HUYỀN VĨ NỀN VĂN HIẾN VIỆT

Nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm một thời huyền vĩ ở miến nam sông Dương Tử là một chân lý. Nền văn hiến này đã sụp đổ từ năm 258 trước Công Nguyên và bị vùi dập bởi thời gian trải hơn hai thiên niên kỷ (Theo chính sử dù bị đặt ở phần Ngoại kỷ). Nhưng sc sống mạnh mẽ của nó vẫn tiềm ẩn trong sự thăng trầm của dân tộc Việt.

 

Từ bờ tre, mái đình trong làng.

Từ mái tranh gốc rạ bên đường…

Nguồn sử xanh vẫn còn ghi dấu.

 

 

Lời nhạc phẩm Hòn Vng Phu – cố nhạc sĩ Lê Thương

 

Nhưng vào những năm 80 của thế kỷ trước, những học giả háo danh và kiến thức hạn chế chiếm số đông trong nước và trên thế giới đã mở một đợt tấn công ồ ạt nhằm xoá bỏ niềm tự hào về nền văn hiến trải gần 5000 năm của dân tộc Việt. Nhưng chân lý tự nó phải sáng tỏ, một số học giả ít ỏi Việt Nam đã cố gắng chứng minh cho những giá trị văn hóa truyền thống. Họ đã cố gắng tìm tòi trong đống đổ nát của nền văn minh Lạc Việt từ hàng ngàn năm trước để lấy ra những bằng chứng sắc sảo minh chứng cho sự huyền vĩ của nền văn hiến Việt từ thời Hùng Vương dựng nước. Một trong những thành tựu của phần ít ỏi còn lại sau khi đã trừ đi caí “Hầu hết những nhà khoa học trong nước” chính là những phát hiện của giáo sư Lê Mạnh Thát.

Trong cuốn sách đã xuất bản năm 1998 “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại”, thông qua việc phân tích những hình tượng trong truyện “Sự tích Cây Nêu” qua hình tượng chiếc áo cà sa của Đức Phật phủ bóng lên câu Nêu để giúp con người, Thiên Sứ tôi đã cho rằng: Đây chính là biểu tượng của Phật giáo che chở cho những giá trị văn hoá Việt – qua hình tượng Cây Nêu – trong giai đoạn lịch sử u buồn của hơn 1000 năm Bắc thuộc. Sự phát hiện của giáo sư Lê Mạnh Thát về những gía trị văn hiến Việt trong trong Kinh Phật chính là một trong những chứng nhân của lời dự báo này.

Mặc dù chưa hoàn nhất trí với giáo sư Lê Mạnh Thát về một số kết luận của giáo sư về một vài vấn để lịch sử, nhưng tôi thật sự xúc động với những phát hiện của giáo sư với những tư liệu liên quan đến văn hoá Việt.

Tôi tán thành quan điểm của ông Hà Văn Thịnh qua bài viết dưới đây.

*

Nguồn Thanh Niên Online

Hãy trân trọng những phát hiện mới về lịch sử dù nhỏ nhất!

Hà Văn Thịnh

Loạt bài về Những phát hiện lịch sử chấn động của thiền sư Lê Mạnh Thát đăng trên BáoThanh Niên trong mấy ngày vừa qua được dư luận đặc biệt quan tâm.

1. Người viết bài này đã đọc và trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của Lê Mạnh Thát (LMT) khá nhiều, đặc biệt là qua hai bài đã công bố trên Kiến thức Ngày nay số 258, 10.4.2005: Trần Nhân Tông với chữ Nhân và Ngoại giao Trần Nhân Tông. Chính vì thế, về linh cảm và từ niềm tin đã có sẵn, chúng tôi tin những công bố của LMT là có cơ sở nhất định. Tuy nhiên, khoa học không thể bắt đầu bằng cách thức cảm nhận như thế nên chúng tôi mong muốn các nhà sử học hãy quan tâm đến vấn đề này. Dù không thể tránh khỏi sai sót, những ý kiến của thiền sư LMT là cực kỳ ấn tượng và nhất là, mang tính dự báo cho bước đột phá quan trọng đối với việc dựng lại những trang sử của dân tộc trong các thời kỳ không có hoặc thiếu sử liệu. Hội Sử học Việt Nam, các trường ĐH và các trung tâm nghiên cứu phải vào cuộc vì đó là trách nhiệm của các vị. Có như thế thì chúng ta mới có thể tập hợp được ý kiến để đề nghị Nhà nước thành lập một hội đồng thẩm định nhằm xem xét và đánh giá một cách khách quan, cẩn thận toàn bộ tư liệu mà LMT có – dù chưa hoặc đã công bố.

