PHÂN TÍCH TÍNH PHI KHOA HỌC CỦA LUẬN ĐIỂM PHỦ NHẬN VĂN HÓA SỬ TRUYỀN THỐNG VIỆT

PHÂN TÍCH BÀI VIẾT CỦA ÔNG LÊ VĂN LAN
Về khái niệm thời Hùng Vương
Tiếp theo

Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy tôi đã chứng minh với quí vị rằng: Những tư liệu mà ông Lê Văn Lan và những người đồng quan điểm với ông ta đã không đủ sức thuyết phục để phủ nhận giá trị truyền thống văn hóa sử Việt. Và chính ông ta cũng phải thừa nhận – mặc dù là sự thừa nhận yếu ớt và mơ hồ. Vì nếu thừa nhận thẳng thắn thì còn gì là “luận cứ khoa học” trong bài viết của ông ta nữa. Bởi vậy, ông ta và những người đồng quan điểm với ông phải tìm cứu cánh ở một cơ sở khác: Đó là khảo cổ học để minh chứng cho những luận cứ mà họ gọi là khoa học. Nhưng họ lại sai lầm rất lớn khi đặt những giá trị phủ nhận của họ vào khảo cổ, trong lúc họ không có một hệ luận thuyết phục và hợp lý trên cơ sở những di vật khảo cổ tìm được và địa danh lịch sử của nó. Điều này tôi sẽ phân tích và chỉ ra sai lầm này qua đoạn trích dẫn dưới đây – là sự tiếp nối liên tục trong bài viết đã dẫn của ông Lê Văn lan ở trên. Ông Lê Văn lan viết;

Nội dung trích dẫn
Tuy vậy, hiển nhiên là dù sao, những điều ghi chép của tài liệu thư tịch cũng chưa thể làm thỏa mãn người ta về thời gian tồn tại của “thời Hùng Vương” được. Nhưng bù lại chính là tử những tài liệu thư tịch này, những ấn tượng đầu tiên, bao quát và cơ bản, những hiểu biết đại thể về một không khí chung của “thời Hùng Vương” đã được ghi nhận. Và chính là cái diện mạo, cái thần sắc của một thời đại như thế đã là cơ sở, tạo điều kiện để động viên một nguồn tư liệu khác, có khả năng rất quyết định trong việc xác định những niện đại tuyệt đối, cụ thể, là tài liệu khảo cổ học. Sở dĩ có thể coi những niên đại tuyệt đối, chẳng hạn như 3405 ± 100 năm của di chỉ Tràng Kênh, 3328 ± 100 của di chỉ Vườn Chuối, 3046 ± 120 của di chỉ Vinh Quang hay 2350 ± 100 năm của di chỉ Chiền Vậy (1) là nằm trong niên đại chung của “thời Hùng Vương”, chính là vì ở các địa điểm khảo cổ đó, cũng thấy xuất hiện cái diện mạo, cái thần sắc, của một thời đại giống như cái diện mạo, cái thần sắc mà tài liệu thư tịch đã nói về “thời Hùng Vương”. Hơn thế nữa, chẳng phải là chỉ có cái không khí chung như vậy, mà còn có cả sự tương đồng đến những chi tiết cụ thể. Chẳng hạn như khi thư tịch về “thời Hùng Vương” nói có nhà sàn, thì khảo cổ học cũng tìm thấy di tích nhà sàn; khi thư tịch nói: có tục giã cối, thì hình ảnh khảo cổ học về cối chày xuất hiện; khi thư tịch nói: cắt tóc ngắn và ăn cơm nếp thì khảo cổ học cũng lại tìm thấy tượng người có mớ tóc ngắn và cái chõ đồ xôi!
(1) Tất cả đều trước năm 1950.

