HỌ BÀN VỀ CỔ SỬ VIỆT CÓ MỤC ĐÍCH GÌ?

THƯA QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN.
Quý vị và các bạn có thể đọc toàn văn bài viết trên Fb của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, nói về một tài liệu giải mật, trong cuộc gặp kín của Tiến Sĩ Kisshinger và ông Chu Ân Lai, mà tôi chép nguyên văn dưới đây – phần chữ nghiêng – với link nguồn.
Mỗi người có thể đọc nội dung hồ sơ giải mật này với góc nhìn riêng. Nhưng vấn đề được đặt ra, dưới góc nhìn của tôi, là: Một cuộc gặp để mở đầu cho Liên minh Trung Mỹ chống Liên Xô. Nhưng vì sao họ lại nhắc đến cổ sử Việt với nhận xét: dân tộc Việt là một dân tộc anh hùng với một trang sử oanh liệt của Việt sử, là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng từ gần 2000 năm trước? Nếu quả thật họ khâm phục Việt tộc, như đoạn hồ sơ giải mật này mô tả, thì một suy luận hợp lý tối thiểu, là họ đã không gây sự với Việt Nam sau đó, để xảy ra những gập ghềnh của lịch sử ngọai giao hiện đại giữa Việt Nam và hai cường quốc nói trên.
Vậy vào năm 1971, họ nhắc tới cổ sử Việt có mục đích gì?
Với tôi, nếu liên kết và xâu chuỗi mọi hiện tượng và sự kiện hợp lý liên quan, chúng ta sẽ thấy rõ một âm mưu quốc tế, nhằm xóa sổ cội nguồn Việt sử trải gần 5000 văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử.
Vào thời gian đầu của những năm 60 thế kỷ trước, Trưởng ban tình báo CIA của Hoa Kỳ, bên cạnh chính phủ VNCH là William E. Colby đã ra lệnh thành lập một ban chuyên nghiên cứu về lịch sử Việt Nam. Đây là nội dung của một bài báo chính thống đã đăng, Và tôi đã đăng lại nguyên văn trên diễn đàn lyhocdongphuong. org. vn, trong chủ đề: “Sự kiện và chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương”. Bài báo chỉ giới hạn thông tin ngắn ngủi như vậy. Nhưng tôi cho rằng:
Họ đã nhận thấy rằng: Niềm tự hào của dân tộc Việt với cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử là nguyên nhân cốt lõi của ý chí bất khuất, kiên cường trong việc chống ngoại xâm. Nhưng tất nhiên, những nhà nghiên cứu của CIA, đủ khả năng để phát hiện ra rằng: Đó là thời kỳ khuyết sử của Việt tộc, sau hơn 1000 năm Bắc Thuộc và 1000 năm sau đó bên bờ Nam Dương tử. Đó là nguyên nhân để ông Kisshinger trao đổi với ông Chu Ân Lại về vấn đề này. Họ đã giải mật một phần năm chiếc bánh mỳ đen. Họ đã mở đầu câu chuyện này như thế nào kết thúc ra sao…đều bị cắt.
Nhưng xâu chuỗi các hiện tượng tiếp theo ở Việt Nam , là sự xuất hiện phong trào của các nhà nghiên cứu sử học Việt Nam đòi xem xét lại trên “cơ sở khoa học”, cội nguồn Việt sử từ Thời Hùng Vương với niềm tự hào Việt sử 5000 năm văn hiến. Phong trào này mạnh mẽ tới độ, không chỉ các nhà nghiên cứu Sử Việt chuyên ngiệp, mà còn được rất nhiều dư luận viên trong xã hội của những người không chuyên về lịch sự lên tiếng ủng hộ. Tất nhiên, những dư luận viên này, cũng nhân danh khoa học. Sau này, trước khi chết, Phan Huy Lê mới trơ tráo tuyên bố cái “Cơ sở khoa học” của y và băng nhóm, chính là cái định chế nghiên cứu lịch sử Việt: “Không được nghiên cứu Việt sử vượt qúa biên giới Việt Nam hiện đại”.
Trở lại với quá khứ – Vào năm sau đó – 1972 –  khi TT Nixon và Chủ Tịch Trung Quốc là Mao Trạch Đông, gặp nhau ở Tử Cấm Thành, nhậu rượu Mao Đài chính tông với lưỡi chim sẻ, thì sau đó, phong trào phủ nhận cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến ở Việt Nam trở nên quyết liệt. Tất nhiên, điều này chống lại bản văn hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi đó, được thể hiện trong lời nói đầu của bản Hiến Pháp này: “Việt Nam hơn 4000 năm lịch sử”.
