NGÔN NGỮ VIỆT VÀ THƠ ĐƯỜNG.

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Từ 500 năm trước, trong một cuộc hội thảo khoa học về Kinh Dịch tại Hanoi, lão Gàn lớn tiếng phát biểu:
– Tiếng Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong lịch sử văn minh nhân loại.
Cử tọa, toàn là giáo sư tiến sĩ, đủ các kiểu cười ồ! Tất nhiên, lão biết trước điều này. Nhưng vì nói chuyện với toàn những nhà khoa học, nên lão rất tin rằng họ sẽ định tâm hơn, so với số đông dân làng Fb Vũ Đại, gần đủ các thành phần> Chí Phèo Bá Kiến…Nên lão dõng dạc nói tiếp với một trong những luận cứ căn bản, để chứng minh:
– Thưa quý vị. Bằng chứng đây: Tiếng Việt có thể dịch bất cứ ngôn ngữ nào ra tiếng Việt một cách hoàn chỉnh. Nhưng ngược lại, không phải bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng dịch được tiếng Việt ra ngôn ngữ của họ.
Cử tọa im lặng. Ngay cả ông Nguyễn Khắc Viện, dịch chuyện Kiều ra tiếng Pháp – là ngôn ngữ thứ 2 của ông. Bản dịch cũng rất khó khăn. Và nó không còn hồn thơ huyền vĩ của truyện Kiều từ ngôn ngữ Việt.
Trong khóa MHVD, tôi cũng chứng minh và xác định với anh chị em học viên là: Một trong ba yếu tố quyết định sự phát triên, để hình thánh một học thuyết, là: “Phải có một nền tảng ngôn ngữ tương ứng để mô tả được nó” (Hai yếu tố còn lại, là: 1/ Nền tảng trí thức của nền văn minh; 2/ Sự phát triển của phương pháp tư duy tổng hợp trừu tượng). Từ đó, xác định rằng:
Chỉ có ngôn ngữ VIỆT, mới đủ đẳng cấp để mô tả một hệ thống LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT.
Thưa quý vị và các bạn.
Bài thơ có gốc là phương pháp thơ Đường Luật – mà tôi hân hạnh giới thiệu với quý vị và các bạn dưới đây – một lần nữa làm sáng tỏ luận điểm của tôi> Không thể dịch ra bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào mà giữ được hai yếu tố: Chất thơ và sự huyền vĩ của ngôn ngữ.
Thưa quý vị và các bạn.
Từ rất lâu, tôi đã xác định rằng: THƠ ĐƯỜNG và phương pháp thể hiện > Không phải có xuất xứ từ đời nhà Đường bên Tàu. Mà nó có nguồn gốc chính từ nền văn hiến Việt vào đời Đường Ngu của nền văn hiến Việt, dưới sự trị vì của các vua Hùng với đất nước Văn Lang. Sự Hán hóa đến gần 1000 năm sau, vào đời nhà Đường bên Tàu, các thi nhân gốc Việt mới tìm cách chuyển thể sang tiếng Hán và chữ Hán. nhưng họ không thành công. Thơ thể thất ngôn, bát cú
bằng ngôn ngữ Hán, rất hiếm. Gần như không đạt chuẩn thơ Đường.
Văn như Siêu Quát vô tiền Hán.
Thi tự Thẩm Miên, lạt Thịnh Đường.
Hoàng đế Tự Đức.
Nếu có ai đó phát biểu rằng:
Thời Nghiêu Thuấn (Tức Đường Ngu) tất cả các văn bản còn lại bằng tiếng Tàu, đều nói thuộc về sử Tàu. Ông Thiên Sứ Gàn náy nói láo! Xin lỗi! Tôi delete ngay vì sự ngu xuẩn trong phương pháp nghiên cứu, mà không cần chứng minh phương pháp đó ngu như thế nào…
Văn hiến thiên niên quốc.
Xa thư vạn lý đồ.
Hồng Bàng khai tịch hậu.
Nam phục nhất Đường Ngu.
Bài thơ trong điện Thái Hòa Kinh thành Huế.
MỘT BÀI THƠ KỲ LẠ
Tiếng Việt của chúng ta thật tuyệt vời !
Phải nói là bái phục bài thơ lạ kỳ này. Bài thơ được chia sẻ từ nhà nghiên cứu Dân tộc học và Việt học Đinh Trọng Hiếu ở Paris đăng trên “Khuôn Mặt Văn Nghệ”.
Không biết tác giả là ai, nhưng khi đọc bài thơ này ta vô cùng khâm phục tác giả của bài thơ, càng thêm yêu quý và càng phải giữ gìn vẻ đẹp của tiếng Việt.
Bây giờ ta hãy chiêm ngưỡng vẻ độc đáo của bài thơ này :
1. Bài thơ gốc:
Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.
2. Đọc ngược bài gốc từ dưới lên :
Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.
3. Bỏ 2 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
(Sẽ có một bài ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng) :
Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.
4. Bỏ 2 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta sẽ được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng) :
Mắt ai bóng thướt tha
Đàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.
5. Bỏ 3 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc :
Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.
6. Bỏ 3 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta đọc ngược từ dưới lên :
Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.
7. Bỏ 4 chữ đầu mỗi câu trong bài gốc :
Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Đàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.
8. Bỏ 4 chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, ngược từ dưới lên :
Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta ./.
(Khuyết danh)
Bài này đã được đăng trong Các Đề Tài Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.