Dĩ nhiên, không phải lúc nào cũng vuông tròn, ràng rẽ như vậy. Từ ba năm nay, hàng chục cuộc tranh luận đã diễn ra, chính là để cho quan niệm của các nhà khảo cổ học và niên đại những di tích thuộc “thời Hùng Vương” có thể được làm sáng tỏ và tốt nhất là nhích lại gần nhau. 2 văn hóa hay 4 văn hóa hay chỉ 1 văn hóa là điều đã tranh luận và sẽ còn phải tranh luận. Cũng như, trong khi chưa hoàn toàn giải quyết được vấn đề này, thì một phương hướng “hòa hoãn” khác là tránh “văn hóa” mà tìm “giai đoạn”, lại cũng dẫn ngay đến sự tranh luận 4 giai đoạn hay 6 giai đọan. Những công việc thuần túy khảo cổ học này chính là nhằm đảm bảo tính chính xác và độ phong phú của những tài liệu khảo cổ học cho các nhà nghiên cứu có thể sử dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu “thời Hùng Vương”. Và điều quan trọng rất đáng ghi nhận là đến lúc này, hầu hết các nhà khảo cổ học, tuy còn những “tiểu dị” nhưng đã “đại đồng” xác nhận hai cái mốc lớn cho thời gian đầu và cuối “thời Hùng Vương” về mặt khảo cổ học, là Phùng Nguyên và Đông Sơn. Chính vì vậy mà chúng tôi rất phấn khởi khi được đọc những dòng chữ cô đọng mà đầy đủ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói trực tiếp về vấn đề này: “Phát hiện một nền văn hóa lâu đời hơn văn hóa Đông Sơn, sản sinh trên đất nước ta, cùng với văn hóa Đông Sơn hình thành một sự diễn biến văn hóa và lịch sử liên tục từ khoảng cuối thời đại đồ đá mới, qua thời đại đồ đồng đến thời đại đồ sắt sớm” (2).
(2) Phạm Văn Đồng: Nhân ngày Giỗ tổ Vua Hùng, – Khảo cổ học, Hà Nội, số 1, tháng 6-1969, tra. 17.

Đối với những nền văn hóa với ý nghĩa như thế, những người làm công tác khảo cổ đã cố gắng tiến hành nhiệm vụ đầu tiên của mình là xác định niên đại.
Có nhiều người, từ năm 1960 cho tới bây giờ (3), đã đoán định niên đại tuyệt đối cho văn hóa Phùng Nguyên là khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên, cách ngày nay khoảng từ 3 đến 4 nghìn năm. Những kết quả phân tích các bon phóng xạ đồng vị (C14) mới đây đã góp phần xác nhận rằng điều đoán định này căn bản là chính xác.
(3) Đào Tử Khải (ý kiến đầu tiên), Nguyễn Linh, Hoàng Xuân Chinh, Trần Quốc Vượng, Lê Văn Lan…

Cũng có nhiều người làm công tác khảo cổ, ngay từ năm 1961 cho đến bây giờ (1) đã xác định niên đại tuyệt đối của văn hóa Đông Sơn là khoảng thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên, cách ngày nay khoảng từ 2 đến 3 nghìn năm.
(1) Lê Văn Lan (ý kiến đầu tiên), Nguyễn Linh, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Đào Duy Anh…

Với tính chất và ý nghĩa quan trọng của “một sự diễn biến văn hóa và lịch sử liên tục”, chúng ta có một khoảng thời gian liền hai thiên niên kỷ, từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn, cách đây từ 4 đến 2 nghìn năm. Như đã trình bày ở trên, giới khảo cổ học nói chung thống nhất nhận thấy rằng từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn là cơ sở khảo cổ học của “thời Hùng Vương”.

Vậy là, khảo cổ học, bằng những phương pháp của “một khoa học, gần như khoa học chính xác” đã đầu tiên xác định được một khung niên đại chắc chắn cho “thời Hùng Vương”. Khung niên đại này phù hợp, đúng hơn là trùng hợp, rõ hơn là ngẫu nhiên trùng hợp với khung niên đại phổ biến của thư tịch – khung niên đại còn mang nhiều nghi vấn, mà vì những lí do vừa trình bày ở trên, đã truyền lan rộng rãi từ trước tới nay về “thời Hùng Vương”. Một ý nghĩa rất đáng ghi nhận ở chỗ này là: nếu có thể nói đến một đóng góp, thì chính là khảo cổ học, bằng những thành tựu mới của mình, đã đem lại cái bộ xương, cái nền tảng khoa học cho những cách nhận thức và những tình cảm của chúng ta về niên đại lâu đời của “thời Hùng Vương”.

*
* *

Nhìn vào Phùng Nguyên với hiện trạng tư liệu như bây giờ về diện phân bố các di tích và các mặt phát triển kỹ thuật, kinh tế, văn hóa…, có thể nghĩ đến một cái mầm. Để cho cái mầm quý này nảy nở và mọc lên xanh tốt, những cư dân cổ ở đây đã phải mất khoảng 1000 năm lao động và đấu tranh. Và kết quả là những tiền đề cơ bản và trực tiếp đã được tạo ra cho một cái gốc vững vàng. Cảm nghĩ về cái gốc kỳ diệu này dễ dàng nảy ra khi nhìn vào Đông Sơn.