Vào năm 1973, một cuộc Hội Thảo khoa học ở cấp quốc gia được tổ chức, với sự hiện diện của Ngài Võ Nguyên Giáp và Trường Chinh. Các bản tham luận của cuộc hội thảo được in thành 4 tập kỷ yếu với tựa là “Hùng Vương Dựng Nước”. Nxb Khoa Học Xã Hội 1973.
Ngày ấy, tôi là gã trẻ trâu mới lớn – 23 tuổi, nghiện ngập thuốc lá và trà Tầu, Lương lậu bao nhiêu cuối tháng trả nợ mấy bà hàng nước bán trà 5 xu hết. Nhưng tính ham đọc sách từ nhỏ, nên đã đọc hết cả  mấy tập kỷ yếu này. Tôi còn nhớ bài phát biểu của ngài Trường Chinh, in ngay trên cuốn I, viết: “Các đồng chí kết luận (Về cội nguồn Việt sử/ Thiên Sứ) vội vã quá”. Nếu quý vị và các bạn đọc được các cuốn Kỷ yếu chính thống in vào thời gian này, sẽ thấy hầu hết các bản tham luận đều bị cắt phần kết luận.
Và theo truyền thuyết, thì ông Phạm Huy Thông – nhà thơ nổi tiếng thời Tiền Chiến – với bài “Tiếng Địch sông Ô”, được đưa vào bộ sách cũng nối tiếng của Hoài Thanh/ Hoài Chân với tựa “Việt Nam thi nhân Tiền Chiến”. Ông còn là một nhà Sử học và là người có quan điểm bảo vệ cội nguồn Việt sử truyền thống. Vào thời gian này, ông giữ chức Viện Trưởng Viện khảo cổ. Truyền thuyết trong dân gian kể rằng: Ông được Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, trao số tiền 10 triệu đồng (Lương tôi hồi đó có khoảng 46 > 49  đồng/ Thiên Sứ). Với số tiền này, ông được phép đi tìm những di vật khảo cổ trên khắp miền Bắc Việt Nam, để chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 văn hiến. Ông bị giết với danh nghĩa thằng cháu ruột ham tiền vào năm 1988.
Quý vị và anh chị em lưu ý:
Cách đây 50 năm trước – với trình độ phát triển của nền văn minh vào thời gian này – thì hầu hết những nhà nghiên cứu lịch sử trong và cả ngoài nước, đều xác định quan điểm “Di vật khảo cổ là bằng chứng khoa học thuyết phục nhất”. Cho đến tận ngày hôm nay, khi tôi đang gõ những hàng chữ này, không ít các nhà khoa học vẫn tin vào điều đó.Vào khoảng năm 2006/ hoặc 2007, bạn tôi – Gs Lưu Đức Hải – Viện Trưởng Viện Quy Hoạch Đô Thị và Nông Thôn Việt Nam, tạo điều kiện cho tôi gặp Giáo Sư Trịnh Sinh, để trao đổi về cội nguồn Việt sử, ngay tại phòng làm việc của bạn tôi. Trong cuộc trao đổi này, Gs Trịnh Sinh cũng đặt vấn đề di vật khảo cổ là bằng chứng khoa học cho một hệ luận lịch sử. Tôi đặt vấn đề trở lại: “Di vật khảo cổ có phải bằng chứng duy nhất chứng minh cho lịch sử không?”. Sau một hồi suy nghĩ, Gs Trịnh Sinh đã trả lời một cách khách quan và rất ngắn gọn “Không!”. Sau cuộc gặp, chúng tôi ra quán bia hơi vỉa hè, nhậu nhòe luôn. Gs Hải làm “khổ chủ” trả tiền bia.
Sở dĩ tôi phải dài dòng văn tự như vậy, để quý vị và anh chị em thấy được rất rõ, tư duy phổ biến vào thời bấy giờ, coi di vật khảo cổ là bằng chứng khoa học cần có, cho một luận điểm lịch sử. Và đó là cái hình thức ngụy trang cho cái “Cơ sở khoa học” của âm mưu xóa sổ cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử.
Quay trở lại với tính liên kết xác định một âm mưu chính trị quốc tế nhằm xóa sổ cội nguồn Việt sử, được quảng cáo là “hầu hết những nhà khoa học trong nước” và “cộng đồng khoa học quốc tế công nhận”. Tôi nhận thấy rằng: Có một sự xâu chuỗi trùng khớp.
