ vũ trụ gọi là Cổng Trời (Thiên Môn) và Cửa Đất (Địa Hộ).
Trong Tử Vi, hai cung Thìn/ Tuất cũng được coi là Thiên Môn, Địa Hộ và các sao trung tinh – tức phần lớn các sao của phương pháp dự báo số phận con người của phương pháp coi Tử Vi, cũng xuất phát từ hai cung này. Trong khoa Tử Vi, hai cung này bao giờ cũng có hai đại lượng được mô tả là Thiên La/ Lưới trời (Cung Thìn) và Địa Võng/ Lưới đất  (Cung Tuất) nằm cố định ở đây. Danh từ Thiên La, Địa Võng và khi người nào gặp hạn này thì không thể vượt qua nổi, đã xác định một tương tác mạnh của vũ trụ ở hai cung này.

Anh chị em xem hình này:

MÔ HÌNH MÔ TẢ HAI SAO THIÊN LA/ ĐỊA VÕNG
AN CỐ ĐỊNH Ở HAI CUNG THÌN TUẤT TRONG TỬ VI.

Đến đây, tôi muốn khẳng định một lần nữa với anh chị em rằng:

Mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ”, được hiệu chỉnh và phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, mới chính là nguyên lý căn để của tất cả mọi ứng dụng của Thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch – Tức LẠC THƯ CHU DỊCH (Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ tuần hoàn củ vũ trụ) – phủ định mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư” và thay thế mô hình này được lưu truyền từ hàng ngàn năm qua trong các bản văn chữ Hán cổ.

Chính bởi tính hợp lý toàn diện, nhất quán, hoàn chỉnh và có hệ thống trong mọi vấn đề liên quan đến nó. Hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Tiêu chí này phát biểu như sau:

Một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách có hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật, tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.

Bây giờ anh chị em so sánh mô hình Tử Vi – là một khoa tiên tri hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học nói trên – với mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ”:

Rõ ràng chúng hoàn toàn trùng khớp về phương vị Ngũ hành. Qua đó thấy rõ tính hợp lý trong việc giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đến nó theo tiêu chí khoa học. Cụ thể ở đây là mô hình Tử Vi.
Bây giờ chúng ta đối chiếu và so sánh hai cung Thiên Môn/ Tuất và Địa Hộ/ Thìn trong mô hình mô tả lực tương tác mạnh của vũ trụ của “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ” với Địa cầu để thấy rõ tính hợp lý trong việc giải thích các vấn đề liên quan:

 

Như vậy, anh chị em cũng thấy rõ: Chỉ khi quái Khôn quản ở phương Đông Nam, bao trùm cung Đông Nam gồm ba sơn Thìn/ Khôn (Sách Tàu là Tốn)/ Tỵ thì sơn Thìn, mới có thể được gọi với danh xưng Địa Hộ. Vì quái Khôn tượng cho Đất/ Địa. Nếu theo “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư”  – qua các  bản văn chữ Hán cổ thì quái Tốn quản cung Đông Nam, không thể gọi là “Địa Hộ”.

Để xác định tính phù hợp với mọi tiêu chí khoa học – là chuẩn mực thẩm định một lý thuyết, hay giả thuyết khoa học – còn một tiêu chí quan trọng như sau:

Một lý thuyết được coi là khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng được.

Trên cơ sở này, anh chị em xem lại mô hình liên hệ yếu tố tương tác mạnh từ vũ trụ lên hai sơn Thìn/ Tuất và mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ” và Địa cầu ở phần trên, để thấy rõ những mô hình này phản ảnh một thực tại vũ trụ mà nó mô tả. Trong khi đó, các bản văn chữ Hán cổ liên quan, không hề xác định điều này.
Trên đây, chỉ là những ví dụ trực tiếp liên quan đến bài học của khóa học “Luận Tuổi Lạc Việt”. Tính hợp lý toàn diện theo tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học đã xác định mô hình “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ” trong việc giải thích một các hợp lý, không chỉ dừng lại ở những ví dụ trong bài này. Mà còn ở tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến nó; từ Tử Vi, Địa Lý phong thủy, Đông y… được trình bày ở hai cuốn sách “Minh triết Việt trong văn minh Đông phương”“Tìm về cội nguồn kinh Dịch”. Anh chị em có điều kiện, nên tham khảo hai cuốn sách này.