Từ lâu và nhiều người đã nói vê Đông Sơn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá chính xác sự “nổi tiếng thế giới” của văn hóa này, kèm với lời biểu dương công tác khảo cổ thời gian gần đây đã “làm thêm rực rỡ” nền văn hóa đó. Và không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu chúng ta đã tập trung khai thác tư liệu về mọi mặt của văn hóa này để nghiên cứu về “thời Hùng Vương”. Việc đã hình thành một hệ thống các luận điểm về các mặt tự nhiên, con người, kinh tế, chính trị và nhất là văn hóa, xã hội của “thời Hùng Vương” dựa trên những tư liệu của Đông Sơn như hiện nay, cho thấy dường như rất đông đảo các nhà nghiên cứu đã mặc nhiên coi Đông Sơn là cơ sở khảo cổ học của bước phát triển đáng chú ý nhất của tòan bộ “thời Hùng Vương”, nếu không phải là chính ngay thời Hùng Vương – hiểu với nghĩa cụ thể, không mở rộng, của từ này.

Niên đại của văn hóa Đông Sơn đã được xác định là khỏang thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên, và bước phát triển cao nhất của bước văn hóa này là những thế kỷ giữa thiên niên kỷ đó. Chính ở đây đã có sự không thể gọi là “trùng hợp ngẫu nhiên” nữa mà phải gọi đúng là sự ăn khớp kỳ lạ giữa tài liệu khảo cổ học và tài liệu thư tịch. Như đã nói trên, Đại Việt sử lược đã chép về sự xuất hiện của các Vua Hùng, sự thành lập nước Văn Lang với những khẳng định về niên đại tuyệt đối là từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên.

Một cái gốc vững vàng đã hình thành để rồi chồi cây có thể mọc tiếp lên (1). Thời kỳ nước Âu Lạc và An Dương Vương cùng với những cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống sự xâm lược và thống trị của nhà Triệu, nhà Hán, cho đến thời Hai Bà Trưng, đã được ghi chính thức trên sử sách giấy tờ từ lâu rồi. Ở bước phát triển này của lịch sử, chỉ có những Vua Hùng cụ thể là không thấy nữa, nhưng “thời Hùng Vương” với toàn bộ cấu trúc của nó vẫn còn. Khảo cổ học cũng cho thấy từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên đến đầu Công nguyên, văn hóa Đông Sơn đang tồn tại ở bước phát triển cuối cùng.
(1) Đỗ Văn Ninh: Chồi Âu Lạc mọc từ gốc Văn Lang – Khảo cổ học, Hà Nội, số 3-4, tháng 12-1969, tr. 89.

Qua đoạn trích dẫn trên thì chúng ta thấy rằng: Ông Lê Văn lan đã sử dụng di vật khảo cổ tìm được để biện minh cho khiếm khuyết về tư liệu. Mới nghe qua thì tưởng như đó là những bằng chứng khoa học và có tính thuyết phục. Nhưng tôi xin chỉ ra tính phi khoa học và chủ quan về phương diện khảo cổ và phương pháp phân tích của ông Lê Văn lan và những nhà khảo cổ có chung quan điểm với ông trên nguyên tắc như sau:
Khảo cổ không phải là bằng chứng duy nhất chứng minh cho lịch sử.
Những di sản khảo cổ chỉ thể hiện ý nghĩa tự thân của nó trong thời đại mà nó xuất hiện. Cho dù người ta sử dụng những phương tiện khoa học để xác minh chính xác đến từng giây di vật đó ra đời thì cũng không nằm ngoài khái niệm “ý nghĩa tự thân của nó trong thời đại nó xuất hiện”. Thí dụ ta đào được một cái trống đồng tại Cổ Loa và xác định chính xác niên đại cùng thời với trống đồng Đông Sơn. Thì điều đó chỉ có nghĩa rằng vào một thời điểm Đông Sơn đã có người dùng trống đồng và nó được tìm thấy ở địa chỉ Cổ Loa, sau hàng ngàn năm chìm trong lòng đất. Đó là ý nghĩa tự thân của di vật này. Chấm hết. Di sản khảo cổ chỉ mang trong nó với tư cách là hiện tượng lịch sử. Nhưng từ di sản khảo cổ này, người ta phải tiếp tục liên hệ nó và giải thích nó với các mối quan hệ lịch sử đương đại sản sinh ra nó. Và điều này thì lại cần những giá trí thức liên quan đến thời đại sản sinh ra di vật khảo cổ này. Nhưng chính khả năng của những trí thức liên quan này sẽ quyết định tính chân lý cho luận điểm liên quan đến thời đại có di sản khảo cổ đó. Tất nhiên – lúc này tính khoa học hay không, nó sẽ phụ thuộc vào cái tri thức đó là thông minh hay không lấy gì làm thông minh lắm. Không thể tìm thấy di vật gì thì thời đại đó chỉ giới hạn trong di vật khảo cổ tìm được.