Bắt đầu từ ban nghiên cứu Việt sử của CIA ở VNCH> đến cuộc gặp của những nhà lãnh đạo chủ chốt của Trung Mỹ> Ngay sau cuộc gặp này, là phong trào rầm rộ phủ nhận cội nguồn Việt sử vào thời gian sau cuộc gặp gỡ này, có dư luận viên ủng hộ. Xem xét ở góc độ quốc tế, thì thực sự chỉ có hai đồng minh chủ chốt của Hoa Kỳ là Anh/ Pháp đóng góp vào phong trào này. Nổi bật nhất là  nước Pháp, có hai nhân vật tên tuổi là Lê Thành Khôi và Lê Văn Hảo. Lý lịch của họ như thế nào, có thể tìm trên Google. Nước Pháp cũng phong hàm Viện Sĩ Thông tấn cho Phan Huy Lê và Bắc Đẩu bội tinh cho Vũ Minh Giang, làm tăng uy tín học thuật và trọng lượng cho tiếng nói của hai người này > Những nhân vật quan trọng trong việc phủ nhận cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến. Tại Hoa Kỳ có nhà sử học – tên Việt Nam là Lê Phú Khải (Tên tiếng Anh tôi ko nhớ), xuất thân quân báo trong quân đội Hoa Kỳ; và một vài người lặt vặt khác, hùa theo. Vâng! Đấy là “Cộng đồng khoa học thế giới công nhận”.
Cũng chính vì không thể đồng hạng với ông Lê Phú Khải và một nhân vật có tên tuổi trong giới Sử học. Tôi đã từ chối giải Phan Chu Trinh, một thời danh giá ở Việt Nam. Tôi không thể đứng chung trên sân khấu nhận giải và đồng hạng với những người này.
Tính âm mưu chính trị này, nó còn thể hiện một cách lố bịch, khiến cho dân tộc Việt Nam là dân tộc duy nhất trong lịch sử văn minh nhân loại, tự phủ nhận cội nguồn dân tộc của chính mình.
Bên Nhật, một Giáo sư Sử học cũng bày đặt “cơ sở khoa học”, xét lại truyền thuyết “Người Nhật là con cháu của Thái Dương Thần Nữ”. Lập tức về đuổi gà. Nước Nga cũng có một Gs Lịch sử bày đặt phủ nhận cội nguồn Việt sử. Bị khóa mỏ liền. Nga và Nhật không phải đồng minh chủ chốt của Hoa Kỳ.
Cũng may cho tôi. Vào tháng 5, 2003. Cơ quan văn hóa Liên Hợp Quốc UNESCO xác định: “Những di sản văn hóa phi vật thể là bằng chứng khoa học chứng minh cho lịch sử”. Tức không phải di vật khảo cổ là bằng chứng duy nhất.
Sự hoài nghi về một âm mưu chính trị quốc tế phủ nhận cội nguồn Việt sử của tôi đã có từ lâu, khi những cuốn sách chứng minh cho cội nguồn Việt sử của tôi xuất bản rất khó khăn – bắt đầu từ cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, in lần đầu vào năm 2001. Và không chỉ   dừng ở đấy. Còn những lời khuyến cáo mang tính đe dọa, mà tôi chưa tiện nói ra, không chỉ một lần. Đương nhiên, những lời đe dọa truy sát, ám hại không thể là ‘cơ sở khoa học’ để phủ nhận cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến.
Qua sự xâu chuỗi của các vấn đề liên quan, cho nên hồ sơ giải mật trong cuộc gặp giữa ông Chu Ân Lai và Kissinger, bàn về cội nguồn Việt sử – không có bắt đầu và kết thúc – Với tôi là mảnh ghép quan trọng, có tính hệ thống, thể hiện một âm mưu chính trị quốc tế phủ nhận cội nguồn việt sử truyền thống.
Ở đây, tôi muốn xác định quan điểm của tôi rằng:
Mặc dù những kẻ chống lại cội nguồn Việt sử có quyền lực trong học thuật – được đánh bóng tên tuổi – đã dùng quyền lực học thuật và các mối quan hệ ma quỷ của nó, để  đe dọa chống lại tôi rất phi khoa học. Cho nên, tôi chỉ mô tả một âm mưu chính trị quốc tế để mọi người tự suy ngẫm. Tôi không chụp mũ cho ai cả.
Nhưng ở tôi, nhân danh tính chính danh khoa học chứng minh cội nguồn Việt sử, là phương tiện xuyên suốt của tôi. Ở tôi, chân lý là chuẩn mực thẩm định tính khoa học của cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng, để tôi không dây dưa đến chính trị và các nhóm lợi ích. Nó sẽ gây hiểu nhầm về tính khách quan là chuẩn mực của nội hàm khái niệm khoa học.