Bây giờ, chúng ta tiếp tục tham khảo về tính quy ước biểu kiến của 12 Địa Chi – là yếu tố tương tác thứ 3 trong khóa “Luận Tuổi Lạc Việt” và sự phân loại Ngũ hành, liên hệ với một thực tại mà nó mô tả theo đúng tiêu chí khoa học đã trình bày.

VII.II. THÁI TUẾ – MỘC TINH VÀ BẢN CHẤT CỦA ĐỊA CHI.

Có lẽ tất cả người Đông phương đều biết chu kỳ của Địa Chi có 12 năm. Và trong ứng dụng của Lý học Đông phương thì mỗi năm Địa Chi đều có một vị sao gọi là sao Thái Tuế chiếu theo phân độ 30 độ của 24 phương vị gọi là “sơn” quy ước trong mặt phẳng Hoàng Đạo của trái Đất và đúng năm Địa Chi của năm đó. Thí dụ:

Năm nay 2020, là năm Canh Tý thì sao Thái Tuế trong cổ học Đông phương chiếu hai sơn Nhâm/ Tý, tương ứng mỗi sơn 15 độ. Sang năm 2021 là năm Tân Sửu, Thái Tuế chiếu hai sơn Quý/ Sửu…. Anh chị em xem hình minh họa dưới đây:

MÔ HÌNH MINH HỌA SAO THÁI TUẾ TƯƠNG TÁC VỚI ĐỊA CẦU QUA 12 ĐỊA CHI.

Vậy bản chất của 12 Địa Chi là gì?
Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, tôi đã xác định một cách độc lập:

Sao Thái Tuế trong Lý học Đông phương, chính là sao Mộc trong chín hành tinh của Hệ Mặt trời và là ngôi sao lớn nhất sau mặt Trời gần Địa cầu.
Trong các bản văn cổ thư chữ Hán – đã dịch ra tiếng Việt – mà tôi sưu tầm được một cách hạn chế trong những giai đoạn đầu nghiên cứu, cũng xác định sao Thái Tuế thuộc hành Mộc và họ cũng gọi là Mộc tinh, Nhưng không xác định là sao Mộc trên Thái Dương hệ. Tất nhiên, đó là do sự hạn chế của một phương tiện kỹ thuật là kính Thiên Văn, của nền văn minh Đông phương vào thời Trung cổ về trước. Một thời, trên dd tuvilyso. com – từ cuối 2002 đến 2006, tôi cũng bị nhiều ý kiến phản đối. Nhưng sau này, từ nhiều phương pháp tiếp cận khác của các nhà nghiên cứu, họ cũng xác định điều này.

Cũng theo Thư Viện Mở thì chu kỳ quỹ đạo của sao Mộc là: 4.335,355 ngày, hay11 năm 309 ngày, tức 11,87 năm Dương lịch. Thiếu 56 ngày thì tròn 12 năm Dương lịch. Nhưng năm Âm lịch chỉ có 354, 367 ngày. Trong một năm, Âm lịch thiếu 10 ngày so với Dương lịch. Với 12 năm sẽ thiếu 90 ngày. Trong 12 năm Âm lịch đó, số ngày 12 năm Âm lịch Đông phương là 4. 252 ngày, nhưng do bổ sung thêm ba tháng nhuận có 90 ngày + 4, 252 = 4342. Con số này gần như trùng khớp với chu kỳ quay quanh mặt trời của sao Mộc – Thái Tuế – với 12 năm Âm lịch được đặt tên theo 12 Địa Chi, sai số vài ngày. Tức là: Chu kỳ sao Mộc 4, 335 & 4342 ngày của 12 năm Âm lịch Đông phương. Đây cũng chỉ là con số ước tính, gần đúng.

Nhưng với con số 4. 335 ngày chu kỳ sao Mộc và 4. 342 ngày chu kỳ 12 năm Âm lịch của Trái Đất rõ ràng là tương đương nhau về mặt quy ước thời gian. Qua đó, cho ta thấy hoàn toàn có cơ sở để xác định: Chính chu kỳ của sao Thái Tuế – Mộc tinh quay quanh mặt trời, là cơ sở của chu kỳ 12 Địa Chi, được đặt tên quen gọi là 12 con Giáp của Việt lịch. Và Mộc tính chính là ngôi sao lớn nhất sau mặt Trời gần Địa cầu, nên có tương tác mạnh nhất lên Địa cầu.
Bây giờ, chúng ta lại so sánh, đối chiếu chu kỳ sao Mộc và chu kỳ 12 Địa chi và Hà đồ để thấy tính hợp lý trùng khớp trong các vấn đề liên quan đến nó

Mô hình 12 Địa chi phân loại Ngũ hành tương sinh theo chiều kim đồng hồ, Hoàn toàn trùng khớp với chiều Ngũ hành tương sinh trên Hà Đồ.
Anh chị em so sánh hai mô hình dưới đây về tính chất Ngũ hành trên Hà đồ và tính chất Ngũ hành của 12 sơn Địa Chi trong cấu trúc 24 sơn của mô hình biểu kiến “Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” với Địa cầu.