Tôi cũng đã hân hạnh được trao đổi với giáo sư sử học Trịnh Sinh qua sự giới thiệu của người bạn tôi là Lưu Đức Hải – cuộc gặp xảy ra ngay trong văn phòng của giáo sư Hải. Trong cuộc trao đổi với giáo sư Trịnh Sinh tôi cũng đã đặt vấn đề này. Sau đó chúng tôi đi uống bia hơi Hanoi rất thân mật. Tôi có chụp ảnh kỷ niệm. Nhưng đã quá lâu, không biết những tấm ảnh đó để đâu.
Trên cơ sở của nguyên tắc này thì chúng ta thấy gì qua những địa danh khảo cổ mà ông Lê Văn Lan dẫn chứng?
1 – Những địa danh khảo cổ này chỉ giới hạn ở vùng lãnh thổ Bắc Việt Nam hiện nay. Trong khi chúng ta đều biết rất rõ rằng truyền thuyết văn hóa sử của dân tộc Việt được chính sử xác nhận:
Nước Văn Lang bắc giáp Động Đình hồ, Tây giáp Ba thục, đông giáp Đông Hải và nam giáp Hồ Tôn.
Vậy thì với những địa danh mà ông Lê Văn Lan giới thiệu hoàn toàn không đủ tư cách là bằng chứng khoa học phủ nhận những giá trị truyền thống văn hóa sử đã ghi nhận. Khi mà nhưng bằng chứng khảo cổ của ông ta và những người đồng quan điểm không hề liên quan đến không gian địa lý mà truyền thống văn hóa sử và chính sử nói tới.
Ngược lại, chính những nhà nghiên cứu sử và khảo cổ học trên lãnh thổ Trung Hoa hiện nay lại thừa nhận sự tồn tại của một nền văn minh rực rỡ ở bờ nam sông Dương tử, mà họ gọi là vương quốc Ba. Điều này chính VnExpress trích dẫn từ Tân Hoa Xã và đăng tải nguyên văn như sau:

Nội dung trích dẫn
Thứ ba, 1/7/2003, 18:06 GMT+7
PHÁT HIỆN MỘ CỔ BÍ ẨN Ở TRUNG QUỐC
Các nhà khảo cổ nước này vừa khai quật một ngôi mộ hơn 2.500 tuổi, có thể thuộc về một vị vua của triều đại Ba (Ba Kingdom) bí ẩn. Ngoài 500 đồ vật bằng đồng, trong mộ còn có bộ xương của 2 người đàn bà và một người đàn ông, mặt ngửa lên trời và hướng về phía đông.
Nhóm nghiên cứu cho rằng đó có thể là những tuỳ tùng hoặc chư hầu được chôn cùng vị vua. Nếu được xác nhận, đây sẽ là phát hiện khảo cổ quan trọng nhất liên quan tới triều đại Ba.

Ngôi mộ nằm ở Luo Jiaba, tỉnh Tứ Xuyên, mang đặc điểm điển hình của một ngôi mộ thuộc đẳng cấp cao nhất trong số các ngôi mộ thuộc triều đại Ba đã được tìm thấy. 31 ngôi mộ khác cũng đã được khai quật ở khu vực. Hầu hết các đồ đồng là vũ khí (như giáo, gươm, dao găm và rìu), hay các vật cúng tế tương ứng với vị trí tối cao của chủ nhân ngôi mộ.
Triều đại Ba bao trùm các vùng Tứ Xuyên, Hồ Nam và nhiều nơi khác ở miền nam Trung Quốc trước khi biến mất một cách bí ẩn khoảng 2.000 năm trước đây. Người dân thời đại này được miêu tả là những chiến binh hiếu chiến và gan dạ. Tuy vậy, nguồn gốc, cấu trúc xã hội và văn hoá của họ vẫn còn là một điều bí ẩn.
Minh Thi (theo Tân Hoa Xã)

Như vậy, quí vị quan tâm cũng thấy rằng: Chính những di sản khảo cổ mà người Trung Quốc tìm được xác nhận một cách khách quan truyền thuyết của dân tộc Việt từ hàng ngàn năm trước về một quốc gia Văn Lang bao trùm miền nam sông Dương Tử. Và điều này xác định một cách chân xác rằng: Nhưng suy luận thông qua những di vật khảo cổ đào bới được ở tất cả các địa danh mà ông Lê Văn Lan và những người đồng quan điểm với ông hoàn toàn phiến diện và chủ quan, không hề có cái gọi là cơ sở khoa học. Khi mà di sản khảo cổ tìm được còn phụ thuộc vào khả năng tri thức của người phân tích mối liên hệ giữa di sản khảo cổ đó với thời đại liên quan đến nó, như tôi đã trình bày ở trên. Tiếc thay! Đó lại là khả năng phân tích của “hầu hết những nhà khoa học trong nước” được “cộng đồng khoa học thế giới thừa nhận”.
Còn tiếp.

Bài này đã được đăng trong Các Đề Tài Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.