Tôi cần xác định một cách rõ ràng rằng:
Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử  và là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương cổ, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch. Đây chính là Lý thuyết thống nhất vũ trụ, mà những tri thức tinh hoa của nền văn minh nhân loại hiện đại đang mới chỉ mơ ước. Nó thuộc về một nền văn minh kỳ vĩ đã từng tồn tại trên Địa cầu, mà tôi đặt tên là Atlantic.
Nhân danh một hệ thống lý thuyết vượt trội của nền văn minh Atlantic và là Lý Thuyết Thống Nhất, thì cả nền văn minh này còn chưa đạt được sự hiểu biết so với nó. Đương nhiên, tôi không tranh luận với những kẻ lởm khởm, loại tư duy ve chai lông vịt. bày đặt comment đặt vấn đề đểu, hoặc ngu lâu. Tôi delete liền.
Nếu quả thực những nhà khoa học có trách nhiệm và muốn chân lý được sáng tỏ với một lý thuyết thống nhất vũ trụ, thuộc về một nền văn minh cổ xưa, như lời nhà tiên tri Vanga nói đến, thì công khai Hội thảo khoa học. Nhưng phải là một hội thảo khoa học quy mô, có tinh tranh biện công khai. Tôi không cần huân chương Bắc Đẩu Bội tinh. Mà chỉ có thiện chí làm sáng tỏ chân lý.
PHẦN DƯỚI ĐÂY CÓ NGUỒN TỪ FB TIẾN SĨ NGUYỄN XUÂN DIỆN:
https://www.facebook.com/photo/?fbid=2757307761238844&set=a.1598853723750926
Tài liệu đã giải mật của Nhà trắng:
THỦ TƯỚNG TQ CHU ÂN LAI NÓI VỀ KHÍ PHÁCH HAI BÀ TRƯNG

Tài liệu của Tòa Bạch Ốc (đã được giải mật) ghi thật rõ biên bản cuộc họp kín tại Bắc Kinh ngày 9 tháng 7, 1971 giữa Thủ tướng Chu Ân Lai và Cố vấn Henry Kissinger. Lúc ấy ông Kissinger gặp ông Chu để sắp xếp chuyến viếng thăm của Tổng thống Nixon (tháng 2, 1972).
Thật lạ lùng: trong buổi họp, ông Chu đã xác nhận: “Hai nghìn năm trước Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam… tổ tiên chúng tôi là những người bóc lột nhưng bị đánh bại bởi hai nữ tướng”.
Hành động xâm lăng cũng không dễ, vì ngay từ đầu Trung Quốc đã bị đánh bại, lại bị đánh bại bởi hai nữ tướng.
Nói tới khí phách của con người Việt Nam, ông Chu xác nhận:
“Hai người nữ anh hùng ấy đã đánh bại tổ tiên của chúng tôi là những người bóc lột’ (These two heroines who defeated our ancestors who were exploiters).
Biên bản Tòa Bạch Ốc ghi lại đàm thoạị:
-Thủ tướng Chu: “Việt Nam là một nước anh hùng.”
-TS Kissinger: “Họ là một dân tộc anh hùng, một dân tộc vĩ đại.”
-Thủ tướng Chu: “Họ là một dân tộc vĩ đại, anh hùng và đáng khâm phục. Hai nghìn năm trước Trung quốc đã xâm lược họ, và Trung quốc đã bị đánh bại. Lại bị đánh bại bởi hai người đàn bà, hai nữ tướng.”(Nguyên văn: They are a great and heroic and admirable prople. Two thousand years ago China committed aggression against them, and China was defeated. It was defeated by two ladies, two woman generals).
Ít người, kể cả người Trung Quốc được biết đến câu chuyện là chính Thủ tướng Chu Ân Lai khi sang thăm Việt Nam đã tới Đền thờ Hai Bà Trưng để phúng viếng. Ông Chu nói tiếp.
“Và khi tôi sang Việt Nam với tư cách là đại diện của nước Trung Hoa mới tôi đã đi thăm viếng Hà Nội, tôi đã đích thân đến tận mộ hai nữ tướng ấy và đặt vòng hoa trên những ngôi mộ để tỏ lòng kính trọng của tôi đối với hai vị nữ anh hùng, họ là những người đã đánh bại tổ tiên chúng tôi là những người bóc lột.” (Nguyên văn: And when I went to Vietnam as a representative of New China on a visit on North Vietnam, I went personally to the graves of these two women generals and left wreaths of flowers on the graves to pay my respects for these two heroines who had defeated our ancestors who were exploiters).
BBC Tiếng Việt ra ngày 4.7.2017.
Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Virginia, Hoa Kỳ

Ẩn bớt

 

Bài này đã được đăng trong Các Đề Tài Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.