2. Không ít nhà sử học từ lâu đã nghi ngờ lịch sử giai đoạn Triệu Đà – An Dương Vương lâu nay được viết chủ yếu bằng truyền thuyết và những chứng cứ muộn màng, sai lệch. Thậm chí, trong toàn bộ Bộ Lịch sử Việt Nam – kể cả SGK cho học sinh lẫn chính sử đều có không ít những nhầm lẫn đáng tiếc. Nhưng, tất cả những lời phàn nàn hay than vãn từ báo chí đều trôi tuột theo độ nghiêng của nhận thức hay nói theo cách của Đức Phật (Budha): “Lặng im như một bếp lửa vừa tàn”. Và cũng vì thế, hết năm này sang năm khác chúng ta cứ mãi hoài kêu ca về tình trạng con cháu không thích học sử dân tộc, thi môn sử phần nhiều là điểm kém. Vì vậy, tôi nghĩ đóng góp to lớn và nhiều ý nghĩa nhất của thiền sư LMT là ở chỗ ông đã bổ nhát cuốc đầu tiên để khai phá rồi ươm trồng những hạt giống nhận thức mới về lịch sử. Có thể ý kiến của LMT có rất nhiều chỗ đáng bàn, chẳng hạn như đoạn viết về Việt luật (mà thật ra là luật tục) hay kết luận hơi sớm khi cho rằng bài Việt ca do Lưu Hướng chép (thế kỷ I tr.CN) là Việt ca của Việt Nam trong khi nhiều nghiên cứu nói rằng Việt ca đó của người Bách Việt ở vùng Giang Tô – Hán Thủy… (Hai điểm cần bàn mà tôi vừa dẫn là ý kiến của TS Nguyễn Việt, GĐ Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á đăng trên Báo TT&VH ngày 11.3.2008). Các ý kiến khác như của nhà sử học Dương Trung Quốc và nhà biên khảo lịch sử Trương Thái Du (cũng đăng trên TT&VH trong mấy ngày gần đây), có một điểm chung là sự dè dặt, vừa phải trong đánh giá, công nhận hoặc phê phán. Sự cẩn trọng trong khoa học là tiêu chí cần phải có nhưng ngược lại, nếu cái gì cũng chung chung, từ từ thì làm sao chúng ta cùng nhau tiến hành tìm tòi, nghiên cứu một cách nghiêm túc những điều còn mơ hồ trong lịch sử? Cái đáng quý và cần được ghi nhận một cách trân trọng là ở chỗ, thiền sư LMT đã buộc tất cả những nhà nghiên cứu lịch sử nước ta và cả những ai quan tâm đến lịch sử phải có một thay đổi thật sự trong cách tiếp cận, cách hiểu và diễn giải lịch sử.

3. Thiền sư LMT đã “biết mình, biết người” nên mới công bố một cách gián tiếp quan điểm lịch sử mới của mình. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, các giáo sư như Đinh Xuân Lâm, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê đã dạy chúng tôi rằng chỉ cần một phát hiện nhỏ thôi nhưng mới, như thế cũng đáng để bỏ ra tâm nguyện cả đời. Thiền sư LMT và cuốn sách nghiên cứu về Lục độ tập kinh (và nhiều cuốn khác, chẳng hạn như Toàn tập Trần Nhân Tông, NXB TP.HCM, 2000) của ông có một vị trí đặc biệt. Đừng vội chê trách thiền sư LMT không phải là một nhà sử học chuyên nghiệp để ngụ ý phủ định đóng góp của thiền sư. Tôi từng biết rất nhiều nhà sử học khôngchuyên nghiệp nhưng lại cực giỏi như Nguyễn Đắc Xuân, Dương Phước Thu, Phan Thuận An ở Huế. Mặt khác, khoảng cách giữa lịch sử và tư liệu lịch sử là điều ai cũng biết nhưng dám và biết nhận ra điều đó mới là điều khó.

Đã tới lúc các nhà sử học phải đặt câu hỏi rằng tại sao dân tộc Việt Nam phi thường và vinh quang như thế, quật cường và giàu vị tha như thế, mà nhiều trang sử lại được viết sơ sài và khô khan đến thế?

Hà Văn Thịnh
(Giảng viên khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Huế).

 

Hic! Thấy thiên hạ tranh “nuận” mà Thiên Sứ ngẩn ngơ buồn. Xủi một wẻ Lạc Việt độn toán xem thế “lào”:

Giờ Tý ngày mùng 7 tháng Hai – Mậu Tý:

Thương Lưu Niên.

Thì ra cái “zdấn đề” không phải chiện này , nó chỉ là cái cớ để bàn sang chiện khác.Chiện khác là chiện gì nhỉ?

Đỗ Tốc Hỷ

– Ánh sáng từ phương Nam?! Nếu thế thì hay đấy!

Híc! Hãy chờ đến hè hoặc đến tháng 9 / 10 Mậu Tý xem sao? Muộn nữa thì sang năm mọi chiện sẽ đâu vào đấy! Hì!

 

Cuối thu năm Mậu Tý, …..

Lời nhạc phẩm Hòn Vong Phu của cố nhạc sĩ Lê Thương

Nền văn hiến Việt cho đến giờ này vẫn rất huyền vĩ.

Thiên Sứ
Bài này đã được đăng trong Lý Học Đông Phương. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.