MÔ HÌNH MINH HỌA SAO THÁI TUẾ TƯƠNG TÁC VỚI ĐỊA CẦU QUA 12 ĐỊA CHI.

 

Anh chị em lưu ý:
Cấu trúc Ngũ hành của 12 Địa Chi trong 24 sơn cũng thể hiện trên La kinh, dùng trong Địa Lý phong thủy. Do đó, nó cực vô lý, khi phối với Lạc thư. Anh chị em so sánh hai hình dưới đây, để thấy sự sai lệch về Ngũ hành giữa 12 sơn Địa Chi trong 24 sơn của La kinh Tàu. Cụ thể:
1/ Các hành Tỵ/ Ngọ thuộc Hỏa, lại nằm trong hành Kim, trên “Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương”.
2/ Các hành Thân/ Dậu thuộc Kim, lại nằm trong hành Hỏa, trên “Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương”.

3/ Chu kỳ 12 Địa Chi trong 24 sơn phương vị là chu kỳ Ngũ hành tương sinh, thì chu kỳ trên Lạc thư lại là Ngũ hành tương khắc ngược chiều kim đồng hồ.

MÔ HÌNH LA KINH DÙNG TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY TÀU & LẠC THƯ.

Tính bất hợp lý và phi khoa học cho một lý thuyết khoa học của mô hình “Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư”, còn thể hiện ở hai độ số Kim 9 Đoài, thì lại nằm tại hành Hỏa 7 của Lạc thư. Và Ly Hỏa 7 lại nằm lại nằm ở độ số 9 của Lạc thư.
Ngược lại, với mô hình mang tính nguyên lý căn để “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ” – nhân danh nền văn hiến Việt – thì chiều Ngũ hành tương sinh của 12 Địa Chi trong 24 sơn trên mô hình La Kinh hoàn toàn trùng khớp một cách hợp lý. Anh chị em xem hình dưới đây:

MÔ HÌNH LA KINH LẠC VIỆT VÀ HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT

Tính hợp lý lý thuyết và phù hợp với tiêu chí khoa học của nguyên lý căn để “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ”, không chỉ ở tính nhất quán, có hệ thống với chiều ngũ hành tương sinh của 12 Địa Chi. Mà còn là sự hợp lý lý thuyết trong Dịch học với bốn quái Tứ Chính, được xác định là:

1/ Đoài Dương Kim, độ số 9, nằm ở hành Kim trên Hà đồ. (Sách Tàu nằm ở số 7 Hỏa trên Lạc Thư)

2/ Khảm Dương Thủy, độ số 1, nằm ở hành Thủy trên Hà đồ.

3/ Chấn Dương Mộc, độ số 3, nằm ở hành Mộc trên Hà đồ.

4/ Ly Dương Hỏa, độ số 7, nằm ở hành Hỏa trên Hà đồ. (Sách Tàu nằm ở số 9 Kim trên Lạc Thư)

KẾT LUẬN BÀI VII.

Một tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng, xác định với nội dung như sau:
Một lý thuyết được coi là khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được.

Do đó, trong bài VII này, tôi đã trình bày căn nguyên của mô hình 12 Địa Chi ứng dụng trong các ngành ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, chính là căn cứ vào sự tương tác có tính quy luật của sao Mộc – Thái Tuế – là ngôi sao lớn sau mặt Trời gần trái Đất nhất và là một thực tại quan sát được từ bầu trời Thái Dương hệ. Vì sự trùng khớp gần như hoàn hảo của chu kỳ sao Thái Tuế với 12 năm Địa Chi.
Từ đó, anh chị em sẽ thấy rõ tính khoa học của các ngành dự báo Đông phương, chính là từ sự tương tác mang tính quy luật vận động của vũ trụ. Và đó cũng là cơ sở để chúng ta tiếp tục tham khảo sự tương tác của 12 Địa Chi trong khóa học “Luận Tuổi Lạc Việt”, qua các bài học tiếp theo dưới đây.

Đăng tải tại Các Đề Tài Khác | Để lại phản hồi